thực trạng và các biện pháp xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học trên địa bàn huyện tân uyên - Pdf 18

PHẦN MỞ ®Çu
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội
nhập quốc tế, nguồn lực con người quyết định sự thành công của công cuộc phát
triển đất nước, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội. Phát triển giáo
dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò đặc biệt quan trọng. Những năm qua, sự
nghiệp giáo dục đã có những phát triển mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ
trong việc mở rộng quy mô, tăng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người. Bên
cạnh đó, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng cơ bản yêu
cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần vào thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển giáo dục của
nước ta còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, công tác quản lý giáo
dục còn kém hiệu quả.
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020 yêu cầu đổi
mới mạnh mẽ chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy giáo dục, phương
pháp quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện. Nhất là trong
giai đoạn hiện nay, chúng ta đang thực hiện dạy học theo đối tượng, vùng miền
đối với các cấp học, bậc học, triển khai đề án phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ
em 5 tuổi đòi hỏi phải ta thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm tăng cường các
điều kiện đảm bảo về chất lượng quản lý, giáo viên, về cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học, về tài chính Trong đó công tác quản lý giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt,
có tác dụng quyết định thành công của sự nghiệp giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy “Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Trong quá
trình thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục được xem là “khâu đột
phá” mở đầu cho việc triển khai những chủ trương và giải pháp được quyết định.
Tân Uyên là huyện miền núi có địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, tỷ
lệ dân tộc thiểu số chiếm 85%; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo chiếm 41.9%, điều này đã

Trước thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các đơn vị trường học còn nhiều
hạn chế, tôi nghiên cứu đề tài "Thực trạng và các biện pháp xây dựng, phát
triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học" để tìm hiểu
nguyên nhân hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý và kịp thời đề xuất những giải
pháp thiết thực, sát thực tế, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội địa phương và
điều kiện của các đơn vị trường học.
4. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực trạng đội ngũ giúp cho các cấp quản lý giáo dục, cá nhân
cán bộ quản lý trường học nhìn nhận được những ưu điểm, tồn tại, từ đó xây dựng
kế hoạch đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo góp phần thực hiện thắng lợi chủ đề
năm học "Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục".
- Có chiến lược, tầm nhìn về công tác cán bộ, đáp ứng được yêu cầu đổi
mới giáo dục hiện nay. Từ đó, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ.
- Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác cán bộ, nhất
là đối với người đứng đầu đơn vị trường học nhằm đổi mới và nâng cao chất
lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
2
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Căn cứ pháp lý
Kết luận số 242-TB/T.Ư ngày 15/4 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực
hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và
đào tạo đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Nguyên nhân của những yếu kém bất cập trước
hết là do yếu tố chủ quan, trình độ quản lý giáo dục chưa theo kịp với thực tiễn và
nhu cầu phát triển khi nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa phối hợp tốt
và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội; chậm đổi mới cả tư
duy và phương thức quản lý Năng lực của cán bộ quản lý giáo dục các cấp chưa

tượng quản lý ở đây là cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường.
3
b. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt
động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo
dục.Thực chất của quản lý quá trình dạy học, giáo dục là: Tổ chức chỉ đạo, điều hành,
việc dạy của thầy và hoạt động của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật
chất, kỹ thuật, thiết bị cho dạy và học, nhằm đạt được mục đích giáo dục đào tạo.
2.2. Vị trí, nhiệm vụ của cán bộ quản lý
Hiệu trưởng là người được Nhà nước bổ nhiệm, có trách nhiệm và thẩm
quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong nhà trường; chịu trách nhiệm
trước cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức chỉ đạo, điều hành toàn bộ các hoạt động
của nhà trường để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục đặt ra. Hiệu trưởng
có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường; Thực
hiện các quyết nghị của Hội đồng trường; Xây dựng quy hoạch phát triển nhà
trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh
giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền; Thành lập
các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ
nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có
thẩm quyền quyết định; Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân
công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác
khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng; ký hợp
đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo giáo viên, nhân viên theo quy định của
Nhà nước; Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức;
xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, xác nhận hoàn
thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có
nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh; Quản lý tài chính, tài
sản của nhà trường; Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo
viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của
nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường; Chỉ đạo thực

chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý, giảng dạy.
b. Chất lượng giáo dục
- Chất lượng giáo dục Mầm non: Tỷ lệ bé khoẻ, bé ngoan, bé sạch, bé
chăm đạt 92% trở lên; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 15%.
- Chất lượng giáo dục phổ thông:
+ Về học lực: Chất lượng giáo dục đại trà tương đối ổn định: Tỷ lệ lên lớp
hàng năm đạt từ 98% trở lên; học sinh xếp loại học lực khá, khá giỏi từ 35-42%, tỷ lệ
học sinh tốt nghiệp tiểu học từ 98- 100%, trung học cơ sở từ 99- 100%. Giáo dục mũi
nhọn được quan tâm, số học sinh thi đỗ vào trường Trung học phổ thông Chuyên
của tỉnh, số học sinh đạt giải cấp khu vực, cấp tỉnh tăng hàng năm. Công tác phổ cập
giáo dục (PCGD) và công tác nâng cao chất lượng giáo dục được đẩy mạnh.
+ Về hạnh kiểm: Năm học 2010-2011 tỷ lệ học sinh được xếp loại hạnh
kiểm khá, tốt chiếm trên 88-90%, không có học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu. Điều
đó chứng tỏ các đơn vị trường đã quan tâm đến giáo dục đạo đức, tăng cường hoạt
động đoàn, đội thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để thu hút học
sinh. Bên cạnh đó, các trường đã quan tâm đến giáo dục về kỹ năng sống cho học
sinh, đặc biệt là học sinh bán trú.
c. Đội ngũ (số liệu thời điểm tháng 5/2011)
- Về giáo viên: Cơ bản đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu bộ môn. Về trình
độ đào tạo: Tỷ lệ đạt chuẩn bậc Mầm non tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 98.7%, trong
đó trên chuẩn 15.7%; Bậc Tiểu học đạt chuẩn 99,5%, trong đó trên chuẩn 32.1%;
Bậc Trung học cơ sở đạt chuẩn 96,5%, trong đó trên chuẩn 32.1%. Về chất lượng:
Đa số giáo viên các bậc học đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ
giảng dạy, giáo dục.
5
- Về cán bộ quản lý: Tổng số cán bộ quản lý là 89, trong đó bậc Mầm non
28, Tiểu học 42, THCS 19; có 98,9% cán bộ quản lý có trình động chuyên môn
đạt chuẩn trở lên, trong đó có 19/89 cán bộ quản lý đang tham gia học các lớp Đại
học chuyên môn.
- Viên chức văn phòng, HĐ theo Nghị định 68: 174.

- Về công tác phát triển đảng: Hiện có 72 cán bộ quản lý là đảng viên,
chiếm tỷ lệ 80,9%, trong đó có 4/42 Hiệu trưởng chưa là đảng viên. Khi xem xét
bổ nhiệm cán bộ quản lý thì tiêu chuẩn người được bổ nhiệm là đảng viên được
ưu tiên, đặc biệt là Hiệu trưởng.
6
- Về thâm niên cán bộ quản lý: Thâm niên quản lý nhiệm kỳ thứ nhất 5
năm là 55 người, tỷ lệ 61,8%; thâm niên quản lý nhiệm kỳ thứ 2 từ 5 đến dưới 10
năm là 27 người, tỷ lệ 30,3%; thâm niên quản lý tại một đơn vị nhiệm kỳ 3 từ 10
năm trở lên 7 người, tỷ lệ 7,9%. Như vậy thâm niên quản lý của cán bộ quản lý
trường học cũng là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc, khách quan để giải
quyết sớm bằng cách luân chuyển xem xét, tạo điều kiện bổ nhiệm lại hoặc bãi
miễn thay thế (nếu không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hoặc đáp ứng nhiệm vụ
ở mức còn hạn chế).
- Về cơ cấu độ tuổi cán bộ quản lý: Độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ 19,1%; độ
tuổi từ 30-39 chiếm tỷ lệ 58,4%; độ tuổi 40-49 chiếm tỷ lệ 18%. Hiện nay, cơ cấu
độ tuổi cán bộ quản lý trường học còn mất cân đối, cán bộ trẻ độ tuổi cán bộ dưới
30 chưa cao, cán bộ quản lý từ 50 tuổi trở lên 1,1%.
Theo quy định của Bộ Nội vụ tại Thông tư 35/2006/TT-BNV thì số cán bộ
quản lý hiện nay cần là 113 người, như vậy vẫn còn thiếu 24 cán bộ quản lý. Số
thiếu chủ yếu ở bậc học Mầm non do thiếu giáo viên, do các đơn vị trường chưa
làm tốt công tác quy hoạch, bồi dưỡng nên chưa có nguồn cán bộ kế cận.
2.2. Thực trạng về trình độ được đào tạo của đội ngũ cán bộ quản lý
- Về trình độ chuyên môn: Đội ngũ cán bộ quản lý 88/89 có trình độ đạt
chuẩn trở lên. Tuy vậy, số cán bộ quản lý có trình độ Đại học còn thấp.
- Về trình độ chính trị: Số CBQL có trình độ lý luận từ trung cấp trở lên
còn thấp (04/89 đồng chí), chưa mở được các lớp trình độ chính trị trung cấp cho
ngành giáo dục. Hầu hết cán bộ quản lý trường học chỉ có trình độ sơ cấp chính
trị, đây là công tác cần được quan tâm của ngành giáo dục và đào tạo.
- Về trình độ nghiệp vụ quản lý giáo dục, quản lý nhà nước:có 80,7% cán
bộ quản lý được bồi dưỡng nghiệp vụ, không có cán bộ quản lý nào được bồi

