Giải pháp tăng cường huy động vốn đàu tư trong nước phục vụ phát triển kinh tế việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 18

Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng
cho mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên nh một
vấn đề cấp bách. Đầu t và tăng trởng vốn là một cặp phạm trù của tăng tr-
ởng kinh tế, để thực hiện chiến lợc phát triển nền kinh tế trong giai đoạn
hiện nay ở nớc ta cần đến một lợng vốn lớn.
Vốn cho phát triển kinh tế- xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp
bách trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nớc ta. Đơng nhiên để
duy trì những thành quả đã đạt đợc của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới
vừa qua, giữ vững nhịp độ tăng trởng kinh tế cao, tránh cho đất nớc rơi vào
tình trạng lạc tụt hậu so với nhiều nớc láng giềng trong khu vực và trên
thế giới. Trong giai đoạn hiện nay nớc ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi
nguồn vốn trong nớc từ bản thân nhân dân và việc sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốc doanh. Nguồn nớc ngoài từ ODA, NGO
và từ đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI. Tuy nhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong
nớc là chủ yếu, nguồn vốn trong nớc vừa phong phú vừa chủ động nằm
trong tầm tay. Nguồn trong nớc vừa là tiền đề vừa là điều kiện để đón các
nguồn vốn từ nớc ngoài. Nguồn vốn nớc ngoài sẽ không huy động đợc
nhiều và sử dụng có hiệu quả khi thiếu nguồn vốn bạn hàng trong nớc.
Mặc dù điều kiện quốc tế thuận lợi đã mở ra những khả năng to lớn để
huy động nguồn vốn từ bên ngoài, nhng nguồn vốn ở trong nớc đợc xem là
quyết định cho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kịnh tế.
Qua nghiên cứu thực tế, và với cơ sở kiến thức đã tích luỹ đợc trong
thời gian qua em nhận thấy tầm quan trọng của việc huy động nguồn vốn
đầu t trong nớc phục vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện
nay. Cũng nh xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề này, em chọn đề tài:
Những biện pháp cơ bản để tăng cờng huy động vốn đầu t trong nớc
phục vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung của đề tài này bao gồm các nội dung sau:
Phần I: Cơ sở phơng pháp luận để huy động nguồn vốn.
PHầN II: Thực trạng huy động vốn trong nớc trong thời gian qua ở

kinh tế là hai con số trong vài thập niên tới thì cần thì tỷ lệ tích luỹ vốn phải
lên tới trên 30% GDP. Đây là một nhu cầu lớn cần phải giải quyết để khai
thác nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trong nớc.
Vốn ngân sách nhà nớc một thời gian giảm xuống nay đã bắt đầu tăng
lên. năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đã tăng lên là 44% ngân sách. Để
đạt đợc kết quả đó thì nguyên nhân cơ bản là chính sách thuế đã đợc cải
cách một cách toàn diện và thu đợc nhiều kết quả cho ngân sách. Năm1990
thu ngân sách từ thuế phí chiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó là 93,8%.
Nếu so với GDP thì các tỷ trọng tơng tự là 17,3% và 17,06% vốn huy động
từ các nguồn khác cũng có xu hớng tăng do chính sách khuyến khích đầu t,
t nhân và tạo dựng đợc môi trờng đầu t cho mọi thành phần kinh tế phát
triển. Điều mà ai cũng có thể đồng ý với nhau là một nền kinh tế kém phát
triển có thể cất cánh đợc nếu không có sự tham gia của các nguồn vốn từ n-
ớc ngoài. Vai trò của nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa quan trọng nhằm hỗ
trợ khai thông những cản ngại, tạo sức bật cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy
chúng ta nên nỗ lực huy động nguồn vốn từ bên ngoài dới nhiều hình thức
khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không nên trông chờ và ỷ lại vào nguồn vốn
từ bên ngoài. Trong việc huy động vốn để đầu t phát triển, chúng ta cần
phải khẳng định vai trò của nguồn vốn trong nớc đóng vai trò quan trọng
hay quyết định. Mặc dù nguồn vốn này còn thấp so với vốn dài hạn ( cho
thời kỳ 1996- 2000) vẫn còn khó huy động trong hiện tại. Theo ý kiến của
các chuyên gia trong và ngoài nớc , cùng với kinh nghiệm của các nớc đang
phát triển cho thấy: Nguồn vốn trong nớc vẫn là nguồn vốn có tính chất
quyết định, ngời dân trong nớc vẫn cha dám bỏ vốn ra đầu t thì ngời nớc
ngoài cũng cha mạnh dạn bỏ vốn dầu t vào Việt nam.
Vấn đề đặt ra là không phải tìm mọi cách để huy động cho đợc các
nguồn vốn, mà phải coi trọng việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy cho
đầu t phát triển sao cho có hiệu quả để nguồn vốn ấy sinh sôi nảy nở và
đạt đợc chiến lợc hiệu quả kinh tế - xã hội đề ra.
Đầu t phát triển phải đảm bảo đợc các yêu cầu sau:

