XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH
HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
I. Đặt ra các vấn đề
1. Tại sao chúng ta phải đi chọn nghề ?
Các em học sinh đang ở lớp 12 - chuẩn bị bước vào cuộc đời, nên các em sẽ
phải chọn một nghề để có thu nhập, nuôi sống bản thân mình. Nghề này sẽ gắn
bó với em cả cuộc đời nên các em cần phải có đam mê trong công việc, vì vậy
việc chọn nghề cần phải được tìm hiểu kĩ lưỡng để phù hợp với năng lực cũng
xem xét ảnh hưởng của nghề nghiệp tới tương lai sau này của các em.
2. Nghề nào trong xã hội?
Trong xã hội hiện nay có rất nhiều ngành nghề phong phú và đa dạng; có sự
vận động và phát triển thường xuyên liên tục: những nghề cũ lạc hậu mất đi,
những nghề mới xuất hiện. Trên thế giới thì ở những nước phát triển có hàng
vạn nghề với hàng chục vạn chuyên môn khác nhau, còn ở Việt Nam thì có
khoảng 50 nhóm nghề với vài nghìn chuyên môn từ đơn giản đến phức tạp. Hẳn
nhiều em ở đây khi nhắc đến nghề thường hay nghĩ đến: kế toán hay tài chính-
ngân hàng - một trong những ngành nghề đang được ưa chuộng ở Việt Nam.
Nhưng hôm nay chúng tôi sẽ hướng dẫn cho các em một nghề đang có xu hướng
phát triển không kém phần mạnh mẽ, là yếu tố quyết định đến thành công hay
thất bại của các tổ chức, đó là nghề Quản trị nhân lực (QTNL).
3. Các em hiểu thế nào về nghề quản trị nhân lực?
Nghề quản trị nhân lực là nghề quản lý con người trong các tổ chức; do
con người là chủ thể chính trong các công việc của tổ chức, nó đòi hỏi phải có
một đội ngũ quản lý để duy trì các hoạt động liên quan đến con người. Nhưng
chúng ta quản lý bằng cái gì? Quản lý bằng giao việc, trả lương, duy trì công
việc đảm bảo đời sống. Quản trị nhân lực là một bộ phận nằm trong các phòng
lao động tiền lương hoặc phòng hành chính-nhân sự. Với quy mô lớn thì nó sẽ
được gọi là phòng lao động tiền lương.
4. Sau khi học QTNL, các bạn sẽ ra làm những việc gì?
- Tổ chức ra bộ máy quản lý: tức là xác định cơ cấu tổ chức như thế
nào, cách thức quản lý ra sao.
gắng học tập để có được kết quả tốt nhất có thể, để sau này có kiến thức rộng về
chuyên môn và các lĩnh vực có liên quan, cập nhật và tăng cường khả năng hiểu
biết của mình.
Công tác ngoại giao, đối ngoại: bộ phận nhân sự là cầu nối giữa
người lao động và người sử dụng lao động vì thế các em cần có những tố chất
trong kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống để linh hoạt, chủ động trong việc
dàn xếp các vấn đề, các xung đột mâu thuẫn về tính cách giữa các nhân viên.
Có tầm nhìn chiến lược về định hướng phát triển của công ty, nhạy
bén trong việc phát hiện, đầu tư phát triển tài năng nhân lực.
Kỷ luật: các em luôn làm bài tập, chấp hành mọi quy định của nhà
trường.
3
III. Cơ sở đào tạo
Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cơ sở đào tạo về nghề này như: đại học
Công đoàn, đại học Lao động - xã hội,… tuy nhiên nổi lên hàng đầu vẫn là khoa
Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực của trường đại học Kinh tế Quốc dân.
