I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong một lần đi tìm hiểu thực tế trên địa bàn huyện để viết bài
luận “Mục đích của việc học”, khá bất ngờ khi một em trả lời được
nhiều em đồng tình “Em học để lấy điểm số, để thi, để cuối cùng đậu
đại học, vì em tin rằng chỉ khi vào đại học em mới có một tương lai
tươi sáng để tự lo cho bản thân và phụ giúp gia đình’’.
Rồi chúng ta cũng không khỏi bất ngờ khi một học sinh lớp 12 đã
nói lên sự trăn trở đối với hiện thực giáo dục nước nhà qua clip trên
mạng "Sự trăn trở của kẻ lười biếng". Clip còn tác động đến những
giáo sư, hiệu trưởng của các trường PTTH danh tiếng, đến nhiều
người. Những điều em nói không có gì là mới nhưng đó chính là nỗi
lòng các em mà lâu nay các em sợ không nói. Em nói “…Kiến thức
chỉ có ích khi áp dụng vào thực tiễn, dù là lao động trí óc hay lao động
chân tay. Học phải đi đôi với hành. Có hành thì mới có hứng. Không
đủ điều kiện để hành mà cứ phải học thì chỉ có hại. Học phải có mục
đích, mỗi bài học phải tỏ rõ được vai trò của nó đối với cuộc sống của
100% học sinh. Và cho đến giờ tôi không nhớ có lần nào giáo viên có
thể đề cập được đến mục đích thực dụng của tiết học hôm đó, trước
khi đi vào bài giảng…” .
Tuy trong clip có một số luận điểm em đưa ra còn thụ động, trông
chờ và áp đặt, nhưng nó cũng gợi cho tôi rất nhiều suy nghĩ về trách
nhiệm bản thân mình, về đồng nghiệp mình trong cách dạy học hiện
nay. Đó là dạy còn thiên về sách vở, hướng việc dạy Toán về việc giải
nhiều loại bài tập để phục vụ cho thi cử mà hầu hết không có nội dung
thực tiễn dẫn đến học sinh chán nản, mệt mỏi, học để đối phó với thi
cử, không có khả năng tư duy, tự học rồi đi học thêm tràn lan. Học để
thi để lấy một cái bằng, không hề có niềm đam mê nó đi ngược lại với
mục đích của Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh có
điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp
tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
với mục tiêu trên năm 2020 Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ
bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Nhân tố quyết định đến thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực được phát
triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng
cao. Việc này được bắt đầu từ giáo dục phổ thông. Mục tiêu của giáo
dục phổ thông là phẩm chất năng lực của người học sinh được hình
thành trên một nền tảng kiến thức, kỹ năng phát triển vững chắc. Học
vấn mà nhà trường phổ thông trang bị không thể thâu tóm được mọi
tri thức mong muốn. Vì vậy phải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy
tư duy, cách đi tới kiến thức của loài người. Xã hội đòi hỏi người có
học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức
2
dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội được ở trường phổ thông mà còn phải có
năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả
năng đánh giá các sự kiện, hiện tượng mới, các tư tưởng một cách
thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống trong lao động và trong
quan hệ với mọi người .
Trong toán học thì môn Số học, Đai số, Hình học có liên hệ, gắn
bó với thực tế gần gũi hơn môn Giải tích. Có một số kiến thức có ứng
dụng rất quan trọng trong đời sống nhưng chúng ta phải cần những
kiến thức cao hơn ở chuyên nghành học ở đai học. Giải tích là một
môn rất cần cho các kỹ sư điện, cầu đường, thuỷ lợi, chế tạo máy.
Không có mấy môn này làm gì có những thành tựu vĩ đại của con
người trong chinh phục không gian vũ trụ, trong nghiên cứu trái đất và
khí quyển. Những kiến thức về giải tích ở trường phổ chỉ là những
kiến thức cơ bản tạo tiền đề để các em sau này ở cao đẳng, đại học.