- Vốn đầu t trực tiếp
- Vốn đầu t gián tiếp
- Vốn hỗ trợ và phát triển chính thức.
II/ Các bộ phận cấu thành vốn trong nớc.
1/ Vốn huy động từ ngân sách nhà nớc
Là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lợng đầu t, nó có vị trí rất
quan trọng trong việc tạo ra môi trờng đầu t thuận lợi nhằm thúc đẩy mạnh
đầu t của mọi thành phần kinh tế theo định hớng chung của kế hoạch.
Chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một
số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đảm bảo theo đúng định hớng của
chiến lợc và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nớc và nguồn thu bổ sung
từ bên ngoài, chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một số ít là vay nợ của
t nhân nớc ngoài. Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà nớc
cần có những sửa đổi trong chính sách đầu t.
Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc:là các nguồn tàI
chính có khả nămg tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nớc do kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh trong nớc mang lại.
-Nguồn thu đợc hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất.
-Nguồn thu đợc thực hiện trong khâu lu thông-phân phối.
-Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
Thu ngân sách nhà nớc bao gồm các khoản:
-Thuế ,phí và lệ phí.
-Thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nớc.
-Thu lợi tức cổ phần của Nhà nớc.
-Các khoản thu khác theo luật định.
Trong các khoản thu trên, thuế là khoản thu quan trọng nhất. Thuế không
chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nớc hàng năm mà
còn là công cụ của Nhà nớc để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách nhà nớc không ngừng tăng lên qua

trong chừng mực tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu chi của Nhà nớc. Đối với
những ngành , những địa phơng có thất thu lớn thì cần tăng cờng thu và tận
thu, nhng quan điểm bao trùm thì không phải là tận thu-Vì điều đó sẽ ảnh
hởng đến khả năng tăng trởng của nền kinh tế.
+ Cải tiến các hệ thống thuế, làm cho diện thu thuế tăng lên, nhng thuế
xuất đơn giản hoá. Kết quả là: giảm đợc tỷ lệ trốn lậu thuế, tăng nguồn thu
cho ngân sách, đáp ứng đợc nhu cầu chi thờng xuyên và chi cho đầu t phát
triển, đồng thời tránh đợc các khoản lạm thu, gây khó khăn phiền hà đến
sinh hoạt và các hoạt động khác của đời sống dân c.
+ Quản lý tốt vấn đề nợ, đảm bảo đúng đối tợng trả nợ và tính kỹ các
điều kiện trả trớc khi ký hợp định khung vay vốn, và hiệp định vay cho từng
công trình, chơng trình dự án đầu t.
Các chính sách về ngân sách nhằm huy động vốn dàI hạn cho phát triển
kinh tế -xã hội cần thờng xuyên đổi mới cảI tiến các hình thức huy động,
đặc biệt là hệ thống thuế.
- Phân bổ và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc
+ Tăng quy mô đầu t từ ngân sách nhà nớc và sử dụng đúng hớng nguồn
vốn này với biện pháp bao chùm là chống thất thu và tiết kiệm chi thờng
xuyên để tăng quy mô nguồn đầu t từ ngân sách nhà nớc.
+ Từng bớc xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấp phát quản
lý đầu t xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nớc.
+ Tăng cờng công tác quản lý sau dự án. Những dự án này dùng nguồn
vốn nhà nớc thờng có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việc thẩm định các dự
án là tơng đối chặt chẽ thì trái lại việc quản lý sau dự án lại bị buông lỏng
dẫn đến tình trạng chi tiết trên danh nghĩa nhng lại lãng phí trên thực tế. Sử
dụng nhiều cơ chế khác nhau để quản lý vốn, với nguồn vốn nhà nớc đợc
thông qua vay nớc ngoài với điều kiện u đãi thì tiến hành cho vay lại để tạo
điều kiện bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và tái tạo nguồn vốn. Tiết
kiệm trong chi tiêu ngân sách hiện vẫn là một khả năng rất lớn cần tận
dụng, bởi lẽ so với các nớc tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách

- Hiện nay nguồn tích luỹ của các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Bởi lẽ
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả còn thấp, công nghệ cha đ-
ợc đổi mới, chất lợng của sản phẩm cha cao, nên khả năng tiết kiệm cho
đầu t cha nhiều. Mặt khác vốn khấu hao cha đợc quản lý nghiêm ngặt và
khấu hao đủ. Vì vậy để huy động đợc nguồn vốn lớn trong doand nghiệp
nhà nớc thì đòi hỏi nhà nớc phải tiến hành sửa đổi và ban hành các chính
sách để khuyến khích doanh nghiệp làm ăn có hiệu , để có thể đầu t phát
triên sản xuất.
- Trong giai đoan 1996- 2000 vốn của doanh nghiệp nhà nớc tự đầu t
khoảng14-15% tổng số của toàn xã hội. Mở rộng quyến tự chủ của các
doanh nghiệp theo hớng cơ cấu lại vốn sản xuất và tài sản của doanh
nghiệp một cách hợp lý, tính đầy đủ giá trị quyền sử đất vào vốn vào tài
sản tại doanh nghiệp.
3/ Nguồn vốn huy động từ trong dân c:
Theo ớc tính của các chuyên gia về kinh tế tài chính nguồn vốn trong
dân c có khoảng 6 tỷ USD đợc sử dụng qua điều tra của bộ kế hoach kế
hoạch đầu t và tổng cục thống kê nh sau:
- 44% để dành của dân là dùng để mua vàng và ngoại tệ
- 20% để dành của dân đợc dùng để mua nhà đất và cải thiện đời sống
sinh hoạt.
- Tuy nhà nớc cho phép các doanh nghiệp nhà nớc huy động vốn từ
trong dân với nhiều chính sách khác nhau, khi thực tế áp dụng còn nhiều
ràng buộc. Để tăng cờng sử dụng nguồn vốn của nhân dân hay vốn ngoài
vùng ngân sách thì cần phải có chính sách khuyến khích phát triển sản
xuất, thực hành tiết kiệm, làm giàu chính đáng tạo lòng tin cho nhân dân
yên tâm bỏ vốn ra đầu t, tiềm lực trong nhân dân còn rất rất lớn, muốn vậy
nhà nớc phải ổn dịnh tiền tệ.
Vốn đầu t của t nhân và dân c có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
phát triển nông nghiệp, mở mang ngành nghề ở nông thôn phát triển công
nghiệp thủ công, thơng mại , dịch vụ, vận tảiVì vậy chúng ta cần phải

