nâng cao hiệu lực quản lý từ phòng đến trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học trên địa baàn huyện tân uyên - Pdf 18

1

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cấp Tiểu học là cấp học nền tảng của giáo dục phổ thông. Bởi, ngay sau khi
kết thúc tuổi mẫu giáo các em bước vào quá trình học tập theo môn học. Bắt đầu
được học từng con chữ đầu tiên, từng phép toán đầu tiên với sự hướng dẫn tỷ mỉ,
nhẹ nhàng của các thầy cô giáo. Ở cấp học này, thầy cô giáo được xác định là "ông
thầy tổng thể", vì ngoài dạy viết chữ, tính toán còn phải rèn các em về "lời ăn,
tiếng nói", dạy các em cách chơi, cách ngủ, cách làm công tác xã hội, cách làm vui
lòng ông bà, cha mẹ và đặc biệt là cách học, rèn nền nếp học tập
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến Sự nghiệp Giáo dục,
trong đó có giáo dục phổ thông, mà cấp Tiểu học là nền tảng. Ngay sau khi giành
được độc lập năm 1945, Đảng và Bác Hồ đã xác định có ba loại giặc, trong đó có
“diệt giặc dốt” được ưu tiên hàng đầu. Những năm đổi mới, năm 1991 Đảng, Nhà
nước ta đã tiếp tục xác định mục tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học đến tất cả người
dân, đặc biệt là trẻ em trong độ tuổi. Năm 2000 nước ta đã hoàn thành mục tiêu
phổ cập giáo dục Tiểu học. Tiếp sau chương trình phổ cập giáo dục Tiểu học là
phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.
Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu đang tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và Giáo dục Tiểu học nói riêng, thông
qua nhiều chương trình thí điểm Công nghệ giáo dục, chương trình Tăng thời lượng
cho học sinh lớp 1, chương trình hỗ trợ chuyên môn đến các trường vùng sâu, vùng xa,
chương trình bồi dưỡng cho cán bộ quản lý các trường Tiểu học theo hướng "Thường
xuyên, Trực tiếp", chương trình thăm quan học tập kinh nghiệm tại các tỉnh bạn và năm
học 2012-2013 tỉnh Lai Châu được giao nhiệm vụ thực hiện Chương trình thí điểm Mô
hình trường học mới Việt nam - VNEN đối với lớp 2 và lớp 3. Huyện Tân Uyên được
giao nhiệm vụ thực hiện thí điểm tại 02 trường Tiểu học.
Huyện Tân Uyên đã hoàn thành phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi
mức độ 1 năm 2009 và đang tiếp tục phấn đấu đạt chuẩn phổ cập Giáo dục Tiểu
học đúng độ tuổi mức độ 2. Đây là tiền đề rất quan trọng để Giáo dục Tiểu học của

2012 từ đó rút ra những kinh nghiệm chỉ đạo để vận dụng vào năm học 2012-2013.
2. Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về một số biện pháp quản lý từ phòng đến
trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Tân Uyên.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành của
Hiệu trưởng, của Tổ trưởng và công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua nghiên cứu thực tiễn và lý luận nhằm đề xuất tăng cường một số
biện pháp quản lý, chỉ đạo từ Phòng đến Trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Tiểu học trên địa bàn huyện Tân Uyên; Qua đó giúp cho cán bộ quản lý các trường
học nắm được một số biện pháp cơ bản trong quản lý, chỉ đạo quá trình dạy học và
giáo dục học sinh tại cơ sở cho phù hợp với điều kiện và đối tượng học sinh. Giúp
cán bộ quản lý các trường có được phương pháp quản lý nhà trường hiệu quả.
IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu tiếp tục đề xuất các biện pháp có hệ thống và tăng cường
những biện pháp cụ thể hóa quá trình phân cấp quản lý: Giao quyền tự chủ cho
Hiệu trưởng, giao quyền quyết định về nội dung cho giáo viên trực tiếp giảng dạy;
Thực hiện đảm bảo dạy học theo đối tượng vùng miền trên cơ sở chuẩn kiến thức
kỹ năng. Tạo động lực cho mỗi cán bộ, giáo viên tự nỗ lực học hỏi vươn lên trong
quá trình dạy học. Giao quyền tự chủ về tài chính cho các trường, tăng thêm hiệu
lực quản lý cho các trường học; Thực hiện nghiệm thu chất lượng đầu ra theo cam
kết về mục tiêu phấn đấu của mỗi trường, mỗi giáo viên trong năm học.