Giải tích chúng ta học trong chương trình phổ thông bao gồm dãy số
đặc biệt với cấp số cộng và cấp số nhân, giới hạn của dãy số, giới hạn
giáo viên dạy toán. Và học sinh cũng chỉ học những gì phục vụ cho thi
cử còn các phần khác thì học sơ qua. Bên cạnh đó áp lực thi cử cũng
đè nặng lên tâm lý các em. Các em cứ nghĩ học xong lớp 12 là phải thi
vào đại học. Chứ không thấy xã hội đang lâm vào tình trạng “Thừa
thầy thiếu thợ”, xã hội đang rất cần những người lành nghề mà môn
toán ứng dụng đóng góp một phần quan trọng đào tạo người thợ cho
xã hội.
Bên cạnh đó mặc dù đã có quan điểm chỉ đạo là tăng cường toán
học trong thực tiễn của bộ giáo dục, nhưng thực tế quan điểm này
chưa được thực hiện quán triệt một cách toàn diện nên ứng dụng toán
học trong cuộc sống ít được quan tâm mà chỉ quan tâm đến ứng dụng
nội bộ trong toán học.
3. Một số biện pháp tạo hứng thú học môn giải tích theo hướng
liên hệ với thực tiễn.
Cái mới luôn là cái kích thích chúng ta tìm hiểu nhất. Việc liên hệ
thực tế sẽ thúc đẩy học sinh tìm tòi khám phá trong học tập. Hiểu và
tính toán được các vật trong tự nhiên thể tích nước trong cái ao,
khoảng cách giữa các vì sao….là một động cơ thúc đẩy học sinh học
tập. Các kiến thức toán học sẽ thu hút sự chú ý lắng nghe trong giờ
học và ham thích học hỏi, tìm kiếm sách vở, rèn luyện khả năng sử
dụng sách… Qua đó, các em sẽ thấy được những lý thú của các kiến
thức đã học, tăng thêm lòng yêu thích môn học vậy thì việc giải quyết
các bài toán, các dạng toán trở nên dễ dàng.
Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả
học tập của học sinh. Học sinh có khả năng mà không có hứng thú thì
cũng không đạt kết quả, giáo viên giỏi chuyên môn mà không có kỹ
năng tạo hứng thú học tập cho học sinh thì chưa thành công. Do đó
đòi hỏi người giáo viên phải hội tụ kiến thức và tất cả các yếu tố phục
vụ cho công việc dạy học. Kỹ năng tạo hứng thú là kỹ năng quan
trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người giáo viên
S
2
= 1 + 2 + 3 + + 30 là tổng của một cấp số cộng có 30 số
hạng, với u
1
= 1 và công sai d = 1 nên S
2
=
( )
30
1 30
2
+
= 465 đồng hay
S
2
= 5580 xu.
ở phơng án thứ nhất, số tiền thởng là:
S
1
= 1 + 2 + 2
2
+ 2
3
++ 2
29
Dóy s 1 , 2 , 2
2
, 2
cơ từ một tình huống thực tiễn trong nội bộ toán học nh việc tính diện
tích của hình thang cong chẳng hạn. Hoc khỏi nim ly tha, logarit,
phng trỡnh m v logarit.thỡ cng vy ta cú th ly t cỏc bi toỏn
c th thỡ hay hn.
Bin phỏp 2. Ch ra s phn ỏnh ca thc tin ca b mụn gii
tớch Trung hc ph thụng
Các lí thuyết Toán học nói chung và Giải tích nói riêng ra đời và
phát triển xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Do vậy, chúng sẽ phản ánh lại
thực tiễn, giải thích và phục vụ thực tiễn. Nu giỏo viờn ch ra c
iu ny thỡ hc sinh rt thỳ v khi phỏt hin ra cỏi by lõu nay mỡnh
khụng bit thỡ ra l vy.
Vớ d khi hc v dóy s. Ta cho hc sinh tng tng mi vt n
trờn mc tiờu trng bn nh mt im v c ỏnh du bi s th
t ca nú. Nhng hỡnh trũn ca mc tiờu v
cuc thi bn c xem nh kộo di vụ hn. Ta
gi nhng phn t c ỏnh s ca tp hp
cỏc vt n l cỏc s hng ca mt dóy. Nh
6
13
1
2
3
4
5
6
7
8
9
11
10
trng hp c bit ca khụng gim. Thớ d hm hng thuc vo s
cỏc hm s khụng gim mc dự nú khụng tng lờn bt kỡ b phn
no ca min xỏc nh c.