công nghệ mũi nhọn, các ngành sử dụng nhiều lao độngvà những dự án
khai thác tài nguyên có số vốn khổng lồ. Mở rộng thị trờng hối đoái bằng
cách cho phép nhiều ngân hàng thơng mại có đủ điều kiện về vốn và nghiệp
vụ, đợc kinh doanh ngoại hối và thực hiện dịch vụ thanh toán ngoại thơong
nhanh chóng, thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nớc .
Tóm lại, việc kết hợp giữa khơi trong và hút ngoài;giữa vốn tập
trung của Nhà nớc và vốn doanh nghiệp (có đợc từ mọi nguồn )theo một
định hớng đầu t đúng đắn trong một cơ chế hoạt động tài chính thích hợp
với tong giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta là
yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài
chính quốc gia, đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bớc chuyển biến có ý
nghĩa cơ bản của công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế.
II/ Vai trò của vốn trong nớc với phát triển kinh
tế và ý nghĩa của vấn đề huy động vốn trong nớc.
1/ Vốn trong nớc với vấn đề đáp ứng nhu cầu của đẩu t cho phát triển
kinh tế.
- Chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá có tính kế hoạch nhiều
thành phần , định hớng XHCX nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của
xã hội, khai thác và sử dụng có tiềm năng vốn của đất nớc đã đặt nền kinh
tế nớc ta đến một loạt các mâu thuẫn lớn cần giải quyết cấp bách. Trong đó
có mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu t và nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu ấy.
Việc đánh giá đúng nguồn vốn và việc sử dụng nó trong thời gan vừa qua
nó cho chúng ta những cơ sở để tạo ra chiến lợc tạo vốn nhằm khai thác mọi
tiềm năng về vốn và định hớng chính sách sử dụng nguồn vốn có hiệu
- Đối với việc huy động vồn trong nớc thì đây chính là nguồn vốn đóng
vai trò quan trọng, quyết định. Trong khi đất nớc nghèo nàn, khả năng tích
luỹ còn thấp thì tiết kiệm những phần chi tiêu không mang lạI hiệu quả thì
nó không những là quốc sách mà chúng ta cần có các giảI pháp để hoàn
thiện dần; Nhà nớc , các doanh nghiệp, hộ gia dình, các tổ chứ tài chính
Phải gắn tiết kiệm với tích luỹ trong sự tác động của các các nhân tố kích

dợc tăng từ 5300 tỷ đồng năm 1990 lên trên 24000 tỷ đồng, chiếm 35,5%
tổng đầu t xã hội . Sang kế hoạch 1996- 2000 lợng vốn dự báo cần cho đầu
t phát triển khoảng 41- 43 tỷ USD trong đó thì 50% từ nguồn vốn trong nớc.
Phần vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc dự kiến chỉ chiếm 12,6%, do đó phải
đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c, khuyến khích các
doanh nghiệp nhà nớc và các doanh nghiệp khác tự bỏ vốn ra hoạt động sản
xuất kinh doanh. Trớc yêu cầu mới, vấn đề huy động và sử dụng vốn vẫn
đang gặp nhiều khó khăn phức tạp cần phải khắc phục. Ngân sách nhà nớc
luôn ở trong tình trạng căng thẳng, không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu
t phát triển. Đầu t của nhà nớc bị phân tán do phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ,
các nguồn thu từ thuế, các khoản lệ phí, dịch vụ công cộng còn nhiều thất
thoát và lãng phí. Số vốn huy động đợc thông qua tín dụng chủ yếu là vốn
vay ngắn hạn không đáp ứng đợc nhu cầu đầu t phát triển và chuyển đổi cơ
cấu sản xuất. Vốn đầu t trực tiếp từ khu vực t nhân hãy còn chiếm tỷ lệ nhỏ
tập trung chủ yếu (80%) vào các lĩnh vực thơng mại dịch vụ, phục vụ tiêu
dùng. Một bộ phận không nhỏ nguồn vốn huy động ở trong nớc còn đang
nằm ở ngân hàng thơng mại đang bị ứ đọng không trở thành nguồn vốn đầu
t đợc.
Theo các ý kiến dự báo thì khoảng 50- 70 nghìn tỷ đồng của nhân dân
đang cất giữ dới dạng tiền mặt, ngoạI tệ, tàI sản có giá trị caoCha chuyển
đợc thành nguồn vốn đầu t và kinh doanh. Khoản tiền kiều hối hàng năm
gửi về nớc khoảng từ 0,6- 1 tỷ USD cha đợc khai thác và sử dụng hợp lý.
Nguyên nhân của các yếu kém trên là do:
- Trình độ phát triển kinh tế của nớc ta vẫn còn thấp, mức độ tiền tệ
hoá nền kinh tế và các quan hệ tài chính tiền tệ mới ở giai đoạn đầu của sự
phát triển, mức độ phân tán ở trong nớc vừa nhỏ vừa phân tán.
- Cơ cấu sản xuất nói chung kém hiệu quả, sau hơn 10 năm đổi mới
cầu về những sản phẩm truyền thống gần nh đã bão hoà cần phải thay bằng
những sản phẩm mới có chất lợng và hình thức cao hơn.
- Chính sách quản lý vĩ mô cha hoàn thiện và đồng bộ, cha khuyến

