Bài tập nhóm Tố tụng dân sự - Pdf 18

I. Khái quát chung về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
I.1. Khái niệm và đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
I.1.1. Khái niệm
Trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chưa có quy định cụ thể về khái niệm người đại diện
của đương sự mà chỉ quy định “Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người người đại diện theo
pháp luật và người đại diện theo ủy quyền” (khoản 1 Điều 73 BLTTDS 2004). Tuy nhiên, từ lý luận và
các quy định của pháp luật hiện hành, ta thấy rằng người đại diện trong tố tụng dân sự là người tham
gia tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như đảm bảo tính khác
quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Có thể hiểu “Người đại diện của đương sự là người
tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp cho đương sự trước Tòa án”.
I.1.2. Đặc điểm
Người đại diện của đương sự là cá nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Người đại diện
của đương sự phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự của chủ thể
là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Năng lực hành vi
tố tụng dân sự của chủ thể được xác định bởi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ. Những
người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố
tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án. Người đại diện là người nhân
danh, thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Người đại diện của
đương sự tham gia tố tụng dân sự bởi sự ràng buộc về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của
đương sự, trong khi đó người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng
có đủ các điều kiện do pháp luật quy định được đương sự yêu cầu (nhờ) tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho họ. Về căn cứ tham gia tố tụng, người đại diện của đương sự tham gia tố
tụng theo quy định của pháp luật hoặc trên cơ sở ủy quyền của đương sự. Trong khi đó, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải là người có đủ điều kiện do pháp luật quy định và phải
được Tòa án chấp nhận. Về quyền và nghĩa vụ, người đại diện là người thay mặt cho đương sự tham
gia tố tụng, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người đại diện phụ thuộc vào các quyền và nghĩa vụ của
đương sự mà mình đại diện. Đặc biệt nếu là người đại diện trong phạm vi ủy quyèn thì họ chỉ được
thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy quyền. Trong khi đó, quyền và nghĩa vụ
của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được pháp luật tố tụng dân sự quy định cụ
thể và họ không thay mặt cho dương sự khi tham gia xét xử. Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc

người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình không trực tiếp tham gia tố tụng
mà uỷ quyền cho luật sư hay người tham gia thì người được uỷ quyền cũng là người đại diện theo uỷ
quyền.
II. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về người đại diện của đương sự
II.1. Người đại diện theo pháp luật
II.1.1. Căn cứ phát sinh
Người đại diện theo pháp luật được quy định trong BLDS là người đại diện theo pháp luật trong
tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện (khoản 2 Điều 73 BLTTDS). Trong pháp luật
dân sự không quy định trực tiếp về khái niệm người đại diện theo pháp luật, nhưng Điều 140 và Điều
141 BLDS năm 2005 có quy định về vấn đề này. Theo đó, người đại diện theo pháp luật của đương sự
trong TTDS là người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo
quy đinh của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
II.1.2. Phạm vi tham gia tố tụng
Đối với trường hợp đại diện theo pháp luật cho đương sự là cá nhân thì người đại diện theo pháp
luật tham gia tố tụng khi đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Trong trường
hợp này đương sự thường không thể tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trước Tòa án
nên pháp luật quy định phải có người đứng ra thực hiện thay. Khi đó, người đại diện theo pháp luật của
2
đương sự sẽ thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện; và phạm vi
tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự không bị hạn chế trong các loại việc.
Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là trường hợp đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc tham gia giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của
mình được tự mình khởi kiện với tư cách nguyên đơn và tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó; nhưng Tòa án
vẫn có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo
pháp luật. Đối với những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Tòa án do người
đại diện hợp pháp của họ thực hiện (khoản 6 Điều 57 BLTTDS). Với trường hợp nữ đã bước sang tuổi
18 mà kết hôn là không vi phạm điều luật về tuổi kết hôn, do đó khi có yêu cầu Tòa án giải quyết các
vụ việc về hôn nhân và gia đình thì họ có quyền tự mình tham gia TTDS mà không phải thông qua
người đại diện.