1) Giới thiệu chung về khoa
Khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực được thành lập từ năm 1961 với
tên gọi là khoa Kinh tế Lao động. Năm 1990, Khoa Kinh tế Lao động được đổi
tên thành Khoa Kinh tế Lao động và Dân Số với 3 chuyên ngành đào tạo: Kinh
tế lao động, Dân số - Kinh Tế, Quản trị nhân lực. Từ tháng 9 năm 2007 đến nay,
khoa được đổi tên là Khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực. Nhiệm vụ đào
tạo của khoa là đáp ứng nhu cầu của các cơ quan doanh nghiệp từ trung ương
đến địa phương về nguồn nhân lực có chất lượng cao trong quá trình phát triển,
giúp họ xây dựng chiến lược sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả.
2) Giới thiệu về giảng viên
Tổng số cán bộ, giảng viên cơ hữu của khoa tính đến ngày 01 tháng 01 năm
2008 có 29 người, trong đó 26 giảng viên và 3 cán bộ văn phòng. Về học vị, đội
ngũ giảng viên có 11 Tiến sỹ, 12 Thạc sỹ (trong số này có 3 người đang chuẩn bị
kết thúc chương trình học tập và bảo vệ luận án Tiến sỹ ở các nước Mỹ, Úc,
Kiến thức cơ sở khối ngành
8
5
Kiến thức cơ sở ngành
12
Kiến thức bổ trợ ngành
16
Kiến thức chuyên ngành và bổ trợ chuyên ngành
60
Thực tập tốt nghiệp và khóa luận tốt nghiệp (hoặc thi)
12
II
Cấu trúc kiến thức
Tổng số đơn vị học trình
187
1 Kiến thức giáo dục đại cương
64
1.1 Phần bắt buộc
52
1 Nguyên lí chung về Chủ nghĩa Mác-Lênin I
3
2 Nguyên lí chung về Chủ nghĩa Mác-Lênin II
5
3 Tư tưởng Hồ Chí Minh
3
4 Đường lối cách mạng Đảng cộng sản VN
5
5 Ngoại ngữ
18
6 Toán cao cấp
8
Kinh tế vi mô
4
Kinh tế vĩ mô
4
2.2
Kiến thức cơ sở ngành
12
Marketing căn bản
4
Nguyên lí kế toán
4
Kinh tế lượng
4
2.3
Kiến thức ngành
16
Quản trị học
4
Quản trị tài chính
4
Quản trị nhân lực
4
Quản lí nguồn nhân lực công
4
2.4 Kiến thức bổ trợ ngành
15
Quản trị DN/ Thương mại DN/ Quản trị chất lượng
3
Kinh doanh QT/ Giao dịch & đàm phán KD/ Kinh tế DL
4
Phân tích lao động xã hội
4
Đề án môn học
2
2.5.
3
Kiến thức bổ trợ chuyên ngành
(SV lựa chọn 08 học phần từ các học phần sau)
24
Thống kê lao động
3
Lập và quản lí dự án đầu tư
3
Kế toán quản trị
3
Soạn thảo văn bản
3
Kỹ năng thuyết trình
3
Quản trị văn phòng
3
Tổ chức doanh nghiệp
3
Đạo đức kinh doanh
3
Quản lí nguồn nhân lực công
3
Luật lao động
3
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
I. Tình huống 1
Thông qua tình huống này, ta có thể phác họa được một số nét đặc
trưng của người tổ trưởng này như này như sau:
- Người tổ trưởng này là một người tài năng, trình độ chuyên môn cao,
có nhiều sáng kiến đóng góp cho hoạt động sản xuất của xí nghiệp. Ngoài ra có
thể thấy anh ta có tính kỉ luật cao, luôn tuân thủ các quy trình vận hành máy
móc, sử dụng dụng cụ. Anh ta là người có chính kiến, luôn bảo vệ những ý kiến
mà anh cho là đúng.