đầu t trong nớc.
Trong 3 năm (1996- 1998) tổng mức vốn đầu t toàn xã hội thực hiện
là253,614 tỷ đồng tơng đơng khoảng 20- 21 tỷ USD. So với mục tiêu toàn
xã hội của kế hoạch 5 năm 1996- 2000 là 41- 42 tỷ USD thì 3 năm1996-
1998 đã thực hiện đợc khoảng 40- 50%.
Nguồn vốn đầu t huy động toàn xã hội ngày càng tăng so với GDP.
Naawm 1989 chỉ đạt 8-9% GDP, thì đến năm 1991 đạt 15,22%, năm 1993
đạt 21%, năm 1995 đạt 26,3%, năm 1996 đạt 26,9% , nawm 1997 đạt
27,5% và năm 1998 đạt28,2%.
Nguồn vốn đầu t toàn xã hội ngày càng đa dạng hoá, hình thức huy
động đợc huy động qua nhiều kênh nh vốn ngân sách nhà nớc, phát hành
tráI phiếu công trình. Hiện nay hình thức cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nớc để tái đầu t hoặc đầu t xây dựng mới đang đợc mở rộng. Hình thức
doanh nghiệp tự vay vốn của nớc ngoào để đầu t có sự bảo lãnh của nhà nớc
cũng đã đợc mở rộng và hoàn thiện dần. Những năm gần đay đã triển khai
nhiều dự án đầu t theo hình thức BOT ( xây dựng- chuyển giao- kinh
doanh), BTO ( xây dựng kinh doanh- chuyển giao). Đối tợng sử dụng
vốn đầu t đã có sự thay đổi căn bản, theo hớng xoá bỏ dần bao cấp.
Vốn đầu t từ nguồn ngoài quốc doanh cos tốc độ tăng trởng rõ rệt và
ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng vốn đầu t toàn xã hội.
Nguồn vốn này chủi yếu tập trung trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, nhà
đất, khách sạn nhà hàng
Vốn đầu t thực hiện toàn xã hội 1996- 1998
Nguồn vốn huy
động
1996 1997 1998 1996- 1998
Tỷ
đồng
% Tỷ
đồng

16,2
33,9
3,49
85000
39000
20000
13500
26000
-
100
45,9
23,5
15,9
30,6
3,6
253614
107614
63733
43843
83200
-
100
42,43
25,19
17,28
32,80
-
Để đảm bảo đầu t đúng định hớng, phù hợp với quy hoạch phát triển
kinh tế của vùng, lãnh thổ, nâng cao sử dụng vốn tín dụng đầu t u đãi, cần
đổi mới cơ chế quản lý và chính sách đầu t theo chơng trình dự án. Tất cả