Nhng liờn h ph thuc theo chiu hng ngc li nh: "Cng
xa cha u, cng ớt ti li". Hm ny ch ra cỏch bin thiờn ca
o ti li theo xa ngi cha u. õy
l mt hm n iu gim.
Vớ d khi hc v Cực đại - Cực tiểu.
Nhà nông thờng nói: "Cấy dày không
7
Điểm đạt
cực đại
Cực đại
Mật độ gieo
Thu
hoạch
a
f(a) -
tốt bằng cấy tha". Kinh nghiệm này chứng tỏ: Mùa màng chỉ tăng theo
mật độ cấy đến một lúc nào đó, nếu quá đi thì nó sẽ giảm xuống vì khi
mọc dày quá thì cây lúa sẽ lấn át nhau.
Mức thu hoạch là cực đại khi ruộng đợc cấy vừa phải. Nó nh là
đỉnh núi, từ đó mọi con đờng đều đi xuống thấp, bất kể bớc về hớng
nào. Tuy nhiên, nếu bớc đi xa hơn thì ở đâu đó sự đi xuống sẽ thay đổi
và đi lên. Ta nói, cực đại là giá trị lớn nhất của hàm số trong những
điểm lân cận nào đó hay cực đại có tính chất địa phơng.
Trái ngợc với cực đại có cực tiểu. Cực tiểu - xem nh là đáy của thung
lũng, từ đó mọi con đờng đều đi lên cao, bất kể bớc về hớng nào. Tuy
nhiên, nếu bớc đi xa hơn thì ở đâu đó sự tăng lên có thể sẽ thay đổi và
đi xuống. Khi đó ta nói rằng cực tiểu có tính chất địa phơng.
nguyên vật liệu nhất?
Đây là một bài toán thực tế thờng gặp trong cuộc sống. Khi gặp bài
toán này trớc hết phải chuyển về bài toán toán học:
Gọi x, y, h (x, y, h > 0) lần lợt là chiều rộng,
chiều dài và chiều cao của hố ga.
8
Ta có:
x
h
k =
kxh =
và
2
V V
V xyh y
xh kx
= = =
Nên diện tích toàn phần của hố ga là:
S = xy + 2yh + 2xh
2
(2k 1)V
2kx
kx
+
= +
.
Việc xây hố ga sẽ tiết kiệm vật liệu nhất khi S nhỏ nhất. Đến đây
chỉ còn là bài toán toán học thuần túy.
áp dụng Đạo hàm ta thu đợc S nhỏ nhất khi
2
2kV
2
(2k 1)+
.
Bi toỏn2: Cần phải đặt một ngọn điện ở phía trên và chính giữa
một cái bàn hình tròn có bán kính a. Hỏi phải treo ở độ cao bao nhiêu
để mép bàn đợc nhiều ánh sáng nhất. Biết rằng cờng độ sáng C đợc
biểu thị bởi công thức
2
sin
r
kC
=
(
là góc nghiêng giữa tia sáng và
mép bàn, k - hằng số tỷ lệ chỉ phụ thuộc vào nguồn sáng.
.
Gọi h là độ cao của đèn so với mặt bàn (h > 0). Các ký hiệu r, M, N,
Đ, I nh Hình vẽ. Ta có
r
h
sin =
và
222
arh =
, suy ra cờng độ sáng là:
Ngoài ra kiến thức đạo hàm dùng để tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất
có thể thấy qua những hình trụ tròn xoay thường có kích thước đạt “tỷ
lệ vàng” 1:1 giữa chiều cao và đường kính đáy (khối có thể tích lớn
như các bình chứa nước, hoặc có thể tích nhỏ như hộp sữa bò, quả cân
bàn…), thể hiện qua bài toán cực tiểu hóa diện tích toàn phần (nhằm
tiết kiệm nguyên liệu) khi hình trụ có thể tích không đổi. Mở rộng ứng
dụng này, ta có thể tìm tỷ lệ “vàng” cho hình nón, hình nón cụt, hay
những hình đa diện khác…
Ví dụ khi dạy về hàm số Logarit ta có thể lấy ví dụ
Với cùng một dây tóc các bóng đèn điện có hơi bên trong cho một
độ sáng lớn hơn là các bóng chân không, bởi vì nhiệt độ của dây tóc
trong hai trường hợp là khác nhau. Theo một Định luật Vật lý, độ
sáng toàn phần phát từ một vật thể bị nung đến trắng tăng tỉ lệ với luỹ
thừa bậc 12 của nhiệt độ tuyệt đối của nó (độ K).