3

PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ
1. Cơ sở lý luận
Quản lý hiểu theo nghĩa chung nhất: Quản lý là sự tác động có định hướng, có
mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó.

triển trí tuệ là hoạt động chủ đạo. Ở lứa tuổi này các em chủ yếu học về phương
pháp học tập và phẩm chất trí tuệ "lẽ phải". Các em rất ham tìm tòi, khám phá và ưa
hoạt động, do đó người thầy, các nhà quản lý giáo dục phải tạo được môi trường học
tập tốt nhất để các em phát triển, hoàn thiện nhân cách.
4

Tại Điều 3, Luật Phổ cập Giáo dục quy định: "Giáo dục Tiểu học phải đảm bảo
cho học sinh nắm vững kỹ năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết về thiên
nhiên, xã hội và con người; có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý
anh chị em; kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè,
các em nhỏ; yêu lao động, có kỷ luật; có nếp sống văn hóa; có thói quen rèn luyện
thân thể và giữ gìn vệ sinh; yêu quê hương, đất nước, yêu hòa bình".
Điểm 2, Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ: "Giáo dục tiểu học
nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học trung học cơ sở."
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục,
phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt" và "Giáo
dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam".
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định 711/2012/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 về Phê quyệt
"Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020" có nêu 08 giải pháp cần tăng cường
đẩy mạnh, nhưng trong đó giải pháp số một "Đổi mới quản lý giáo dục" được xác
định là giải pháp đột phá, giải pháp số hai "Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục" là giải pháp then chốt.
Quản lý chỉ đạo chính là quản lý con người mà đối tượng ở đây là đội ngũ

đoạn". Chuẩn thể hiện đầy đủ những phẩm chất, nhân cách toàn diện của người
thầy giáo trong giai đoạn hiện nay. Đây cũng chính là vấn đề quan tâm của các cấp
quản lý đến đội ngũ người thầy.
Một vấn đề nữa về yêu cầu đối với giáo viên và cán bộ quản lý các trường
học, chính là việc tự hoàn thiện nhân cách của mình. Người giáo viên chỉ có thể
hoạt động ở mức độ cao khi họ thường xuyên tự hoàn thiện bản thân. Nếu như
người giáo viên dừng lại không tiếp tục tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức chuyên
môn cũng như phương pháp, nghệ thuật giảng dạy và giáo dục nữa thì chắc chắn
hiệu quả giáo dục sẽ không được như mong muốn. Như K.Đ.Usinxki đã nói
"Người giáo viên còn sống chừng nào họ còn học, khi họ mới ngừng việc học thì
con người giáo viên trong họ cũng chết liền". Cụ thể như: khi chuẩn bị bài lên lớp
họ không còn cần thiết phải xem lại tài liệu nữa, không tự tìm hiểu những thành
tựu mới nhất của khoa học nữa mà họ lên lớp theo các giáo án cũ, không còn hứng
thú với trẻ em nữa và khi họ tự nhủ mình rằng "đã biết thừa" học sinh rồi, thì
phương pháp dạy học và giáo dục được hình thành trong thực tế của một lớp này
được áp dụng y nguyên sang một lớp học khác không hề được xây dựng lại cho
phù hợp với đối tượng mới. Nếu giáo viên không tự học, nhà quản lý không có
phương pháp quản lý nhằm định hướng giúp giáo viên "buộc" phải tự tìm tòi, tự
sáng tạo, tự vươn lên thì đến một lúc nào đó người giáo viên đó có dạy giỏi đến
đâu ở nơi này, nhưng chưa chắc luân chuyển đến nơi khác đã dạy giỏi, nếu như
giáo viên đó không có cơ hội học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề đáp
ứng yêu cầu của hoàn cảnh khác nhau. Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt quá
trình dạy học ở các nhà trường hiện nay.
Năm học 2012-2013, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị số
2737/CT-BGDĐT ngày 27/7/2012 về nhiệm vụ trọng tâm của năm học, Chỉ thị nêu
ra 04 nhiệm vụ trọng tâm toàn ngành, trong đó nhiệm vụ số một là "Tiếp tục nâng
cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý". Trên cơ sở đó Ngành Giáo dục Tân Uyên
đã đề ra kế hoạch chỉ đạo chung toàn ngành, trong đó đề cao yêu cầu về đẩy mạnh
công tác quản lý chỉ đạo từ Phòng đến trường và đến từng giáo viên.
6