địa phương và với các cấp quản lý giáo dục; có lối sống lành mạnh, giản dị, mẫu
mực của nhà giáo; Có ý thức tự phê bình, rèn luyện và tu dưỡng; Có uy tín tập thể
với nhân dân địa phương. Tuy nhiên, tinh thần say mê học tập sáng tạo để phát
triển và để thích ứng với sự thay đổi, ý thức hợp tác với cộng sự, các cấp quản lý,
sự khiêm tốn lắng nghe ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp, ý thức tiết kiệm bảo
vệ tài sản, tài chính của nhà trường còn nhiều hạn chế.
Về năng lực quản lý: Đội ngũ cán bộ quản lý trường học có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ tương đối vững vàng, nắm vững các văn bản chỉ thị của
cấp trên, có trách nhiệm cao với nhiệm vụ được giao, hiểu được nhiệm vụ, quyền
hạn của mình; có năng lực tổ chức, sử dụng cán bộ trong đơn vị, đồng thời thể
hiện khả năng quản lý tài chính, tài sản của nhà trường theo pháp luật. Tuy nhiên,
đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu về năng lực tổ chức kiểm tra, đánh giá các công
tác trong nhà trường; năng lực cải tiến, thích ứng với sự thay đổi; việc lập kế
hoạch để điều hành một cách khoa học cũng còn hạn chế, khả năng sử dụng công
nghệ thông tin vào quản lý còn yếu.
Về khả năng thực hiện chức năng quản lý: Đa số cán bộ quản lý đã xây
dựng được kế hoạch công tác bám sát các văn bản hướng dẫn, phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội ở địa phương và tổ chức triển khai, thực hiện. Tuy nhiên công
tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý còn rất yếu, các đơn vị chưa chủ
động trong việc kiểm tra nội bộ tại đơn vị; công tác đánh giá giáo viên, học sinh
còn nể nang, chưa phản ánh thực chất chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục;
công tác lưu trữ hồ sơ và khắc phục tồn tại sau thanh kiểm tra còn hạn chế.
Kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý năm học 2010-2011:
- Hiệu trưởng: Tổng số Hiệu trưởng được đánh giá, xếp loại 42/42, trong đó loại
xuất sắc 23/42, đạt 54,76 %, loại khá 14/42, đạt 33,33 %; còn lại xếp loại đạt yêu cầu.
- Phó Hiệu trưởng: Tổng số Phó Hiệu trưởng được đánh giá xếp loại 48,
trong đó loại xuất sắc 42/48, đạt 87,5%; loại Khá 06/48, đạt 12,5%
8
Tuy nhiên, qua kết quả thanh tra của Phòng Giáo dục và Đào tạo trong 3
năm học 2008-2009, 2009-2010, 2010-2011 cho thấy: không có cán bộ quản lý

với các cán bộ quản lý, đồng thời hiện nay thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan,
trường học cũng tạo điều kiện cho cán bộ quản lý, giáo viên có cơ chế tự kiểm tra,
đánh giá đối với cán bộ quản lý nhà trường. Tuy nhiên, qua kết quả tự kiểm tra
của nhà trường và kết quả thanh tra của Phòng Giáo dục và Đào tạo còn có sự
chênh lệch lớn về đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý. Điều này cho thấy công tác tự
kiểm tra đánh giá của nhà trường còn yếu; việc đánh giá, xếp loại của Hiệu trưởng
đối với Phó Hiệu trưởng còn nể nang, chưa gắn với việc thực hiện chức trách,
nhiệm vụ. Công tác thi đua, khen thưởng còn tập trung phần lớn vào cán bộ quản
lý của nhà trường, chưa quan tâm đến đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy.
9
4. Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
4.1. Về ưu điểm:
Đội ngũ cán bộ quản lý những năm qua đã có sự phát triển về số lượng,
từng bước nâng cao về chất lượng, có những đóng góp quan trọng trong việc tổ
chức thực hiện mục tiêu giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài cho địa phương và cho đất nước.
Đội ngũ cán bộ quản lý trường học cơ bản đạt chuẩn đào tạo, 80,7% được
bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý; có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có
trình độ chuyên môn khá-giỏi, có khả năng trong công tác quản lý, được đồng
nghiệp, học sinh, phụ huynh, chính quyền địa phương tín nhiệm.
Cơ cấu cán bộ quản lý nữ đã được quan tâm, cơ bản đáp ứng nhu cầu của ngành.
4.2. Hạn chế:
Đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu về trình độ lý luận chính trị và nghiệp vụ
quản lý. Công tác quản lý chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa thường xuyên cập nhân
thông tin, phương pháp quản lý cho phù hợp với điều kiện thực tế.
Cơ cấu cán bộ quản lý là người dân tộc thiểu số, công tác phát triển đảng
trong trường học chưa được quan tâm.
Một số bộ phận cán bộ quản lý có hiệu quả quản lý thấp, do ý thức tự học
hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý còn hạn chế,
đặc biệt là chưa có những hiểu biết cần thiết về quản lý tài chính và kỹ năng ứng

