Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành theo quyết định số
16/2006/QĐ- BGĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu:
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện
của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả
năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập
cho học sinh.
Như vậy, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở
trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy
học theo phương pháp dạy học tích cực tự giác nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả
năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những
tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn. Làm cho Học là
quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử
lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học.Nếu
rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự
học thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong
mỗi con người, kết quả sẽ được nhân lên gấp bội. Tuy nhiên, để phát huy
tối đa hiệu quả của phương pháp tự học, đáp ứng yêu cầu của đổi mới
phương pháp dạy học lại là vấn đề trăn trở của nhiều nhà trường hiện
nay, nhất là với các trường mới thành lập khi cơ sở vật chất còn thiếu
thốn, chất lượng đầu vào của học sinh còn rất thấp, độ ngũ giáo viên còn
non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy thì lại càng là vấn đề băn
khoăn, bức xúc hơn bao giờ hết.Trong đó, môn ngữ văn lại là bài toán
nan giải với các nhà trường hơn cả. Bởi dưới tác động của nền kinh tế thị
trường, xu thế phát triển của xã hội, nhiều học sinh ngại học văn, nhiều
phụ huynh không muốn cho con em mình thi vào các ban khoa học xã
Nội dung
1.Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
1.1.Tự học và một số yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy
học
a.Tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho
học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn
là một mục tiêu dạy học.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh- với sự bùng nổ thông
tin, khoa học, kĩ thuật công nghệ phát triển như vũ bão- thì không thể
nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều, mà
phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi, trọng tâm là phương pháp
tự học.Tự học là phương pháp học tích cực. Dưới sự thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ
động đạt các mục tiêu, kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình, bài
học.Tự học giúp học sinh phát huy tính tính cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo, tìm tòi, phát hiện, khai thác, xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biêt,
năng lực và phẩm chất. Đặt biệt, nó còn tạo cho học sinh lòng ham học,
khơi dậy nội lực, khả năng vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ
được nâng lên.
Tự học không chỉ là việc tự học ở nhà trước và sau bài học trên lớp
mà tự học trong cả tiết học trên lớp có sự hướng dẫn của người thầy.
b.Một số yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học
* Yêu cầu chung
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập
của học sinh.
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa
hình thức học cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp.
- Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh,
động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển
tối đa năng lực tiềm năng của bản thân,
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện đa dạng các câu hỏi và
bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; tổ chức có hiệu quả các
giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng kiến thức vào
giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách
hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng môn học; nội dung,
tính chất của bài học…
1.2. Mục đích và những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản của việc tự học
văn
Phát huy tính tự học trong môn ngữ văn có một ý nghĩa cực kì
quan trọng, đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học. Để
khuyến khích và phát huy tính tự học văn của học sinh,người giáo viên
phải dựa trên những nguyên tắc chung của lí luận dạy học, đổi mới
phương pháp dạy học( như đã nêu ở phần 1) và đặc trưng bộ môn.
Trước hết, là phải dạy học theo đặc trưng bộ môn.Môn ngữ văn
trong nhà trừơng là một bộ môn khoa học nghệ thuật. Cho nên điều mà
người ta quan tâm trước hết là tính chất văn, tính nghệ thuật ngôn từ,bản
chất thẩm mĩ của nó, đây cũng là điểm khác với các bộ môn khác.Nhưng
điều không kém phần quan trọng cần nêu lên nữa là tính chất môn học,
tính chất sư phạm của môn văn.Mỗi một phân môn, giáo viên cần hướng
dẫn học sinh tự học theo đặc trưng của phân môn đó.Chẳng hạn, với các
tiết đọc văn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm từ
trước,hay tìm đọc các tác phẩm có cùng chủ đề, đề tài… thiên về khả
năng tự cảm thụ, tự chiếm lĩnh các vấn đề đặt ra trong tác phẩm và trong
đời sống. Các tiết làm văn thiên về rèn luyện kĩ năng thực hành…
Thứ hai,phát huy chủ thể học sinh trong quá trình tự học.Không có
sự vận động của bản thân chủ thể học sinh thì mọi hoạt động từ phía giáo
viên đều trở thành áp đặt. năng lực chủ quan . Những năng lực chủ quan
hứng thú, ấn tượng cho học sinh, giáo viên cần thay đổi hình thức hoạt
động tự học của học sinh. Cũng cần nói thêm là việc sử dụng phương
pháp nào cũng còn tuỳ thuộc vào sở thích, sở trường của mỗi giáo viên.