a) Hãy tính xem một bóng đèn có hơi với nhiệt độ dây tóc là
2500
o
K sáng hơn một bóng chân không có nhiệt độ dây tóc là 2200
o
K
bao nhiêu lần?
b) Phải tăng nhiệt độ tuyệt đối lên chừng nào (tính theo phần trăm)
để gấp đôi độ sáng của một bóng đèn?
c) Độ sáng của một bóng đèn tăng lên bao nhiêu (tính theo phần
trăm) nếu ta tăng 1% nhiệt độ tuyệt đối dây tóc của nó?
Lời giải a) Gọi x là tỷ lệ phải tìm, ta có phương trình:
1212
22
25
y
1
12
=
+
12
2lg
)
100
y
1lg( =+⇔
, dùng Bảng số hoặc máy tính
ta tính được
%6y ≈
c) Dùng lôgarit cơ số 10 thì từ x = (1,01)
12
, suy ra lgx =
12lg(1,01), ta tính được x
≈
1,13 nghĩa là độ sáng sẽ tăng là 13%.
10
Tương tự với sự tăng nhiệt dây tóc là 2%, ta tính được mức tăng độ
chiếu sáng là 27%, và tăng nhiệt độ lên 3% thì mức tăng độ chiếu sáng
là 43%.
giãy nảy "Tôi sẽ không tham. Trò giễu cợt này, không một ai là không
biết rằng tôi sẽ chẳng bao giờ đến được chỗ mâm cơm”. Tù trưởng
cũng không làm khó dễ gì nhà Toán học, ông này cắp bụng đói về
phòng nhốt mình. Tới lượt nhà Văn học được đưa ra với điều kiện
tương tự. Khi nghe tên tù trưởng giải thích luật chơi, mắt ông này sáng
11
rực và ngồi ngay vào ghế. Tù trưởng vờ ngạc nhiên hỏi "Chẳng nhẽ
ngươi không thấy là sẽ chẳng bao giờ đến tới chỗ mâm cơm hay sao ".
Nhà văn học mỉm cười "Tôi không tới tận chỗ mâm cơm, nhưng tôi có
thể đến gần đủ để ăn được cơm". Ngồi trong tù, nhà Toán học nhìn
thấy nhà Văn học ăn cơm và xỉu.
Kể xong câu chuyện ta yêu cầu các em có thể giải thích ý nghĩa
của 2 quan điểm nhà toán học và nhà văn.
Ví dụ: Khi học xong về giới hạn ta giải thích ý nghĩa về nghịch lý
Zê-nông câu chuyện “Asin không đuổi kịp rùa”.
Asin là lực sĩ chạy nhanh nhất Hi Lạp cổ. Một ngày nọ, chàng ta
cảm thấy buồn, bởi chẳng ai có thể chạy nhanh bằng chàng, chẳng ai
có thể trở thành đối thủ của chàng. Chàng buồn bã thốt lên: '' Thần
Zeus ơi! Chẳng nhẽ con lại phải chịu "treo giò" mãi thế này sao??? ".
"Ta có thể chạy đua với chàng" - một chú rùa không biết ở đâu xuất
hiện. "Hứ, ngươi mà đòi chạy đua với ta sao, đồ chậm như rùa"?
Nhưng thôi được, ta đang buồn không biết làm gì, chấp ngươi chạy
trước ta 1000m đấy! ". Rùa ta bảo: "Tùy chàng thôi, nhưng tôi báo
trước cho chàng biết, tôi còn chạy nhanh hơn thỏ đấy!" . Vậy là hai
'lực sĩ' vào vị trí, rùa đứng trước Asin 1000m. Cứ cho rằng Asin chạy
nhanh hơn rùa 10 lần (như thế là may mắn cho rùa ta lắm rồi đấy) thì
khi chàng ta chạy được tới chỗ rùa xuất phát thì rùa đã bò được 100m.