xem xét, lựa chọn, giới thiệu, đánh giá một cách công tâm, khoa học, có trách
nhiệm thì mới tạo ra một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, tốt về đạo
đức, đề ngành giáo dục đạt được các mục tiêu trong Nghị quyết đại hội đề ra.
2.1. Về quan điểm chỉ đạo
- Làm thật nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng thống nhất lãnh đạo
toàn diện công tác cán bộ, đảm bảo vai trò lãnh đạo tập trung của cấp ủy đi đôi với
phát huy trách nhiệm của tổ chức chính trị, nhất là đối với người đứng đầu đơn vị
trường học. Phải chủ động có tầm nhìn xa, thực hiện một cách khoa học, có kế
hoạch công tác quy hoạch cán bộ toàn ngành theo từng giai đoạn cụ thể. Hàng
năm rà soát, điều chỉnh, bổ sung để nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ. Từ đó
sẽ khắc phục được những thiếu sót trong công tác quy hoạch nâng cao chất lượng
quy hoạch cán bộ.
- Quy hoạch cán bộ phải bảo đảm phương châm “mở” và “động”.
- Cần nhận thức đúng mối quan hệ giữa quy hoạch cán bộ và bố trí nhân
sự. Bố trí nhân sự là lựa chọn người có thể đảm đương ngay vị trí lãnh đạo, quản
lý khi có nhu cầu; quy hoạch cán bộ là tạo nguồn để chủ động chuẩn bị cán bộ cho
chức danh quy hoạch. Cán bộ ở thời điểm đưa vào quy hoạch không nhất thiết
phải đáp ứng đầy đủ điều kiện và tiêu chuẩn của chức danh quy hoạch, mà còn
gồm cả những người đáp ứng cơ bản tiêu chuẩn chức danh quy hoạch, có triển
vọng phát triển và cần được tiếp tục rèn luyện, thử thách trong thực tiễn hoặc đào
tạo, bồi dưỡng để chuẩn bị nguồn nhân sự cho chức danh quy hoạch.
- Quy hoạch là tạo nguồn cán bộ cho thời kỳ sau với những yêu cầu mới. Do
vậy, trong quy hoạch phải bao gồm cả cán bộ đương chức và cán bộ mới được
giới thiệu lần đầu. Đối với chức danh lãnh đạo, quản lý mà theo quy định hiện
hành một cán bộ không giữ quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp, thì không quy hoạch các
đồng chí đã giữ chức danh đó 2 nhiệm kỳ liên tiếp tại một đơn vị. Các đồng chí
này nếu còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện thì đưa vào quy hoạch giữ các chức vụ
khác hoặc ở đơn vị khác.
- Quy hoạch cán bộ phải gắn với công tác đánh giá cán bộ. Việc đánh giá
đúng đội ngũ cán bộ, viên chức không chỉ để tuyên dương, khen thưởng, phê

quy hoạch các chức danh Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng (do Hiệu trưởng chủ trì).
Tiến hành thu phiếu, kiểm phiếu, tổng hợp kết quả giới thiệu quy hoạch báo cáo
cấp ủy chi bộ, lãnh đạo cơ quan để thảo luận, thống nhất danh sách nhân sự dự
kiến đưa ra lấy ý kiến của hội nghị cán bộ chủ chốt.
Bước 3. Ban chi ủy, Ban liên tịch nhà trường xem xét, quyết định quy
hoạch cán bộ.
Trên cơ sở nghiên cứu thông tin từ kết quả các bước đã tiến hành nêu trên,
hội nghị ban chi ủy, tập thể lãnh đạo đơn vị thảo luận và ghi phiếu quyết định giới
thiệu cán bộ quy hoạch chức danh Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng. Lưu ý: Mỗi
chức danh có thể giới thiệu 2-3 người và một người có thể quy hoạch 2 chức
danh; quan tâm xem xét, đưa vào quy hoạch cả cán bộ, viên chức ngoài Đảng đủ
điều kiện và tiêu chuẩn.
12
Bước 4. Xây dựng quy hoạch cán bộ: Ban giám hiệu đơn vị tổng hợp phiếu
(của hội nghị cán bộ chủ chốt). Các đồng chí được trên 50% số phiếu tán thành thì
đưa vào danh sách quy hoạch gửi về Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện thẩm định.
Bước 5. Phòng đã tổng hợp danh sách, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện tổ
chức họp với Phòng Giáo dục, Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức huyện ủy rà soát lại
tiêu chuẩn, yêu cầu để đề nghị Thường trực huyện ủy phê duyệt theo quy chế của
BCH huyện ủy về quy định bổ nhiệm cán bộ quản lý các trường học.
Hàng năm có sự điều chỉnh, bổ sung để nâng cao chất lượng cán bộ được
quy hoạch.
3. Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý được hình thành do nhiều yếu tố tác
động, trong đó phần lớn là thông qua con đường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng.
Chính vì vậy, để phát triển đội ngũ cán bộ, điều quan trọng là phải chăm lo công
tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý và cán bộ trong quy hoạch kế cận dự nguồn.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc vì vậy huấn luyện cán bộ là công
việc gốc của Đảng”. Để thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần thực

* Bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức xã hội nhằm nâng cao nhận thức
chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ quản lý là công việc
thường xuyên và cần thiết.
* Bồi dưỡng kiến thức Tin học nhằm giúp cho người quản lý áp dụng được
công nghệ thông tin trong quản lý, trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý ở các
đơn vị trường học khác trong cả nước qua mạng, đem lại sự tự tin, hoà nhập và
thích ứng với sự phát triển xã hội
* Bồi dưỡng Tiếng dân tộc nhằm giúp cho cán bộ quản lý hoà nhập với
người dân địa phương, thuận lợi cho công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục,
xã hội hoá giáo dục trên địa bàn.
* Bồi dưỡng các kiến thức khác nhằm giúp người cán bộ quản lý nắm được
những kiến thức về phong tục tập quán địa phương, về bản sắc và văn hoá dân tộc,
về an ninh quốc phòng trên địa bàn
3.3. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng:
Kết hợp đào tạo chính quy với các hình thức khác cho từng loại cán bộ:
- Đối với cán bộ đương nhiệm có thể cử đi đào tạo theo hệ tại chức, vừa
học vừa làm, mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn tại địa phương để bồi dưỡng theo
chuyên đề những kiến thức kỹ năng mà cán bộ quản lý còn thiếu hụt hoặc đã quá
lạc hậu; đối với đội ngũ kế cận có triển vọng cử đi đào tạo chính quy, tập trung
theo chỉ tiêu từng năm của ngành.
- Bồi dưỡng thông qua việc tổ chức tham quan thực tế, giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm quản lý các trường tiên tiến, trường chuẩn quốc gia trong và ngoài tỉnh.
- Bồi dưỡng thông qua hội thảo về công tác quản lý để cán bộ quản lý có
điều kiện nghiên cứu, trình bầy và tiếp nhận, cập nhật thông tin quản lý, đồng thời
để trao đổi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
- Mở các lớp bồi dưỡng về Tin học, Tiếng dân tộc tại huyện, trước mắt áp
dụng đối với cán bộ quản lý ở các trường thuộc vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó
khăn theo Nghị định 61 của Chính phủ để đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Kết hợp việc đào tạo với tự đào tạo bồi dưỡng: Cấp tài liệu cho cán bộ tự
nghiên cứu; Khuyến khích cán bộ quản lý viết các chuyên đề, đề tài, sáng kiến về

với cán bộ đề nghị bổ nhiệm.
Bước 2. Giới thiệu nhân sự, lấy phiếu tín nhiệm
* Đối với nhân sự tại chỗ: Trên cơ sở nguồn cán bộ trong quy hoạch và
nhận xét, đánh giá cán bộ, Hiệu trưởng cùng tập thể Ban giám hiệu nhà trường,
cấp ủy chi bộ thảo luận, thống nhất, đề xuất phương án nhân sự.
Đối với nhân sự ở đơn vị trường khác: Tập thể lãnh đạo phòng, cấp ủy chi
bộ, cán bộ chuyên môn bậc học dựa trên quy hoạch của các đơn vị trường học,
năng lực của cá nhân cán bộ, giới thiệu nhân sự. Lãnh đạo phòng, Ban giám hiệu
đơn vị quản lý nhân sự và Ban giám hiệu trường được bổ nhiệm thảo luận thống
nhất giới thiệu nhân sự đề nghị bổ nhiệm. Gặp gỡ cán bộ được đề nghị bổ nhiệm
trao đổi ý kiến về yêu cầu nhiệm vụ công tác.
Bộ phận tổ chức cán bộ tổng hợp danh sách nhân sự các đơn vị trường đề xuất.
* Tập thể lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo (Lãnh đạo phòng, Chủ tịch
Công đoàn, Tổ chuyên môn, bộ phận tổ chức cán bộ) thảo luận, lựa chọn nhân sự,
thông qua nhận xét, đánh giá để lấy ý kiến của cán bộ viên chức đơn vị trường
học. Yêu cầu bổ nhiệm có thể lựa chọn một người hoặc nhiều người.
15
Đề xuất nhân sự cụ thể sau khi được Ban Thường vụ huyện ủy (Thường trực
huyện ủy), Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện đồng ý về chủ trương, số lượng.
Bước 3. Phòng Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với phòng Nội vụ
huyện, Ban Tổ chức huyện ủy, các đơn vị trường học hiệp y về nhân sự với Đảng
ủy xã, thị trấn; tổ chức lấy phiếu giới thiệu tín nhiệm Hội đồng giáo dục nhà
trường về nhân sự; kiểm phiếu, tổng hợp kết quả.
Kết quả phiếu tín nhiệm có giá trị tham khảo quan trọng, là một trong
những căn cứ để xem xét, nhưng không phải là căn cứ duy nhất và chủ yếu để
quyết định bổ nhiệm.
Cá nhân cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm hoàn thiện hồ sơ bổ nhiệm theo quy định.
Bước 4. Ủy ban nhân dân huyện tổ chức họp:
- Thành phần: Thường trực Huyện ủy, Trường trực Hội đồng nhân dân,
Lãnh đạo UBND huyện, Phòng Giáo dục - Đào tạo, Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức

nhiệm của họ. Từ đó, khuyến khích tính tích cực, sáng tạo của họ, nhằm đưa hệ
thống nhà trường vận hành đạt các mục tiêu giáo dục. Cụ thể:
Về nội dung thanh tra, kiểm tra:
- Việc thực hiện đổi mới công tác quản lý giáo dục, công tác đánh giá giáo
viên, đánh giá hiệu trưởng theo chuẩn nghề nghiệp;
- Thực hiện ba công khai: công khai về chất lượng giáo dục, công khai về
đội ngũ; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học; công khai về tài chính;
- Xây dựng kế hoạch giáo dục; bố trí, sử dụng đội ngũ; thực hiện quy chế
dân chủ, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện các chế độ chính sách đối với nhà
giáo, người học;
- Công tác kiểm tra quản lý chuyên môn; quảm lý tài chính, tài sản;
- Công tác xã hội hóa giáo dục và phối hợp với các tổ chức, lực lượng trong
và ngoài nhà trườngcungx như việc thực hiện các nhiệm vụ khác.
Về hình thức thanh tra, kiểm tra: Thanh tra toàn diện, thanh tra chuyên đề
theo kế hoạch; Kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ.
Về đánh giá cán bộ
- Thực hiện nghiêm túc quy trình đánh giá Hiệu trưởng theo chuẩn Hiệu
trưởng các cấp học, bậc học: Hiệu trưởng tự đánh giá; Hội đồng giáo dục nhà
trường đánh giá, nhận xét ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ; Trưởng phòng giáo
dục căn cứ vào quá trình công tác, kết quả thực hiện nhiêm vụ và ý kiến nhận xét
của tập thể nhà trường quyết định.
- Hiệu trưởng thực hiện đánh giá Phó Hiệu trưởng theo văn bản hướng dẫn
đánh giá, xếp loại cán bộ không trực tiếp giảng dạy.
Về mối quan hệ giữa thanh tra, kiểm tra và đánh giá cán bộ:
- Thanh tra, kiểm tra phải gắn liền với đánh giá, tư vấn, hướng dẫn, từ đó
giúp cán bộ quản lý có quyết định đúng đắn, khách quan đảm bảo cho công tác
quản lý có hiệu quả.
- Thông qua thanh tra, kiểm tra cơ quan quản lý cấp trên có thể đánh giá
đúng đắn hơn đội ngũ cán bộ quản lý để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo
nghiệp vụ, chuyên môn cho cán bộ quản lý, giúp cho quy trình bổ nhiệm lại, thôi

điều kiện cho họ yên tâm công tác và góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý
trường học ngày càng vững mạnh.
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi
đua do ngành và địa phương phát động: cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Hai không" với 04 nội dung, cuộc
vận đông "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" ,
trong đó cán bộ quản lý nhà trường là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong quá
trình thực hiện. Hàng năm cá nhân, tập thể đăng ký nội dung thực hiện, tổ chức
sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút kinh nghiệm.
7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng, nâng cao
chất lượng cán bộ quản lý giáo dục
Các cấp uỷ đảng, chính quyền và các cấp quản lý giáo dục cần tăng cường
tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân và cán bộ viên chức trong ngành nhận thức
rõ vai trò quan trọng hàng đầu của đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
cho địa phương.
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ của cấp uỷ, chính quyền, là
một bộ phận công tác của Đảng và Nhà nước, trong đó ngành giáo dục giữ vai trò nòng
cốt trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện. Tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện tốt Chỉ
thị số 34-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ
chức Đảng, đoàn thể quần chúng và phát triển đảng viên trong các trường học.
IV. HIỆU QỦA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Kết quả phát triển mạng lưới trường, học.
Quy mô phát triển mạng lưới trường, lớp học năm học 2011-2012:
- Giáo dục Mầm non: Huyện có 14 trường Mầm non, 185 nhóm lớp, 4028
học sinh; tỷ lệ trẻ mẫu giáo ra lớp đạt 86%, trong đó trẻ 5 tuổi đạt 100%; huyện có
2 đơn vị xã, thị trấn đạt chuẩn PCGD MN cho trẻ em 5 tuổi.
18
- Giáo dục phổ thông: Huyện đã đạt chuẩn quốc gia phổ cập tiểu học và
xóa mù chữ năm 2000. Đến năm 2009, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng

quản lý được duyệt học lớp trung cấp chính trị năm; 262 viên chức được cử đi
đào tạo nâng chuẩn; có 24 đồng chí được cử đi BD nghiệp vụ quản lý giáo dục.
- Về công tác phát triển đảng: Năm 2011 có 13 cán bộ quản lý được kết
nạp đảng; có 05 chi bộ đảng trong nhà trường được chia tách, thành lập mới, đã
xoá được trường học trắng đảng viên trên địa bàn.
- Về năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành nhà trường: Qua thanh tra chuyên
đề quản lý năm học 2011-2012 tại 8/42 đơn vị trường học: có 4/8 cán bộ quản lý xếp
loại Tốt, đạt 50%; xếp loại Khá 3/8, đạt 37,5%; xếp loại đạt yêu cầu 1/8, đạt 12,5%.
3. Lấy ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên các đơn vị trường học:
19
Tiến hành phát phiếu thăm dò xin ý kiến của cán bộ chuyên môn phòng
giáo dục và đào tạo, cán bộ quản lý các đơn vị trường học, giáo viên các đơn vị
trường học trên địa bàn thị trấn Tân Uyên, xã Thân Thuộc, xã Trung Đồng, xã
Phúc Khoa (tổng số 150 người). Kết quả cụ thể như sau:
- Giải pháp 1. Xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới trường, lớp học
làm cơ sở cho công tác cán bộ: có 141/150 người trả lời rất cấp thiết, rất khả thi,
chiếm tỷ lệ 94%, số còn lại cho ý kiến cấp thiết, khả thi ở mức độ trung bình.
- Giải pháp 2. Xây dựng kế hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ quản lý:
có 138/150 người trả lời rất cấp thiết, rất khả thi, chiếm tỷ lệ 92%, số còn lại cho ý
kiến cấp thiết, khả thi ở mức độ trung bình.
- Giải pháp 3. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng khuyến khích tự đào tạo bồi dưỡng
cán bộ quản lý và cán bộ kế cận: có 129/150 người trả lời rất cấp thiết, rất khả thi,
chiếm tỷ lệ 86%, số còn lại cho ý kiến cấp thiết, khả thi ở mức độ trung bình.
- Giải pháp 4. Thực hiện tốt quy trình lựa chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân
chuyển và miễn nhiệm cán bộ quản lý : có 148/150 người trả lời rất cấp thiết, rất khả
thi, chiếm tỷ lệ 98,66%, số còn lại cho ý kiến cấp thiết, khả thi ở mức độ trung bình.
- Giải pháp 5. Tăng cường thanh tra kiểm tra đánh giá thường xuyên và
khách quan đối với cán bộ quản lý, làm cơ sở cho công tác bổ sugn quy hoạch,
luân chuyển, điều động, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm: có 136/150 người trả lời rất
cấp thiết, rất khả thi, chiếm tỷ lệ 90,06%, số còn lại cho ý kiến cấp thiết, khả thi ở