phí cho quan sự thấp, chi phí sử dụng nguồn vốn thấp và khống chế đợc
mức chi tiêu công cộng ở mức thấp.
2/ Kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cách từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đã duy
trì đợc tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh. Bình quân tốc độ tăng GDP hàng
năm là 9% cao hơn rất nhiều so tốc độ tăng bình quân của thế giới. Trong
cùng thời gian công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến có tốc độ tăng
trên 20% năm, dịch vụ tăng trên 14%/ năm. Tốc độ tăng trởng kinh tế
nhanh đã giúp cho Hàn Quốc giải quyết đợc nhiều vấn đề nh giảm thất
nghiệp, giảm tỷ lệ nghèo đói, giảm mức chênh lệch về thu nhập giữa nông
thôn và thành thị.
- Tài trợ cho các nhu cầu đầu t trớc tình hình kinh tế trong nớc kém
phất triển, nguồn tích luỹ từ nội bộ ít, nguồn tài trợ bên ngoài giảm sút
chính phủ đã khuyến khích đầu t làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong
công nghiệp, khuyến khích đầu t nớc ngoài, khuyến khích du nhập công
nghệ kỹ thuật mới.
- Sử dụng công cụ thuế và tăng cờng tiết kiệm của chính phủ, sử dụng
công cụ thuế nh một công cụ kích thích đầu t, tăng cờng sử dụng chính sách
lãi suất thấp, chính phủ đa ra các điều kiện để hoàn lại vốn và trả lãi cho các
nhà đầu t. Để tập trung vốn cho phát triển các ngành mũi nhọn.
3/ Kinh nghiệm ở Anh.
Học thuyết Mác đã nhận định là sự tích luỹ t bản nguyên thuỷ nhất
thiết phải diễn ra trớc khi có sự phát triển kinh tế. Cơ sở thực tiễn của học
thuyết này bắt nguồn từ thực tiễn kinh nghiệm phát triển kinh tế của nớc
Anh, nơi mà buôn bán, bóc lột thuộc địa và một số hình thức khác đã tạo
cho nớc Anh có đợc nguồn vốn tích luỹ khổng lồ. Đến cuối thế kỷ XIIX
nguồn vốn tích luỹ của nớc Anh biến thành t bản đầu t vào công nghiệp. Từ
thực tiễn đó cho thấy, trớc cách mạng công nghiệp nớc Anh đã trải qua chủ
nghĩa t bản thơng mại hàng thế kỷ. Nh vậy thì con đờng và giải pháp cơ bản

mang nặng tính tập trung , quan liêu, bao cấp cho nên cha tạo ra động lực
kinh doanh phát triển. Chính Phủ tiến hành đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền
cũ lấy một đồng tiền mới, mỗi ngời dân chỉ đợc đổi ở một mức độ giới hạn,
nếu vợt qua giới hạn thì bị giữ lại ở ngân hàng một thời gian khá dài sau đó
mới đợc rút ra. Bằng việc đổi tiền sẽ hy vọng sớm cải thiện đợc cán cân tiền
tệ trong nền kinh tế. Tuy nhiên biện pháp này chỉ cắt giảm đợc lợng tiền
tích trữ ngoài sổ sách của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế quốc
doanh còn trong khu vực t nhân và trong nhân dân kết quả thu đợc rất hạn
chế vì phần lớn tiền tồn tại dới dạng vàng và đô la Mỹ. Sau khi tiến hành
đổi tiền mặt thì các doanh nghiệp quốc doanh gàn nh bị tê liệt, gây nên tình
trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này buộc Chính
phủ phải phát hành tiền để duy trì sự hoạt động cho các doanh nghiệp quốc
doanh và vì vậy làm tăng thêm mức độ lạm phát. Trong khi đó:
- Công suất sử dụng thực tế máy móc thiết bị thấp, chỉ đạt 30%, riêng
ngành cơ khí đạt 20% công suất thiết kế.
- Chi phí năng lợng để làm ra một sản phẩm cao hơn so với tiêu chuẩn
tiên tiến của thế giới từ 1,5- 2 lần.
- Chất lợng sản phẩm thấp, so với tiêu chuẩn xuất khẩu chỉ đạt 15%.
Sản phẩm sản xuất ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
- Tình trạng thua lỗ của các xí nghiệp khá phổ biến, gần 30% trong số
1695 xí nghiệp quốc doanh trung ơng và 40% trong số 10389 xí nghiệp
quốc doanh địa phơng hoạt động bị lỗ vốn.
Nguyên nhân của việc sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả là do quản lý
và sử dụng vốn theo cơ chế quan niêu bao cấp, thể hiện:
- Lãng phí vốn do bao cấp và bao cấp tín dụng thể hiện:
+Tỷ trọng vốn đầu t cho thiết bị quá thấp, công nghệ lạc hậu và không
đồng bộ.
+ Chi phí quá lớn, 1 đồng vốn bỏ ra chỉ có 0,54 đồng chuyển thành tài
sản cố định.
- Đầu t tràn lan thiếu trọng điểm, không tính toán rõ hiệu quả đầu t.