Khi Asin chạy được thêm 100m nữa thì rùa đã bỏ đi trước 10m. Cứ
như vậy thì dù Asin chạy nhanh thế nào thì bao giờ rùa cũng ở trước
anh ta. Tội nghiệp cho anh chàng A sin, chàng ta chẳng thể nào đuổi
=
( )
30
1 30
2
+
= 465 đồng hay S
2
=
5580 xu.
Ở phương án thứ nhất, số tiền thưởng là:
S
1
= 1 + 2 + 2
2
+ 2
3
+…+ 2
29
Dãy số 1 , 2 , 2
2
, 2
3
,…, 2
29
là tổng của một cấp số nhân có 30 số
hạng,
u
1
thời và gia tốc của chuyển động, tính cường độ dòng điện tức thời…
Còn khi dạy về tích phân có thể cho học sinh biết công cụ này sẽ giúp
tính nhiệt lượng tỏa ra trên đoạn mạch, tính công của dòng điện xoay
chiều,…
Ví dụ : Một dòng điện xoay chiều i = I
0
2
sin t
T
π
+ ϕ
÷
chạy qua một
đoạn mạch có điện trở thuần R. Hãy tính nhiệt lượng Q tỏa ra trên
đoạn mạch đó trong thời gian một chu kì T.
Ta có: Q =
T T
2 2 2
0
0 0
2
Ri dt RI sin t dt
T
π
= + ϕ
÷
÷
÷
π
Ví dụ : Đặt vào một đoạn mạch một hiệu điện thế xoay chiều u =
U
0
2
sin t
T
π
. Khi đó trong mạch có dòng điện xoay chiều i = I
0
2
sin t
T
π
+ ϕ
÷
với
ϕ
là độ lệch pha giữa dòng điện và hiệu điện thế. Hãy
tính công của dòng điện xoay chiều thực hiện trên đoạn mạch đó trong
thời gian một chu kì.
Ta có: A =
T T
0 0
U I 1 4
cos cos t dt
2 2 T
π
= ϕ − + ϕ
÷
÷
∫T
0 0 0 0
0
U I T 4 U I
tcos sin t Tcos
2 4 T 2
π
= ϕ − + ϕ = ϕ
÷
÷
π
.
khóa về một số chủ đề giải tích .Qua đó, các em sẽ có cơ hội tham
khảo, bổ sung các kiến thức còn trống và tìm hiểu xác thực hơn
tác động của toán học đến đời sống của chúng ta.
Với sự phân bố lượng kiến thức như hiện nay trong giờ học toán ta
áp dụng liên hệ với thực tế quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến phân phối
chương trình,đến kỹ năng rèn luyện năng lực tư duy giải toán. Vì vậy
hoạt động ngoại khóa giải quyết vấn đề này
Hoạt động ngoại khoá mang tính chất tự nguyện không ép buộc các
em nhưng dẫu sao cũng nên động viên khuyến khích các em tham gia
nhất là các em học sinh yếu kém đây cũng là lúc để các em hoà mình
với tập thể giúp các em thâm nhập thực tế, hiểu biết thêm về môn toán
sẽ gây hứng thú học tập với các em.
Được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như nói chuyện,
tham quan, ra các tập san toán học…cho dù hoạt động ngoại khoá
được tổ chức dưới hình thức nào thì cũng nên tạo điều kiện để học
sinh chuẩn bị và lựa chọn thời điểm thích hợp không nên tiến hành
gần ngày diễn ra các kỳ thi vì sẽ gây tâm lý không thoải mái như vậy
sẽ tạo được sự hấp dẫn và học sinh tập trung hơn cho hoạt động ngoại
khoá đạt kết quả cao.
Ví dụ với chuyên đề nguyên hàm-tích phân với hoạt động ngoại
khoá có thể diễn ra dưới nhiều hình thức:
+ Nói chuyện ngoại khoá: Giáo viên (hoặc một số học sinh trong
lớp) có thể trình bày về lịch sử phát triển của nguyên hàm tích phân là
thành tựu nổi bật nhất của thế kỷ XX Giáo viên có thể đi từ những
bước khởi đầu của phép tính tích phân do Acsimet có ý tưởng đầu
tiên. Sau đó nhiều nhà toán học khác cũng tham gia mở đường cho sự
15
ra đời của tích phân như Phec-ma, Đề-các, Ba-râu(barrow)…sau ý
tưởng Ácsimet, hai nghìn năm sau với sự nghiên cứu độc lập Newton
và Lepniz đã
thức hấp dẫn sẽ kích thích và nâng cao hứng thú học tập môn toán tạo
điều kiện gắn liền nhà trường với đời sống, lý luận liên hệ với thưc
tiễn học đi đôi với hành góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
toán.
