Khái niệm và đặc điểm của Lãi suất thỏa thuận - Pdf 24

I. Khái niệm và đặc điểm của Lãi suất thỏa thuận
1.Khái niệm
Là việc Ngân hàng trung ương để các ngân hàng thương mại tự thỏa thuận lãi suất huy
động và cho vay đối với khách hàng
Các khoản vay ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao
hơn lãi suất trần cho các khoản vay trung dài hạn. mà lãi suất không cao hơn lãi suất các
khoản vay ngắn hạn.(cao nhất chỉ bằng 150% lãi suất cơ bản) Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển và để trực tiếp phục vụ đời sống của
cá nhân và hộ gia đình của khách hàng vay.
2.Đặc điểm của lãi suất thỏa thuận
Thông thường kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần, 06 tháng/lần hoặc 1 năm/lần; mức
điều chỉnh lãi suất thường được tính bằng Lãi suất tiền gửi tiết kiệm lớn hơn hoặc bằng 12
tháng + biên độ nhất định (nhưng không vượt quá mức khống chế trần lãi suất của Ngân
hàng nhà nước); hoặc bằng lãi suất cho vay công bố của Ngân hàng tại thời điểm điều
chỉnh. Thông thường áp dụng trong cho vay trung và dài hạn.
II. Bản chất của lãi suất thỏa thuận
1. Nguyên nhân của lãi suất thỏa thuận
LSTT xu hướng tất yếu của thời đại
Thứ nhất : việc khống chế lãi suất trần cho vay như thời gian qua là một biện pháp can
thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và
linh hoạt của các ngân hàng thương mại trong vấn đề huy động vốn và cho vay, vì lãi suất
(giá cả) hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường.
Mức lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi,
chi phí huy động vốn, chi phí cho vay, uy tín của khách hàng, mức độ rủi ro của từng
khoản vay và yếu tố cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai: việc khống chế lãi suất trần cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín
dụng, làm cho các ngân hàng rất khó đa đạng hóa các sản phẩm dịch vụ, vì mỗi loại hình
tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác nhau, lãi suất cho vay khác nhau, lãi suất
tín dụng tiêu dùng và tín dụng bán lẻ khác với lãi suất cho vay doanh nghiệp và các loại
hình tín dụng thông thường.
Mặt khác, chính sách lãi suất trần cứng nhắc cũng làm hạn chế sự phát triển của các dịch

06/ 2001:
Áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cho hình thức vay bằng ngoại tệ.
Trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, mức lãi suất cho vay và huy động ngoại tệ do
các NHTM tự quyết định theo cung – cầu vốn trên thị trường trong từng thời kỳ. Riêng lãi
suất tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp tại NHTM và tiền gửi ngoại tệ của
NHTM tại NHNN chưa được tự do hóa mà vẫn do NHNN quy định, nhằm khuyến khích
các doanh nghiệp bán ngoại tệ cho các NHTM và các NHTM không gửi ngoại tệ ra nước
ngoài
- Ngày 30 tháng 5 năm 2002, NHNN đưa ra Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việc
thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt
Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo đó, các TCTD xác định lãi suất cho
vay bằng VND trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm của khách hàng.
NHNN không quy định biên độ lãi suất cho vay so với lãi suất cơ bản nhưng vẫn tiếp tục
công bố lãi suất cơ bản để làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường.
Vào đầu năm 2003 :NHNN điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất: lãi suất tái cấp vốn-lãi
suất trần, lãi suất tái chiết khấu-lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị
trường mở -công cụ điều hành thường xuyên của NHNN
Như vậy, cùng với việc trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ và việc thực hiện cơ
chế lãi suất thỏa thuận đối với VNĐ thì lãi suất đã được tự do hóa hoàn toàn. Lãi suất cơ
bản NHNN công bố làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường.
Với việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đã giúp tạo thuận lợi cho các TCTD mở rộng
huy động và cho vay đối với nền kinh tế, qua đó góp phần giúp kinh tế đạt được sự tăng
trưởng cao qua nhiều năm
1
. Tuy nhiên, cùng với tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế
qua các năm thì áp lực lạm phát đã gia tăng từ những tháng đầu năm 2008
2
. Cùng với đó là
dấu hiệu của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới mà khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng tín
dụng ở Mỹ. Vì vậy, chính sách tiền tệ thắt chặt đã được NHNN thực thi từ đầu năm 2008.