+ Học lực: Giỏi 1140/6040 đạt 18,9%; Khá 2235/6040 đạt 37%; Trung bình
2606/6040 đạt 43,1%; Yếu 59/6040 chiếm 1,0% (74 học sinh khuyết tật không
tham gia xếp loại).
+ Hạnh kiểm: Thực hiện đầy đủ 6014/6040 đạt 99,6%; Thực hiện chưa đầy
đủ 26/6040 chiếm 0,4% (74 học sinh khuyết tật không tham gia xếp loại).
- Chất lượng mũi nhọn:
+ Học sinh giỏi lớp 4, 5 cấp huyện: đạt 55 giải/ 191 học sinh dự thi, trong
đó: 02 giải nhất; 04 giải nhì; 08 giải ba; 41 giải khuyến khích.
+Tham gia kỳ thi Olympic Toán tuổi thơ lớp 5 cấp tỉnh đạt 2 giải/6 thí sinh
dự thi.
+ Kỳ thi Olympic Tiếng Anh trên Internet cấp tỉnh đạt 02 giải đồng; 03 giải
khuyến khích.
7

- Tổ chức tốt Hội thi "Vở sạch- chữ đẹp" cấp trường với sự tham gia của 17
trường/107 giáo viên/277 em. Số giải thưởng đã trao là: Giải toàn đoàn: 01 giải nhất;
02 giải nhì; 03 giải ba; 11 giải khuyến khích; 04 giải phụ và 308 giải cá nhân giáo
viên gồm 01 giải nhất; 17 giải nhì; 41 giải ba; 30 giải khuyến khích; giải cá nhân học
sinh gồm 13 giải nhất; 55 giải nhì; 83 giải ba; 63 giải khuyến khích.
* Đánh giá:
- Ưu điểm:
Quy mô mạng lưới trường lớp, học sinh ngày một tăng so với năm học trước,
các hoạt động giáo dục đang từng bước nâng cao về chất lượng, thể hiện ở mô hình
các lớp học 2 buổi/ ngày tăng hơn sơ với năm học trước. Số lượng học sinh ra lớp
tăng, số lớp ghép ngày một giảm. Đây cũng thể hiện sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ
các thầy cô giáo trong năm học qua, cũng là kết quả của sự phấn đấu phát triển mô
hình Trường Phổ thông dân tộc bán trú của các đơn vị trường.
- Hạn chế và nguyên nhân:
+ Chất lượng học sinh yếu phần lớn là do nguyên nhân tỷ lệ chuyên cần còn
thấp, các em đi học không thường xuyên dẫn đến có nhiều phần "hổng" về kiến

Về số lượng giáo viên cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu của các trường học, đội
ngũ giáo viên tiểu học hầu hết có độ tuổi còn trẻ, tinh thần trách nhiệm cao trong
công việc. Qua đợt bồi dưỡng hè hàng năm và qua các đợt thanh tra, kiểm tra hoạt
động sư phạm của giáo viên ngay tại lớp học: phần lớn giáo viên đã nắm chắc
phương pháp lên lớp theo Chương trình quy định, nhiều giáo viên có tay nghề
vững. Năm học 2012-2013, Tỉnh tiếp tục tổ chức thi tuyển giáo viên, nên chất
lượng đầu vào của đội ngũ giáo viên mới đảm bảo theo yêu cầu hiện nay.
- Hạn chế và nguyên nhân:
+ Phương pháp dạy học của một bộ phận giáo viên vùng sâu, vùng xa còn
chưa khoa học, giảng dạy chưa sát với đối tượng học sinh, còn quá phụ thuộc vào
giáo án, sách hướng dẫn, sách giáo khoa; khả năng hệ thống hóa kiến thức của
chương trình từng lớp học, cấp học nhiều giáo viên không nắm chắc dẫn đến
"chuẩn bị bài hôm nay thì dạy ngày mai", chưa có phương pháp hệ thống hóa để
giúp học sinh học tập các nội dung bài học theo một hệ thống. Vì vậy, nhiều giáo
viên còn lúng túng khi soạn bài; soạn bài còn mang tính hình thức, chưa thực sự tự
tin khi lên lớp giảng dạy.
+ Tinh thần trách nhiệm trong công tác giảng dạy, ý thức tự học, tự bồi
dưỡng của một số giáo viên còn chưa cao, trách nhiệm chưa cao.
3. Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
Công tác chủ nhiệm lớp đã được đào tạo tại các trường sư phạm một cách bài
bản nhưng lại vận dụng trong điều kiện thực tế địa phương, tại các vùng đồng bào dân
tộc thiểu số còn hạn chế. Đặc biệt giáo viên mới ra trường, giáo viên trẻ kinh nghiệm
còn ít, chưa thông hiểu tiếng dân tộc thiểu số nơi công tác do đó sự phối hợp với gia
đình, thôn bản trong quá trình tổ chức các hoạt động giảng dạy trên lớp, cũng như
hoạt động ngoài giờ lên lớp từng điểm trường còn gặp nhiều khó khăn.
Khả năng xây dựng kế hoạch hoạt động chủ nhiệm lớp của giáo viên còn
hình thức, chưa có các hoạt động thiết thực đối với học sinh. Vai trò phối hợp
Đoàn, Đội với tư cách là anh chị phụ trách lớp còn chưa cụ thể, các hoạt động của
Đội, Sao nhi đồng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa; Phương pháp
tổ chức các hoạt động trong công tác chủ nhiệm chưa đồng bộ, chưa gắn kết với