16
Biện pháp 5: Trong các đề kiểm tra viết nên chú ý đa vào các
bài toán gần gũi với thực tế nhằm đánh giá năng lực ứng dụng và
mức độ thông hiểu các kiến thức đã học to tin cho vic nh
hng ngh nghip cho cỏc em.
Những bài kiểm tra là cơ sở quan trọng để giáo viên đánh giá về
tình hình học tập, về tình hình kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng của
học sinh và cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của họ. Do đó,
trong các đề kiểm tra giáo viên nên đa vào các bài tập gần gũi với đời
sống thực tế. Qua đó sẽ đánh giá đợc đợc sâu sắc hơn sự thông hiểu
bài học của học sinh. Và hơn thế nữa nó sẽ góp phần rèn luyện ý thức
toán học hóa các tình huống trong thực tế và giáo dục văn hóa Toán
học cho học sinh.
Mt khỏc, giỏo viờn cng phi nh hng ngh nghip cho cỏc
em ngay cũn ngi trờn gh nh trng em bng cỏc bi toỏn phõn
loi theo ngh nghip cỏc em. Nu em no theo lnh vc ti chớnh,
kinh t thỡ a dng toỏn kinh t, cũn em theo lnh vc nụng nghip
thỡ a cỏc bi toỏn tớnh toỏn ,o c Mun vy thỡ giỏo viờn phi
phõn loi tng dng bi tp phự hp vi c thự tng nghnh cỏc em
s theo, phự hp vi trỡnh hc sinh. Núi vi cỏc em rng vo i
hc khụng phi l la chn duy nht ca mi ngi m ph thuc vo
trỡnh mi ngi, vo nhu cu xó hi,
4. Kt qu ca ti.
Sau khi ỏp dng mt s phng phỏp m rng kin thc thc t
trong bi ging gii tớch vo cỏc tit dy cho 2 lp 11B v 12D õy l
2 lp cú mc trung bỡnh so sỏnh hc k 1 v hc k 2 nm hc
Lớp 12D : giỏi tăng 20 %, khá tăng 18%, trung bình giảm 25% yếu
còn 1 học sinh
Như vậy đã đạt được kết quả khả quan :
+ Lớp học sinh động, sôi nổi, giúp nâng cao hứng thú học tập
của các em.
+ Chất lượng bài giảng được nâng lên rõ rệt : học sinh dễ tiếp
thu và nhớ bài lâu hơn.
+ Giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập .
+ Phát triển năng lực chú ý, óc tò mò khoa học.
+Góp phần nâng cao kỹ năng giải các bài tập toán, điều mà các
giáo viên dạy học lo lắng vì nếu thiên về liên hệ thực tế nhiều sẽ ảnh
hưởng kỹ năng giải các dạng bài tập. Không phải như vậy vì hai phần
này có tác động đến nhau, hỗ trợ cho nhau.
Căn cứ vào trên tôi thấy được tính khả thi và hiệu quả của đề tài
III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1. Về phía giáo viên
- Để thực hiện tốt, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng,
xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề
thực tế liên quan phù hợp với học sinh. Hình thành giáo án theo hướng
phát huy tính chủ động của học sinh, phải mang tính hợp lí và hài hòa.
-Các vấn đề liên quan đến thực tế phải vừa sức đối với học sinh,
phải kết hợp đồng bộ với kỹ năng giải toán để phát triển tư duy cho
các em.
-Trong bài kiểm tra có kiểm tra kỹ năng áp dụng toán vào thực tế.
2. Về phía nhà trường và các nghành liên quan:
18
- Nhà trường cần bổ sung thêm sách tham khảo cho giáo viên ở
thư viện nhất là sách về ứng dụng toán học vào thực tế.
- Nhà trường tạo điều kiện để cho giáo viên tổ chức Câu lạc bộ
toán học vui, các cuộc giao lưu kiến thức sẽ hình thành hứng thú cho