vụ án ly hôn, người đại diện theo pháp luật không có quyền tham gia hòa giải vì đây là quan hệ mang
tính nhân than đặc biệt nên chỉ đương sự mới có quyền quyết định.
- Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Quyền này giúp người đại
diện của đương sự biết và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bảo đảm cho quá trình
giải quyết vụ việc dân sự được diễn ra nhanh chóng, đúng đắn, công khai, minh bạch và dân chủ.
- Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quy định này để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự có thể ủy
quyền cho luật sư hoặc người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Tham gia phiên tòa. Khi tham gia phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của đương sự có thể
trình bày, tranh luận, đưa ra những chứng cứ, chứng minh cho những yêu cầu, phản đối của mình.
- Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Khi có những căn cứ thay đổi theo quy định của BLTTDS, người đại diện theo pháp luật của đương sự
có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để đảm bảo sự đúng đắn, vô
tư trong giải quyết vụ việc.
- Đề xuất với Tòa án về vấn đề cần hỏi người khác, được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng.
Về quy định này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS có sự kế thừa và mở rộng thêm, theo đó,
người đại diện theo pháp luật của đương sự còn có quyền đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên
quan đến vụ án khi được phép của Tòa án.
- Tranh luận tại phiên tòa. Vai trò tích cực, chủ động của người đại diện theo pháp luật của đương
sự trong tranh luận là một yếu tố quyết định trong việc giải quyết vụ án.
- Được cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án. Sau khi kết thúc phiên tòa, đại diện theo pháp
luật thay mặt đương sự khởi kiện vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có
quyền yêu cầu được cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án.
- Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này. Quyền này
sẽ giúp việc giải quyết vụ việc dân sự được đúng đắn, khắc phục những sai lầm có thể có trong những
bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật.
- Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ đề kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
4
- Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời

định quyền này đầy đủ và rõ ràng hơn: “Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn”; (ii) Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên
đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu quy định tại Điều 176 BLTTDS 2004;
(iii) Được Tòa án thông báo về việc khởi kiện. Người đại diện theo pháp luật của bị đơn sẽ có thời gian
chuẩn bị những lý lẽ, chứng cứ để chứng minh cho việc chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn,
cũng như có thể đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có.
5
Đối với người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có hai loại: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng
độc lập, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thạm gia tố tụng không độc lập. Tương tự sẽ có
người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập,
người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc
lập. Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không
độc lập có thể tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn. Người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan nếu tham gia với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có các quyền và nghĩa vụ của
nguyên đơn; nếu họ tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có các quyền và nghĩa vụ
của bị đơn (khoản 3 Điều 61 BLTTDS 2004). Khi không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc
bên bị đơn thì họ sẽ có quyền yêu cầu độc lập khi “việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của họ; Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; Yêu cầu độc lập
của họ đang được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và
nhanh hơn” (Điều 177 BLTTDS 2004). Khi đó, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập sẽ có quyền và nghĩa vụ như người đại diện theo pháp
luật của nguyên đơn.
II.1.4. Trường hợp không được làm người đại diện theo pháp luật
Trước hết, để một người có thể làm người đại diện người đó phải là cá nhân có năng lực hành vi
tố tụng dân sự đầy đủ nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích của đương sự mà họ đại diện. Như vậy,
những người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không thể làm đại diện cho đương sự trong
tố tụng dân sự được. Tuy vậy, có những người đảm bảo đầy đủ điều kiện trên nhưng họ vẫn không
được làm người đại diện theo pháp luật của đương sự do thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Nếu
họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của

Khoản 3 Điều 73 BLTTDS 2004 cũng quy định: “Người đại diện theo ủy quyền được quy định trong
Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự, đối với việc li hôn, đương sự
không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”.
II.2.2. Phạm vi tham gia tố tụng
Dựa trên quy định của pháp luật dân sự thì đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện một
phần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tương ứng với nội dung ủy quyền, người
đại diện sẽ có những quyền và nghĩa vụ tố tụng theo luật định. Trong đó, văn bản ủy quyền chính là
căn cứ để xác định phạm vi ủy quyền này. Mặt khác, pháp luật TTDS còn quy định riêng “đối với việc
ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tung” (Điều 73
BLTTDS 2004). Pháp luật quy định như vậy bởi kết hôn của hai bên nam nữ hoàn toàn do tự nguyện
nên không thể có người đại diện cho đương sự trong việc ly hôn. Ngoài ra, các loại việc khác gắn liền
với quyền và nghĩa vụ về nhân thân như thuận tình ly hôn, cấp dưỡng, hủy kết hôn trái pháp luật cũng
không được ủy quyền.
II.2.3. Quyền và nghĩa vụ
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng do xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự,
đương sự có thể ủy quyền người đại diện một phần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của
mình. Và được quy định tại khoản 2 Điều 73BLTTDS “Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng
dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền”. Như vậy, ở đây
người đại diện theo ủy quyền của đương sự chỉ thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho
đương sự khi nhận được sự ủy quyền bằng văn bản của đương sự.
II.2.4. Những trường hợp không được làm người đại diện ủy quyền
Tại Điều 75 BLTTDS đã quy định cụ thể các trường hợp những người sẽ không được làm đại
diện theo ủy quyền cho đương sự nếu họ thuộc vào trường hợp quy định tại điểm Điều 75 BLTTDS.
Pháp luật quy định những cá nhân, và những người thuộc vào những trường hợp không được làm đại
diện nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án khác quan, trung thực, công bằng bởi nếu họ tham
gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy của đương sự thì họ có thể tác động ảnh hưởng tiêu
7
cực đến vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tính khách quan của công tác xét xử
và trong các phán quyết của tòa án.
II.2.5. Chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý

sự. Vì vậy, các quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được thực
hiện khá nghiêm túc. Các Tòa án cũng đã cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho người đại diện của đương
sự thực hiện việc bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bản thân người đại diện của đương
sự cũng đã xác định được vị trí, vai trò của mình trong tố tụng dân sự. Từ đó họ tự tin, chủ động hơn
trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự.
8
III.1.1. Những hạn chế của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tung dân sự
Thứ nhất, về việc chỉ định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Để đảm bảo quyền
bảo vệ của đương sự trong những trường hợp đương sự không có khả năng tự mình tham gia tố tụng
mà không có người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho họ thì Tòa án sẽ chỉ định
người đại diện cho họ. Tuy nhiên theo Điều 76 Bộ luật TTDS chỉ quy định khi nhận đơn yêu cầu giải
quyết vụ việc dân sự mà thấy rằng đương sự “là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không
có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật TTDS thì Tòa án chỉ định người đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án”.
Như vậy, đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt không có tin tức mà không có
người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 75 Bộ luật TTDS thì Tòa án có được chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại Tòa
án hay không?
Thứ hai, về việc chấm dứt đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự (Điều 78 Bộ luật TTDS).
Trong thực tế một số vụ án, Tòa án đã triệu tập cha mẹ của người chưa thành niên hoặc người mất năng
lực hành vi dân sự là đương sự nhưng do xét xử kéo dài nên trong một số trường hợp đương sự đã
thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã phục hồi, khi đó tư cách người đại diện theo pháp luật của
cha mẹ đương sự chấm dứt. Tuy nhiên Tòa án vẫn tiếp tục triệu tập cha mẹ của đương sự tham gia tố
tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật. Đối với đại diện theo ủy quyền, do không hiểu biết
sâu sắc về pháp luật một số trường hợp giấy ủy quyền không ghi rõ ràng thời hạn, điều kiện chấm dứt
việc ủy quyền nên đã dẫn đến việc lạm quyền vượt quá yêu cầu đại diện.
III.1.2. Những hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về người đại diện của đương sự
trong tố tụng dân sự
Đối với người đại diện theo pháp luật của cá nhân trong bản án phải xác định người được đại
diện là nguyên đơn chứ không phải là người đại diện là nguyên đơn, trên thực tế không ít bản án đã xác

nữa, cũng cần phải quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục chỉ định người địa diện nhằm tránh sự tùy
tiện trong việc chỉ định người đại diện của đương sự. Trong trường hợp đương sự có yêu cầu chỉ định
người đại diện quản lý tài sản cho người bị tuyên bố mất tích (độc lập với yêu cầu tuyên bố một người
mất tích) là một trong những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Như vậy, sẽ
giúp đảm bảo quyền lợi chi những người liên quan cũng như cá nhân người bị tuyên bố mất tích bởi có
thể sau khi tuyên bố thì quan hệ sở hữu mới phát sinh (ví dụ: quan hệ thừa kế,…).
Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Tòa án: cần có cơ chế tuyển chọn, bổ sung các cán
bộ Tòa án có chất lượng, cũng như đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, tăng cường
chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ Tòa án. Đồng thời cần nâng cao công tác quản lý, giáo dục về
tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ Tòa án.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Để đảm bảo người dân
biết được quyền lợi, nghĩa vụ và cách thức bảo vệ quyền lợi của mình, Đảng và Nhà nước cần có
những chính sách phù hợp, tổ chức tuyên truyền pháp luật rộng rãi, đặc biệt với những nơi vùng sâu,
vùng xa, ít có điều kiện kinh tế - xã hội. Đồng thời, Nhà nước cần tổ chức dưới hình thức tư pháp lý tại
các xã phường, những nơi mà hoạt động pháp luật còn thiếu để người dân hiểu hơn về quyền và nghĩa
vụ của mình, thông qua đó thực hiện tốt pháp luật. Bên cạnh đó cũng cần nâng cao trình độ nghiệp vụ
của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền về cả số lượng và chất lượng, cũng như có những chính
sách ưu đãi phù hợp cho họ để khuyến khích, động viên họ thực hiện tốt công việc của mình.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status