cho phù hợp với điều kiện, năng lực, sở trường của từng thành viên trong nhà
trường, đến công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương chưa mạnh dạn,
chưa đưa ra được những giải pháp hiệu quả trong việc vận động và duy trì số lượng
học sinh chuyên cần;
+ Công tác lập kế hoạch của nhà trường chưa sát thực tế - còn “hình thức” (từ
Kế hoạch dạy học của giáo viên đến Kế hoạch chỉ đạo năm học của Hiệu trưởng).
Khả năng chương trình hóa các nhiệm vụ năm học của Hiệu trưởng còn yếu dẫn đến
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ còn bị động.
+ Quản lý đội ngũ giáo viên, nhân viên trường học trong thực hiện các
nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh một số trường chưa chặt chẽ, chưa có
biện pháp cam kết về kết quả giảng dạy và duy trì số lượng giáo viên một cách
hiệu quả. Vai trò là nòng cốt chuyên môn của một số cán bộ quản lý trường học
còn hạn chế.
+ Quản lý, chỉ đạo hoạt động giảng dạy trên lớp và giáo dục ngoài giờ lên lớp
còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong quản lý chuyên môn nhiều khi còn dập khuôn,
10

máy móc dẫn đến hạn chế khả năng sáng tạo của đội ngũ giáo viên. Chưa xác định
được những nhiệm vụ trọng yếu, những giải pháp mang tính đột phá đối với đơn vị
trường quản lý; chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn ở một số trường chưa phong phú, mới
chỉ tập chung vào việc rút kinh nghiệm giờ dạy của giáo viên. Các nội dung sinh
hoạt khác như: rèn chữ viết bảng đối với giáo viên, bàn giải pháp duy trì sỹ số học
sinh ở các điểm trường khó vận động, giúp giáo viên tự nâng cao về kiến thức của
chương trình từng lớp của cấp Tiểu học đối với giáo viên có tay nghề "non', giáo
viên mới ra trường, tự học tiếng dân tộc, chưa được quan tâm nhiều. Nhiều cán bộ
quản lý chưa thường xuyên dạy định mức tại các điểm trường xa trung tâm để
hướng dẫn trực tiếp cho giáo viên mới ra trường.
+ Trong chỉ đạo về nghiệm thu chất lượng từng tháng, nhiều trường đã thực
hiện khá tốt. Trong công việc này, cam kết đã được ký ngay từ đầu năm học nhưng
hiệu quả chưa cao. Mục đích của cam kết số lượng, chất lượng giảng dạy đầu năm

thể, những việc cần phải làm trước và sau khai giảng năm học mới. Trong đó lưu ý
các trường những nội dung khó, việc khó và thời điểm hoàn thành công việc. Căn
cứ biên chế thời gian năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu với Ủy ban
nhân dân huyện ban hành Kế hoạch năm học sớm (trong tháng tám), trong đó chỉ
rõ những nhiệm vụ trọng tâm hoàn thành trong cả năm học giúp cho Hiệu trưởng
các trường xây dựng kế hoạch được thuận lợi.
Để bảo đảm kế hoạch thực hiện sát với điều kiện thực tế, trong điều kiện một
số xã có tái định cư thủy điện Huổi Quảng và Bản Chát, Phòng Giáo dục và Đào tạo
đã định hướng chỉ đạo các trường chủ động tham mưu với Ban Chỉ đạo phổ cập giáo
dục xã, thị trấn bàn về các biện pháp để ổn định việc học tập của học sinh. Ưu tiên đặc
biệt đến các điểm tái định cư xã Tà Mít về xây dựng cơ sở vật chất, chuẩn bị các điều
kiện cho năm học mới.
1.2. Giao gắn trách nhiệm với nhiệm vụ được giao đến từng trường, từng
giáo viên và giao quyền tự chịu trách nhiệm đến giáo viên
Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ
chức ký cam kết trách nhiệm trong việc bảo đảm số lượng, chất lượng học tập của
học sinh, cụ thể:
- Giáo viên ký cam kết số lượng, chất lượng giảng dạy với Hiệu trưởng.
- Hiệu trưởng ký cam kết số lượng, chất lượng với Phòng Giáo dục và Đào tạo.
Ngoài ra, nhà trường còn ký cam kết trách nhiệm với Ban Chỉ đạo phổ cập
giáo dục xã, thị trấn về công tác xây dựng cơ sở vật chất, công tác huy động học
sinh ra lớp đảm bảo tỷ lệ chuyên cần.
Trong công tác dạy và học, Phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo Hiệu trưởng
các trường giao quyền chủ động về kế hoạch dạy học và phương pháp dạy học cho
giáo viên dạy phù hợp với đối tượng học sinh. Hiệu trưởng chỉ là người tư vấn, bổ
sung thêm vào kế hoạch dạy học cho giáo viên nhằm tăng thêm tính khả thi của kế
hoạch (công tác duyệt kế hoạch). Hiệu trưởng, Phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ quản
lý về khung thời gian của từng kỳ, từng tháng của năm học; giáo viên là người quyết
định về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên cơ sở chuẩn kiến
thức kỹ năng và dạy học theo đối tượng vùng miền; Chỉ đạo phân vùng đối tượng