mặt bằng giá cả năm 1995) tơng đơng với khoảng 35 tỷ đô la. Trong đó vốn
bình quân trong nớc chiếm trung bình từ 52- 53%. Năm 1998 tổng vốn đầu
t phát triển đạt 9200 tỷ đồng, kế hoạch năm 1999 là 120.000 tỷ đồng. Muốn
đạt đợc kế hoạch đã đề ra thì nhà nớc nên ấn định mức lãi suất cao để hấp
dãn ngời gửi. Trên thực tế việc áp dụng biện pháp này bớc đầu đã mang lại
một số kết quả khả quan đặc biệt là số ngời gửi tiết kiệm ngày càng gia tăng
cả về quy mô và khối lợng.
II/ Hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong nớc trong
thời gian qua .
1/ Trong lĩnh vực nông nghiệp.
Sự tăng trởng của nền kinh tế có đợc nh trên là do hầu hết các ngành
và các lĩnh vực kinh tế chủ yếu đã đạt đợc những thành tựu rõ nét và tơng
đối đồng bộ. Nông nghiệp là một trong những ngành đạt đợc thành tựu nhất
trong những năm đổi mới nền kinh tế nói chung và trong những năm 1991-
1997 nói riêng. Sự phát triển của ngành nông nghiệp là tơng đối ổn định và
vững chắc đặc biệt là ngành sản xuất lơng thực. Mức độ huy động và sử
dụng vốn nông nghiệp hãy còn phụ thuộc vào các chính sách của Nhà nớc
đối với nông nghiệp. Khu vực nông nghiệp là khu vực ít chịu ảnh hởng của
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á nên sản xuất gia tăng, quy mô
gia tăng đồng đều qua các năm. Nguyên nhân chủ yếu làm cho ngành nông
nghiệp tiếp tục gia tăng là do các chính sách của Chính phủ khuyến khích
phát triển nông nghiệp nên sản lơng thực tăng đều qua các năm nh sau:
Năm 1995 đạt 27,4 triệu tấn, năm 1996 đạt 29,2 triệu tấn, năm 1997 đạt
30,6 triệu tấn, năm 1998 đạt 31,5 triệu tấn ớc đến năm 1999 đạt 33,8 triệu
tấn.
2/ Trong lĩnh vực công nghiệp.
Trong những năm gần đây sản xuất công nghiệp đã dần thích ứng với
cơ chế quản lý mới và đang đi vào thế phát triển ổn định. Sự phát triển giữa
các ngành các khu vực và các loại sản phẩm công nghiệp tuy ở mức độ khác
nhau nhng nhìn chung xu hớng tăng tơng đối rõ nét. Công nghiệp ngoài

cơ hội của việc giữ tiền tăng nhng nó lại phản ánh đúng thực tế ở việt nam
trong thời gian qua. Nh vậy có thể nói trong mấy năm qua tỷ lệ tiết kiệm
của nớc ta tăng nhanh nhờ chủ yếu vào tốc độ tăng trởng cao của nền kinh
tế và cả sự ổn định của nền kinh tế và phần nào vào chính chính sách lãi
suất thực dơng hợp lý của Nhà nớc ta. Mặc dù tiết kiệm tăng nhanh nhng nó
vẫn không đủ khả năng cung cấp đủ nguồn vốn cho đầu t vào sản xuất.
+ Giá cả tác động đến tiết kiệm. Về mặt lý thuyết khi giá cả tăng thì
tiết kiệm sẽ giảm, thì việc ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát có tác động
to lớn đến khả năng huy động nguồn vốn nội địa.
+ Tác động của bản thân cầu về đầu t tới tiết kiệm.
- Các biện pháp kích thích đầu t.
+ Quan hệ giữa công cụ lãi suất và đầu t: Thông thờng các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng, thờng vay vốn từ thị trờng vốn để mua
hàng hoá đầu t, lãi suất cho các khoản vay đó càng cao, thì lợi nhuận dự
kiến của doanh nghiệp thu đợc từ các khoản vay đó càng giảm.
+ Quan hệ giữa thu nhập và đầu t: Khi tăng nhu cầu về đầu t thì thu
nhập cũng sẽ tăng lên.
+ Hàm xác định đầu t t nhân: Đầu t t nhân đợc tính bằng hiệu số của
tổng đầu t và đầu t Nhà nớc.
+ ảnh hởng của công cụ tỷ giá: Tỷ giá ảnh hởng trực tiếp đến cán cân
thơng mại. Về lý thuyết khi đồng tiền trong nớc mất giá tơng đối so với tiền
nớc ngoài thì xuất khẩu có lợi và ngợc lại.
- Chính sách khơi thông, chuyển tiền tiết kiệm thành đầu t.
+ Tự đầu t: Ngời tiết kiệm đồng thời là chủ đầu t hoặc có quan hệ gắn
bó, thân thuộc với chủ đầu t. Việc tiết kiệm chuyển thành đầu t theo kênh
này chủ yếu do tác động của cầu kéo, cầu về đầu t gia tăng sẽ kích thích ng-
ời đầu t gia tăng tiết kiệm, hoặc tìm cách huy động vốn đầu t của bạn bè ,
gia đình để đầu t sản xuất.
+ Qua ngân sách: Là một kênh hết sức quan trọng đối với nền kinh tế
chuyển đổi, là một bộ phận trong toàn bộ kế hoạch đầu t, nó có vị trí hàng