- Tuy nhiên anh ta lại là một người nóng tính, cộc cằn, hay mắng mỏ
cấp dưới khi họ mắc lỗi, làm sai quy trình, thậm chí còn sử dụng đến bạo lực,
10
hành hung công nhân. Vì có tài nên người tổ trưởng này luôn tỏ ra tự kiêu, tự
đại, luôn cho rằng mình là số một, cho mình quyền sát phạt người khác, kể cả
với lãnh đạo. Người tổ trưởng này không có khiếu giao tiếp, nghĩ gì nói nấy gây
ra khó chịu đối với không chỉ công nhân mà cả với lãnh đạo. Anh ta bảo vệ bảo
vệ ý kiến của mình đến mức quá bảo thủ, cậy tài để mặc cả, gây sức ép đến ban
lãnh đạo khiến họ phải làm theo ý của anh ta.
Từ những dữ kiện trên, ta có thể thấy:
- Người tổ trưởng này thuộc nhóm người có “tính khí nóng”, kiểu thần
kinh mạnh – không cân bằng – linh hoạt : Những người thuộc loại này có tác
phong thường mạnh bạo, vội vàng, hấp tấp, sôi động, hoạt động thiên về cơ bắp
chứ không thiên về trí tuệ. Trong quan hệ họ thường nóng nảy, cục cằn, dễ bực
nhưng không để bụng lâu.
- Về kiểu người cấp dưới, người tổ trưởng này thuộc loại người “Ngựa
bất kham”: là người có tài, nhưng tỏ ra bất hợp tác với mọi người nói chung kể
cả lãnh đạo. Tính cách tự kiêu, tự đại. Ngang bướng, thích hoạt động tự chủ, tự
chịu trách nhiệm. Tỏ ra ít thuần phục, chỉ thuần phục những người họ cho là hơn
mình.
Nếu tiếp tục để tình trạng này diễn ra, sẽ gây ra rất nhiều hậu quả với
đạo có toàn quyền cho anh ta nghỉ việc và chọn người khác xứng đáng hơn vào
vị trí đó.
12
II. Tình huống 2
Thông qua tình huống này ta có thể phác một số nét đặc trưng của
người thợ này như sau:
- Về tuổi tác và kinh nghiệm: anh thợ này đã 50 tuổi, có thể coi là khá
già và đã có nhiều năm kinh nghiệm trong công việc, thuộc lớp người trung niên
trong tổ chức lao động.
- Về trình độ chuyên môn: là người có trình độ chuyên môn kỹ thuật
rất cao, bậc 7/7.
- Về tính cách: là người trung thực, ngay thẳng, thật thà. Tính tình vui
vẻ, chan hòa với mọi người. Là một người nói chuyện hài hước, dí dỏm, luôn tạo
ra không khí vui nhộn, sôi nổi trong phân xưởng.
- Về vai trò và vị trí của cá nhân trong tổ chức: Dù 50 tuổi nhưng anh
không giữ một cương vị lãnh đạo nào cả. Tuy nhiên anh là người luôn đứng ra
giải quyêt những bất đồng quan điểm trong tập thể. Khi anh em cùng phân
xưởng cãi cọ hay có bất hào, anh đều cho ý kiến và mọi chuyện được giải quyết
êm thấm. Khi có xung đột lợi ích giữa lãnh đạo và công nhân thì anh cũng là
người đứng đầu công nhân đấu lại với lãnh đạo. Từ đó, công nhân thì tin tưởng
anh, một số lãnh đạo thì ủng hộ anh, một số khác thì không. Điều này cho thấy
anh ta có một vị trí nhất định trong tập thể. Anh nhận được nhiều sự tin tưởng và
thuyết phục của tập thể. Dù trên thực tế không giữ cương vị nào nhưng đối với
công nhân trong phân xưởng, có thể nói anh ta chính là đầu tàu - một người
“lãnh đạo” thực sư.
Từ những dữ kiện trên, ta thấy:
- Người thợ này có tính khí mạnh - cân bằng - linh hoạt: đây là người
có tác phong tự tin, vui vẻ, hoạt bát, quan hệ phong phú rộng rãi, có tài tổ chức
lãnh đạo.
- Về kiểu người cấp dưới, người thợ này thuộc loại “người thành đạt”:
14
III. Tình huống 3
Tình huống đặt ra: cần phải lựa chọn một trong hai ứng viên vào vị trí
kế toán trưởng
- Về các yêu cầu cơ bản như tuổi tác, bằng cấp, kinh nghiệm…, hai
ứng viên có thể coi là ngang nhau, chỉ khác nhau về giới tính và tính cách.