Trước mỗi đợt thanh tra, kiểm tra hoặc hỗ trợ chuyên môn, lãnh đạo Phòng
Giáo dục và Đào tạo cùng với tổ chuyên môn của Phòng bàn luận thống nhất
phương pháp và cách thức tiến hành thanh tra. Tổ chức hỗ trợ chuyên môn nhằm
thống nhất tư tưởng chỉ đạo phù hợp với từng trường.
Thanh tra, kiểm tra được tổ chức theo hình thức kiểm tra chéo giữa các
trường nhằm mục đích giúp cho cán bộ quản lý giáo viên ngoài việc giúp đỡ cơ sở
còn rút kinh nghiệm cho chính đơn vị trường của mình đang quản lý, lớp mình
đang trực tiếp giảng dạy.
Xây dựng bổ sung đội ngũ cộng tác viên thanh tra, xây dựng đội ngũ cốt cán
là giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, quản lý vững vàng.
2. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
2.1. Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục
Thông qua đợt bồi dưỡng hè và các lần thanh tra, kiểm tra quán triệt đến đội
ngũ giáo viên các trường thực hiện tốt Quyết định số 16/2008/QĐ-BGD&ĐT của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy định về đạo đức nhà giáo. Tăng cường kỷ
luật, kỷ cương trong hoạt động dạy học, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức
nghề nghiệp. Triển khai và thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung,
tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị nhằm giúp cho đội ngũ nhà giáo
13

nhận thức đầy đủ, về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của người thầy, xứng đáng với
“nghề dạy học là cao quý nhất trong các nghề cao quý”. Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận
động "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo".
2.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý
Rà soát lại đội ngũ theo chuẩn nghề nghiệp của giáo viên Tiểu học, từ đó
tham mưu với Uỷ ban nhân dân huyện có những hình thức đào tạo lại, đào tạo
nâng chuẩn, bồi dưỡng đội ngũ và có kế hoạch sử dụng nhà giáo. Đồng thời tạo

trường, bồi dưỡng giáo viên đến từng trường, trực tiếp trên đối tượng học sinh theo
14

từng nhóm dân tộc thiểu số, từng vùng. Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức cho
giáo viên các trường có đối tượng học sinh tương đồng được dự giờ và rút kinh
nghiệm trực tiếp; Xây dựng chuyên đề cấp huyện dành cho hai vùng: thuận lợi và
vùng khó khăn có tính tương đồng về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên,
đối tượng học sinh. Khuyến khích các trường phối hợp tổ chức sinh hoạt chuyên
môn theo cụm trường, theo khối lớp phù hợp với thực tế.
Triển khai nội dung giúp giáo viên tự học về chuyên môn, đặc biệt bắt đầu từ
việc giải các bài tập trong sách giáo khoa, tự hệ thống hoá chương trình của từng
lớp dạy và cả bậc học theo từng phân môn. Qua quá trình hệ thống hoá, tự giải các
bài tập trong sách giáo khoa giúp giáo viên có khả năng tự tin hơn trong quá trình
giảng dạy tại cơ sở (có Phụ lục I và Phụ lục II kèm theo).
Tăng cường dự giờ, thăm lớp những điểm trường xa trung tâm trường, xác
định rõ: Trường là tất cả các điểm trường trong quản lý giáo dục, lưu ý trong kế
hoạch không đồng thời các cán bộ quản lý trường học cùng làm việc văn phòng tại
trung tâm trường mà có kế hoạch đến các điểm trường lẻ. Kế hoạch này được công
khai trên bảng công tác tuần đối với cán bộ quản lý nhà trường. Hiệu trưởng có
phân công cụ thể dạy định mức tại các điểm trường kết hợp kiểm tra, dạy mẫu cho
giáo viên mới ra trường được học tập, rút kinh nghiệm.
Thường xuyên tổ chức các cuộc thi, hội thi chọn giáo viên giỏi, chọn học
sinh giỏi, Hội thi “Vở sạch, Chữ đẹp”, làm đồ dùng dạy học, thiết kế bài giảng điện
tử của cấp học để nâng cao trình độ tay nghề cho giáo viên. Tổ chức đăng ký tự
học tiếng dân tộc tại địa phương nơi giảng dạy cho toàn thể giáo viên, nhân viên.
2.4. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thư viện nhà trường
Khai thác triệt để tư liệu qua thư viện sách báo, băng, đĩa hình, góp phần vào
việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Tổ chức viết sáng kiến kinh
nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn dạy học. Hướng dẫn giáo viên tổ chức các hoạt
động học tập, đọc sách báo thông quan hệ thống thư viện của nhà trường. Tiếp tục