năng lực điều hành, điều khiển, tập hợp quần chúng, phối hợp công tác; có kiến
thức kinh nghiệm thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm; có kiến thức
và ý thức xây dựng Đảng, biết làm công tác tổ chức, cán bộ. Có phong cách làm
việc tập thể, tổ chức khoa học, nói đi đôi với làm, sâu sát thực tế; biết lắng nghe,
biết quyết đoán, dám chịu trách nhiệm.
Thứ tư, đánh giá đúng và biết sử dụng cán bộ quản lý, nhất là Hiệu trưởng.
Trước hết, phải tìm hiểu kỹ và đánh giá cán bộ đúng đắn, đây là khâu đầu tiên và
quan trọng nhất của công tác cán bộ cũng như của việc xây dựng đội ngũ cán bộ
quản lý. Đánh giá đúng thì mới sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng việc. Đánh giá cán
bộ quản lý là hiểu cán bộ trong sự vận động phát triển, từ hiện tượng tìm ra bản
chất, từ biểu hiện bề ngoài tìm ra thực chất bên trong, tìm hiểu về quá khứ và hiện
tại thấy hướng phát triển tương lai. Đã đánh giá đúng rồi thì cần mạnh dạn sử
dụng đề bạt, cất nhắc và giao nhiệm vụ đúng lúc; không chờ đợi quá chín có khi
sẽ bị rụng, không để chậm trễ mất thời cơ của họ.
Thứ năm, chính sách đối với cán bộ quản lý phải nhất quán, thực sự dân
chủ, công bằng. Mọi người đều được đối xử như nhau, đều được tạo điều kiện để
phát huy năng lực sở trường, cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chung. Đồng thời
tất cả cán bộ quản lý đều được hưởng những chính sách về bồi dưỡng, đào tạo, sử
dụng, đề bạt cất nhắc, đãi ngộ một cách công bằng, hợp lý.
II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trước yêu cầu đòi hỏi của tình hình thực tế, việc xây dựng, phát triển, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý cần phải thực hiện một cách toàn diện. Đây là
nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài. Chỉ
thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 đã xác định rõ mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm
chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý phát triển
đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục ”. Vì vậy có thể khẳng
định: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý là một trong những giải pháp
hàng đầu nhằm cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý trường học các cấp học, bậc học và tổ chức triển
khai, thực hiện. Liên kết để mở các lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng
cho cán bộ quản lý trường học ít nhất 01 lần/01 năm học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Giáo dục 2005 và các văn bản điều chỉnh, bổ sung Luật Giáo dục.
2. Chỉ thị 40-CT/TƯ về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục. Quyết định số 09/2005/QDD-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt đề án "xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo của cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010"; Chỉ thị số 34-CT/TW
của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức
Đảng, đoàn thể quần chúng và phát triển đảng viên trong các trường học.
22
3. Điều lệ trường Mầm non, Tiểu học, Trung học.
4. Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/11/2010, Thông tư số 08/2011/TT-
BNV về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 06
5. Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 (dự thảo lần thứ
14)
6. Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, Chương trình
khoa học công nghệ cấp Nhà nước, KX.07/14, Hà Nội.
7. Báo cáo tình hình giáo dục Việt Nam giai đoạn 2005-2010.
8. Quản lý nhà nước về giáo dục- Vũ Ngọc Hải.
________________________________________
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN KINH NHIỆM
A. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: Thực trạng và các biện pháp xây dựng, phát triển, nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học.
2. Thuộc lĩnh vực: Quản lý giáo dục.
23
3. Người thực hiện sáng kiến: Nguyễn Thị Huyền.
Đơn vị công tác: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Uyên.

trường học. Phải chủ động có tầm nhìn xa, thực hiện một cách khoa học, có kế
hoạch công tác quy hoạch cán bộ toàn ngành theo từng giai đoạn cụ thể. Hàng
năm rà soát, điều chỉnh, bổ sung để nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ. Từ đó
sẽ khắc phục được những thiếu sót trong công tác quy hoạch nâng cao chất lượng
quy hoạch cán bộ.
b.2. Về quy trình thực hiện:
24
Bước 1. Hiệu trưởng quán triệt chủ trương của cấp trên và cách thức tiến
hành quy hoạch cán bộ quản lý của trường.
Xây dựng kế hoạch và đề xuất danh sách nhân sự có triển vọng dự kiến đưa
vào quy hoạch cán bộ quản lý của đơn vị; báo cáo cấp ủy chi bộ, tập thể Ban liên
tịch nhà trường cho ý kiến trước khi đưa ra lấy ý kiến giới thiệu tại hội nghị cán bộ
chủ chốt.
Bước 2. Tổ chức hội nghị toàn thể cán bộ, viên chức để lấy phiếu giới thiệu
quy hoạch các chức danh Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng (do Hiệu trưởng chủ trì).
Bước 3. Ban chi ủy, Ban liên tịch nhà trường xem xét, quyết định quy
hoạch cán bộ.
Bước 4. Xây dựng quy hoạch cán bộ: Ban giám hiệu đơn vị tổng hợp phiếu
(của hội nghị cán bộ chủ chốt). Các đồng chí được trên 50% số phiếu tán thành thì
đưa vào danh sách quy hoạch gửi về Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện thẩm định.
Bước 5. Phòng Giáo dục – Đào tạo tổng hợp danh sách, Ủy ban nhân dân
huyện tổ chức họp với Phòng Giáo dục, Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức huyện ủy rà
soát lại tiêu chuẩn, yêu cầu để đề nghị Thường trực huyện ủy phê duyệt theo quy
chế của BCH huyện ủy về quy định bổ nhiệm cán bộ quản lý các trường học.
Hàng năm có sự điều chỉnh, bổ sung để nâng cao chất lượng cán bộ được
quy hoạch.
c. Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
c.1. Khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường học về số
lượng và chất lượng, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới tính. Từ đó, dự báo quy mô
trường, lớp, nhu cầu cán bộ quản lý giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status