- Người nam: tính tình hiền lành chất phác, thật thà, thẳng thắn, trong
làm việc có thể hơi chậm chạp, nhưng chắc chắn. Ngoại giao kém, ngại tiếp xúc
với người khác, ít bạn bè. Trình độ chuyên môn giỏi, tinh thần trách nhiệm cao,
cần mẫn, chăm chỉ.
Qua một số đặc điểm về tính cách, tâm lý như trên, có thể thấy rằng
người nam thuộc loại tính khí trầm (kiểu thần kinh mạnh- cân bằng- không linh
hoạt): bởi người này thường có tác phong khoan thai, điềm tĩnh, ít bị môi trường
kích động, làm việc thường nguyên tắc, ít sáng kiến, giao tiếp ít.
- Người nữ: tính tình vui tươi, nhanh nhẹn hoạt bát, tháo vát trong
cuộc sống. Ngoại giao tốt, có tài thuyết phục người khác, quan hệ rộng, nhiều
bạn bè. Trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm, song đôi khi làm
việc hơi ẩu, nhanh nhưng thỉnh thoảng nhầm lẫn, ngoại hình tốt.
Qua một số đặc điểm như trên có thể thấy rằng người nữ thuộc loại tính
khí hoạt (kiểu thần kinh mạnh- cân bằng- linh hoạt): người này có tác phong tự
tin, hoạt bát, vui vẻ, quan hệ rất phong phú, rộng rãi, dễ thích nghi với môi
trường biến đổi, nhiều sáng kiến, lắm mưu mẹo. người này thường có tài tổ
chức, lãnh đạo
Giám đốc công ty cần chọn ra một người thích hợp nhất trong hai
người để đảm nhiệm vị trí kế toán trưởng.
- Đặc điểm cần có của vị trí kế toán trưởng
Có năng lực chuyên môn cao: Đây là những vị trí khá cao trong doanh
nghiệp, ngân hàng, hay tổ chức tài chính nên điều trước tiên bạn cần phải có là
năng lực chuyên môn cao.
Thành thạo máy tính và tiếng Anh: Do tính chất của công việc phải làm
là điều không thể chấp nhận được với một kế toán, nhất là kế toán trưởng, một
nhầm lẫn nhỏ cũng có thể gây hậu quả nặng nề cho công ty.
Xét về vấn đề ngoại giao thì người nữ lại tốt hơn người nam rất nhiều,
người nữ có khả năng thuyết phục người khác, quan hệ rộng, khi làm việc với
16
đối tác có thể sẽ đem lại nhiều lợi ích cho công ty. Và người nữ cũng sẽ được
lòng nhiều người trong phòng, ban, Hơn nữa người nữ cũng linh hoạt trong công
viêc hơn, dễ dàng thích nghi với môi trường biến đổi, nhiều sáng kiến, lắm mưu
mẹo, đảm nhiệm vị trí kế toán trưởng người nữ có khả năng làm lợi cho công ty
hơn.
Tuy nhiên người nam cũng được khá nhiều người quý mến, việc tạo điều
kiện giúp người nam tăng khả năng giao tiếp là có thể được.
Công ty nên chọn người nam vào làm việc và có một số biện pháp
phù hợp trong sử dụng người này lâu dài.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tâm lý học lao động, ThS. Lương Văn Úc, NXB Đại học Kinh
tế Quốc dân, Hà Nội, 2011.
2. Giáo trình Quản trị nhân lực, ThS. Nguyễn Vân Điềm-PGS.TS Nguyễn
Ngọc Quân, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2010.
3. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp, PSG.TS Ngô Kim Thanh-PGS.TS Lê
Văn Tâm, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2008.
4. Website chính thức của trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
http://neu.edu.vn/ .
5. Từ điển Tiếng Việt, Quang Hùng, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006.
18