sinh trường lớp, xếp hàng ra vào lớp, thể dục giữa giờ; Hàng tuần: chào cờ đầu tuần,
sinh hoạt lớp; Hàng tháng: sinh hoạt theo chủ điểm, các ngày lễ lớn, sinh hoạt văn
hóa địa phương; Học kì: có sơ kết thi đua, khen thưởng và nhân rộng điển hình.
Ban giám hiệu nhà trường chịu trách nhiệm duyệt kế hoạch, kiểm tra, đánh giá
kết quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong nhà trường; Các trường chủ động,
linh hoạt và sáng tạo trong quá trình thực hiện, lựa chọn các hình thức hoạt động mới,
hấp dẫn phù hợp với đặc điểm vùng miền, dân tộc và lứa tuổi học sinh Tiểu học, phát
huy vai trò tự quản, tích cực, chủ động của học sinh.
Nhà trường chủ động đưa trò chơi dân gian của địa phương, các mô đun về
giáo dục bảo vệ môi trường, phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực.” với các nội dung như: Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn; dạy
và học có hiệu quả phù hợp với lứa tuổi học sinh, giúp các em tự tin trong học tập;
rèn luyện kĩ năng sống; tổ chức vui chơi tập thể vui tươi lành mạnh; học sinh tham
gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá của địa
phương, dọn dẹp đường thôn bản, tổ dân phố; nhận và quan tâm đến gia đình chính
sách, gia đình neo đơn, chăm sóc Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ,…
Giao gắn trách nhiệm giáo viên Tổng phụ trách đội trong việc tổ chức hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp vào đầu giờ và giữa giờ với nội dung đa dạng,
phong phú tạo hứng thú cho học sinh như: Thể dục phát triển chung, thể dục nhịp
điệu, múa hát tập thể, trò chơi,…; Thường xuyên phối kết hợp với giáo viên chủ
nhiệm lớp tổ chức cho học sinh thực hiện tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;
Phối hợp với Đoàn Thanh niên của trường, của xã cùng tổ chức hoạt động văn hóa,
văn nghệ trên phạm vi của trường, của xã; Định hướng chỉ đạo của Phòng Giáo dục
và Đào tạo là hướng dần tới việc: ban đầu do giáo viên là người chủ trì hướng dẫn
các hoạt động, dần dần giáo viên chỉ là người cùng lên kế hoạch hoạt động với học
16

sinh, học sinh chủ động trong các hoạt động ngoại khóa.
4. Đẩy mạnh dạy học 2 buổi/ngày, dạy tăng buổi trên tuần và phát triển mô
hình trường Phổ thông dân tộc bán trú

tổ chức hoạt động của tổ cốt cán có sự thống nhất cao nhằm giúp giáo viên còn “non”
về tay nghề có thể học tập được kinh nghiệm. Lựa chọn những giáo viên đạt danh
hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp để bổ sung vào đội ngũ cốt cán của huyện. Tổ cốt cán
có nhiệm vụ chủ động xây dựng kế hoạch tham mưu với Lãnh đạo Phòng kiểm tra,
hướng dẫn, dạy mẫu cho giáo viên các trường vùng khó khăn trong huyện.