dàng, sử dụng vốn một cách hợp lý hơn…) và cho nền kinh tế.
Điều này có thể thấy rõ qua
một số điểm tích cực của Thông tư 07:
Thứ nhất,
Thông tư 07
có hiệu lực sẽ hình thành mặt bằng lãi suất cho vay minh bạch, rõ
ràng và phản ánh đúng tín hiệu của thị trường.
Cho phép áp dụng lãi suất thỏa thuận vừa
tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay được vốn với giá thỏa thuận minh bạch, vừa chấm dứt
tình trạng phí “ngầm” trong bản thân mỗi tổ chức tín dụng mà Ngân hàng Nhà nước cũng
khó kiểm soát.
Thứ hai,
với việc vận hành theo cơ chế của thị trường
thì
các NHTM sẽ thay đổi mức lãi
suất cho vay dựa trên các yếu tố: chi phí vốn đầu vào của ngân hàng; mức độ rủi ro của
từng khách hàng; lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của họ và một số yếu tố liên quan khác.
Vậy việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp chủ yếu sẽ phụ thuộc chính bản thân doanh
nghiệp. Do đó, để tiếp cận vốn dễ dàng hơn thì các doanh nghiệp sẽ phải hoạt động, sử vốn
có hiệu quả và phải bỏ ra chi phí hợp lý cho các khoản vay của mình. Về việc tiếp cận vốn
của các doanh nghiệp niêm yết
Ông Nguyễn Băng Tâm, Phó chủ tịch Câu lạc bộ Các
doanh nghiệp niêm yết cho biết:“Với các doanh nghiệp niêm yết, ông Tâm tự tin khi cho
rằng có 90% là các doanh nghiệp tốt nên có thể tiếp cận được chính sách tín dụng hợp lý
của các ngân hàng”.
Thứ ba,
việc điều chỉnh chính sách nói trên cũng không có nhiều bất ngờ, bởi có những
thông tin “tín hiệu” trước đó nên doanh nghiệp cũng đã lường tính khi xét đến các kế hoạch
vay vốn.
Những phản ứng tích cực của thị trường là cơ sở khẳng định tính đúng đắn của Thông tư

Thứ ba, tăng trưởng tín dụng sẽ tăng lên do các NHTM đẩy mạnh cho vay nhằm tìm
kiếm lợi nhuận hoặc tiến hành các hoạt động kinh doanh mạo hiểm do sức ép phải cho vay
lại với lãi cao. Điều này cũng có nghĩa là sẽ tạo sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, thậm chí
cấu thành các tội phạm và vỡ nợ tín dụng dây chuyền mang tính xã hội, làm tăng tính rủi ro
và nhạy cảm, sự mất ổn định của hệ thống ngân hàng và kinh tế vĩ mô trong nước
Thứ tư, chính sách lãi suất thỏa thuận làm tăng sức ép lên việc đổi mới cách thức điều
hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên thị trường tài chính- ngân hàng
Việt Nam
V. Thực trạng lãi suất thỏa thuận của Việt Nam
Theo Thông tư số 12/2010/TT-NHNN, kể từ ngày 14/4/2010, tổ chức tín dụng thực hiện
cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận được áp dụng đối với tất cả các dự
án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống. Như vậy, việc
cho vay theo lãi suất thỏa thuận tại ngân hàng thương mại đã trở thành chủ trương chung.
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này vẫn còn có những ý kiến khác nhau về cách thức điều
hành của cơ quan quản lý, cũng như tại các ngân hàng thương mại.
Lãi suất thỏa thuận có làm tăng lạm phát?
Câu hỏi này được rất nhiều người quan tâm bởi lẽ huy động vốn và cho vay, lãi suất đều
tác động đến sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp, dân cư ở hai khía cạnh: chi phí sản
xuất và tâm lý.
Năm 2002, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã sử dụng cơ chế lãi suất thỏa
thuận. Từ thời điểm đó đến năm 2008, lạm phát trong nền kinh tế đã có những biến động
bất thường. Tỷ lệ lạm phát năm 2001 là 0,8%. Sau khi thực hiện lãi suất thỏa thuận, lạm
phát lên mức 4% trong năm 2002 và không ngừng tăng trong những năm tiếp theo.
Cơ chế lãi suất thỏa thuận năm 2002 được đưa ra thực chất là thả nổi. Tại đất nước vừa
mới thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lý theo mô hình thị trường có định hướng xã hội
chủ nghĩa và đang trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO như Việt Nam thì bước đi này
có thể là hơi vội. Kinh nghiệm các nước cho thấy, trong cơ chế thị trường, các chính sách
thuộc tầm vĩ mô chỉ được điều hành bằng các công cụ và nguyên tắc của thị trường khi nền
kinh tế của các nước phải là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Do những yếu tố đặc thù của
nền kinh tế Việt Nam, trong thời kỳ sự tồn tại của cơ chế lãi suất thỏa thuận nói trên nhiều

trọng trong việc áp dụng lãi suất thỏa thuận để tránh nguy cơ làm tăng lạm phát.
Lãi suất thỏa thuận và lãi suất huy động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status