10,5- 11 tỷ USD. Trong tổng số vốn đầu t đó thì 50% đợc lấy từ nguồn vốn
trong nớc còn lại là nguồn vốn ngoài nớc, so với nhu cầu phát triển vốn đầu
t thì số vốn trên còn hạn hẹp, do vậy hớng sử dụng vốn trong thời gian tới:
Chính phủ sẽ tập trung vào lĩnh vực mà t nhân không làm đợc, đặc biệt là
các hạng mục đầu t cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân
lực. Đầu t các hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp chủ yếu là các hoạt
động của các doanh nghiệp.
Vốn đầu t trong 5 năm 1996- 2000 sẽ đợc tập trung với mức độ tơng
đối lớn vào ba vùng kinh tế trọng điểm: Bắc- Trung- Nam. Nhằm tạo ra các
động lực thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế chung của đất nớc, đồng thời đặc
biệt coi trọng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội miền núi và dành một phần
lớn để giải quyết các vấn đề bức xúc của vùng kinh tế khác. Trong mỗi
vùng mỗi địa phơng cũng sẽ đầu t cho ccác vùng kinh tế trọng điểm nhằm
tạo ra các cực tăng trởng kinh tế cho các vùng, từng địa phơng.
Những khó khăn về xây dựng kinh tế xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch
vụ, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất có thể khắc phục nhanh các hạn
chế nếu có đủ vốn đầu t. ở nớc ta hiện nay đang gặp phải một số khó khăn
trong công tác huy động nguồn vốn trong nớc. Trong những năm trớc đây
nguồn vốn cho xây dựng cơ bản đợc lấy từ nguồn ngân sách nhà nớc và một
phần khấu hao cơ bản để lại cho các doanh nghiệp, các nguồn vốn khác hầu
nh không đáng kể. Trong những năm gần đây việc huy động nguồn vốn cho
xây dựng cơ bản không phải chỉ có nhà nớc đầu t mà nó đợc huy động từ
nhiều nguồn vốn khác nhau. Đây là sự chuyển biến nổi bật trong tạo nguồn
vốn. Tuy nhiên, theo tính toán sơ bộ thì vốn đầu t trong nớc mới chỉ chiếm
trên 20% GDP. Nếu so với một số nớc NICs thì tỷ lệ đầu t này là rất thấp.
Hiện nay cũng nh một vài năm tới việc huy động vốn đầu t cao hơn so
với giai đoạn hiện nay là rất khó khăn vì nguồn tích luỹ ở trong nớc còn nhỏ
bé, năng suất lao động xã hội thấp.
Nguồn vốn đầu t từ bên ngoài cũng gặp những khó khăn vì hầu hết các
nớc đang đầu t vào Việt nam lại là những nớc đang có chiến lợc thu hút vốn

giảm đi một cách hợp lý, là biện pháp tiết kiệm ngoại tệ cho nớc nhà.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status