17

IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Quy mô mạng lưới trường lớp năm học 2012-2013 cấp Tiểu học (tính đến
thời điểm tháng 3 năm 2013)
- Tổng số 18 trường/384 lớp/6.709 học sinh (về số lớp, học sinh so với năm
học 2011-2012 tăng 05 lớp/595 học sinh;
- Số trường PTDT bán trú Tiểu học: 01 trường/144 học sinh (Phổ thông dân
tộc bán trú Tiểu học xã Nậm Sỏ); Số trường có học sinh bán trú tiểu học: 4
trường/263 học sinh (Tiểu học Nậm Cần: 30 HS, TH Phiêng Hào: 72HS,TH số 1
PắcTa: 42 HS, TH số 2 Nậm sỏ: 119 HS). Tổng số học sinh bán trú 407 em.
- Số lớp dạy 1 buổi/ngày: 01 trường/15 lớp/269 học sinh (do chưa đủ cơ sở
vật chất).
- Số lớp dạy tăng buổi/tuần: 08 trường/134 lớp/2072 học sinh.
- Số lớp dạy học 2 buổi/ ngày: 09 trường/235 lớp/4368 học sinh, so với năm
trước tăng 1522 học sinh.
- Dạy học theo Chương trình giáo dục Việt Nam mới (VNEN): 02 trường/
20 lớp/411 học sinh.
- Dạy học theo Chương trình SEQAP: 06 trường/122 lớp/2192 học sinh.
- Dạy học thí điểm tiếng Anh (4 tiết/tuần): 01 trường/05 lớp/113 học sinh.
- Dạy học theo tài liệu Công nghệ Giáo dục: 07 trường/18 lớp/ 367 học sinh.
- Dạy học tiếng Việt theo định hướng tăng thời lượng lớp 1: 03 trường/ 21
lớp/ 328 học sinh.
2. Chất lượng giáo dục tính đến tháng 3 năm 2013

Đồng, Tiểu học số 2 xã Nậm Sỏ, Tiểu học Mường Khoa, trong năm học đã tổ chức
được nhiều hoạt động thu hút học sinh đến trường; Hoạt động ngoài giờ lên lớp đã
được các trường học quan tâm đầu tư, cụ thể vào các tiết Hoạt động đầu tuần, Tiết
sinh hoạt cuối tuần và các hoạt động tập thể vui chơi, múa hát tạo cho học sinh tâm
thế đến lớp vui vẻ, đúng như khẩu hiệu "Mỗi ngày đến trường là một ngày vui, một
ngày học tập tiến bộ".
Kết quả “Giao lưu tiếng Việt của chúng em” cấp trường: 100% các trường Tiểu
học tổ chức giao lưu cấp trường đã thu hút đa số học sinh tham gia. Tổ chức tốt phong
trào "Giữ vở sạch, viết chữ đẹp" cấp trường.
3. Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý được nâng cao
Trong năm học, đã tổ chức công tác bồi dưỡng chuyên môn tại các trường
cho toàn thể đội ngũ giáo viên tại cơ sở (theo cụm). Xây dựng, tổ chức triển khai
thành công 02 chuyên đề cấp huyện: Chuyên đề “Phương pháp dạy học tích cực
cho học sinh theo đối tượng vùng miền môn Luyện từ và câu lớp 3” - dành cho các
trường vùng khó khăn, vùng học sinh dân tộc thiểu số; Chuyên đề “Biện pháp rèn
kỹ năng viết văn tả cảnh cho học sinh lớp 5” - dành cho các trường vùng thuận lợi
(dọc quốc lộ 32). Qua sinh hoạt chuyên đề đã giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên
các trường nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ. Đây cũng là một giải pháp nhằm
mở rộng công tác sinh hoạt chuyên môn - giao lưu chuyên môn giữa các trường
Tiểu học trong huyện.
Ngoài việc kiểm tra giúp đỡ chuyên môn thường xuyên, Phòng Giáo dục và
Đào tạo tổ chức hỗ trợ chuyên môn cho các trường vùng khó khăn về chuyên môn
giảng dạy: tại 03 trường Tiểu học Tà Mít, Tiểu học Hố Mít, Tiểu học Tà Hử xã Hố
Mít. Qua đợt hỗ trợ chuyên môn, các giáo viên được trao đổi, thảo luận về việc xây
dựng kế hoạch bài học, kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch vận động học sinh ra lớp,
phương pháp tổ chức các hoạt động trong từng tiết học, từng hoạt động ngoài giờ
lên lớp để thu hút học sinh đến trường chuyên cần hơn, rèn kỹ năng viết bảng lớp
19

sao cho đẹp, đúng mẫu chữ quy định; rèn phương pháp đánh giá học sinh theo
20

PHẦN KẾT LUẬN
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Một là,

tuyên truyền nâng cao nhận thức

cho cán bộ từ Phòng đến Quản lý,
giáo viên, nhân viên các trường về ý thức, trách nhiệm, lương tâm tận tuỵ với
nghề, hết lòng, hết sức giáo dục học sinh trở thành con ngoan, trò giỏi; Tuyên
truyền phổ biến giáo dục pháp luật như Luật Giáo dục, Nghị định 49 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, ….
Hai là, tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên được bồi dưỡng về công tác
quản lý, công tác xây dựng kế hoạch, đặc biệt có chương trình bồi dưỡng cho
những giáo viên mới ra trường, giáo viên có tay nghề còn yếu. Duy trì thường
xuyên hoạt động của tổ cốt cán Phòng Giáo dục và Đào tạo, với đội ngũ tay nghề
vững trong các mặt như: giảng dạy, quản lý chỉ đạo, tinh thông về tổ chức các hoạt
động ngoại khoá, hiểu biết về phương pháp vận động học sinh ra lớp theo đặc điểm
của từng vùng dân tộc thiểu số.
Ba là, triển khai mạnh chương trình dạy học 2 buổi/ ngày, dạy tăng
buổi/tuần đối với tất cả các trường Tiểu học. Chỉ đạo các trường vùng học sinh dân
tộc thiểu số biết ít tiếng Việt dạy tăng cường tiếng Việt ở trong các môn học và dạy
Tăng thời lượng đối với lớp 1 nhằm giúp các em học tập tốt hơn. Đẩy mạnh phát
triển mô hình trường Phổ thông dân tộc bán trú để giảm số lượng lớp ghép tại các
điểm trường.
Bốn là, thực hiện giao gắn trách nhiệm, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra:
giao gắn chất lượng đến từng giáo viên, từng trường. Yêu cầu hàng tháng Hiệu

viên, nhân viên các trường học, họ là "mắt xích" cuối cùng để tạo lên hiệu quả giáo
dục tốt. Kiên quyết xử lý, chấn chỉnh những vi phạm về đạo đức nghề nghiệp, quy
chế chuyên môn.
II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Giúp cho Hiệu trưởng, tổ chuyên môn, giáo viên có nhận thức đầy đủ về quá
trình nâng cao chất lượng giáo dục, đòi hỏi phải có nhiều biện pháp quan trọng
quyết định đến chất lượng giáo dục. Đòi hỏi người đứng đầu mỗi đơn vị, mỗi bộ
phận, mỗi lớp học phải tự quyết định và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục
của mình. Qua nghiên cứu và thực hiện đã đề xuất được một số biện pháp có hiệu
quả trong quá trình quản lý chỉ đạo góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu
học huyện Tân Uyên. Giúp cho giáo viên, cán bộ quản lý các trường học tự tin hơn
trong quá quản lý, giảng dạy và giáo dục tại cơ sở.
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI
Các biện pháp đề tài đề xuất đã được triển khai, ứng dụng đạt hiệu quả trong
năm học tại huyện Tân Uyên. Đây cũng là những biện pháp quản lý chỉ đạo phù hợp
với vùng có nhiều học sinh dân tộc thiểu số. Trong năm học tiếp theo Giáo dục tiểu
học Tân Uyên tiếp tục triển khai các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục
trên cơ sở tổng kết rút kinh nghiệm từ năm học 2011-2012 và năm học 2012-2013.
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1. Nhà nước tiếp tục đầu tư xây dựng kiên cố hoá trường lớp học trong giai
đoạn tiếp theo đảm bảo chuẩn về phòng học và khuôn viên từng điểm trường. Đảm
bảo điều kiện về nhà ở giáo viên vùng sâu, vùng xa và phòng ở cho học sinh bán
trú; Tiếp tục đầu tư trang cấp hệ thống phòng máy vi tính, các thiết bị dạy học theo
hướng hiện đại cho nhà trường.
2. Nhà nước tiếp tục có kế hoạch, quy hoạch đào tạo nâng chuẩn đội ngũ
giáo viên và bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý cho cán bộ quản lý các nhà trường.

22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài

II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Phạm vi nghiên cứu
2. Đối tượng nghiên cứu
III. Mục đích nghiên cứu
IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý
1. Một số khái niệm ………………………………………………………………………….
2. Căn cứ pháp lý ……………………………………………………………………………
II. Thực trạng của vấn đề
1. Quy mô mạng lưới trường lớp, chất lượng học sinh tiểu học năm học 2011-2012
2. Đội ngũ giáo viên Tiểu học năm học 2012-2013
3. Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
4. Công tác quản lý, chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1. Nâng cao hiệu lực công tác quản lý, chỉ đạo
1.1. Công tác xây dựng kế hoạch
1.2. Giao gắn trách nhiệm với nhiệm vụ được giao đến từng trường, từng giáo viên và giao
quyền tự chịu trách nhiệm đến giáo viên

6
7
8
9
10

10

1011

12

12

1213

13

14

14

15



góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
trên địa bàn huyện Tân Uyên Họ và tên người thực hiện: Trần Văn Tăng.
Chức vụ: Phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Uyên.

Tân Uyên, tháng 5 năm 2013


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status