Nghề dạy văn là một nghề sáng tạo, cho phép cá nhân giáo viên được
tương đối tự do trong việc lựa chọn những phương pháp tối ưu.
2.Thực trạng của vấn đề
Nói một cách tổng quát thì nhiệm vụ của môn văn trong nhà trường
phổ thông là góp phần hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ
nghĩa cho học sinh bằng phương tiện đặc thù của môn văn. Khái niệm
phát triển trong giáo dục được hiểu một cách động và toàn diện trên
nhiều phương diện( hiểu biết, tâm hồn, kĩ năng, phẩm chất và hành
động).Nói đến tính chất của bộ môn văn trong nhà trường là nói đến yêu
cầu về nội dung nhận thức cho học sinh. Dạy văn có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh những hiểu biết về thế giới bên ngoài, xã hội và con
gười.Hiểu biết thế giói bên ngoài để hiểu chính bản thân mình. Nhận
thức để tự nhận thức.Tác phẩm văn chương chỉ thực sự phát huy được
sức mạnh của nó khi nào nó khơi dậy được từ bên trong người tiếp nhận
những hoạt động tâm lí sáng tạo. Cho nên cung cấp kiến thức cốt là để từ
đó học sinh tự ý thức về mình để sống có nhân cách hơn, cao thượng
hơn, trong sạch hơn,có bản lĩnh hơn. Mục đích cao nhất của dạy văn
không phải chỉ là thông báo một số kiến thức mà là cung cấp những khả
năng tự học sinh giải quyết các vấn đề bài toán cuộc đời của bản thân
họ.
Tuy nhiên, để thực hiện được vấn đề này lại là điều không đơn giản
khi mà trong thực tế hiện nay một bộ phận không nhỏ học sinh và chính
cảc bản thân phụ huynh ngại, thậm chí không muốn cho con em mình
học văn nói riêng và ban KHXH nói chung trước áp lực thi cử và chọn
ngành nghề.Bởi thế,công việc giảng dạy môn ngữ văn trong các nhà
trường phổ thông hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Các em học theo kiểu
đối phó để có đủ điểm điều kiện dự thi tốt nghiệp.Trong các giờ học
bài ở nhà của học sinh.Bởi thời gian học ở trên lớp là rất hạn chế mà
kiến thức bài học đòi hỏi phải lĩnh hội là vô cùng lớn. Do vậy việc tự
học ở nhà của các em là hết sức quan trọng.
Chuẩn bị bài ở nhà là bước tập dượt cho sự cảm thụ , tiếp nhận,
lĩnh hội, tri thức trên lớp được sâu sắc hơn. Bằng kinh nghiệm sống và
kinh nghiệm văn học của bản thân, học sinh trực tiếp đi sâu vào thế giới
tác phẩm, vào vấn đề trọng tâm của bài học một cách dễ dàng.
Ngay từ bước chuẩn bị bài ở nhà, vẫn cần được định hướng vào
quỹ đạo cần thiết. Điều đó không hề mâu thuẫn gì với xu hướng tự bộc
lộ, tự học của học sinh nếu giáo viên biết khơi gợi, dẫn dắt sự cảm thụ
chủ quan trực tiếp của bản thân các em. Nội dung công việc chuẩn bị ở
nhà của học sinh có nhiều mặt, đa dạng,tuỳ thuộc vào từng bài học, tiết
học.Có thể là đọc tác phẩm, đọc trước bài học, trả lời các câu hỏi trong
sách giáo khoa hay câu hỏi, bài tập do giáo viên định hướng trước hoặc
tìm hiểu điển cố, từ ngữ khó, suy nghĩ về chi tiết nghệ thuật, một kiến
thức cụ thể, cần thiết có liên quan đến bài học v.v… Nhưng nội dung
chủ yếu vẫn là nhằm khơi dậy hứng thú, tâm thế của học sinh và định
hướng học sinh vào những vấn đề then chốt của nội dung bài học trên
lớp. Câu hỏi chuẩn bị tuyệt đối không được tuỳ tiện. Mỗi câu hỏi cho
học sinh vừa có tác dụng khơi gợi hứng thú, vừa hướng dẫn đi vào thế
giới trung tâm của tác phẩm, của bài học, vừa có tác dụng chuẩn bị cho
hoạt động khám phá của giáo viên và học sinh ở trên lớp.
Đến lớp giáo viên phải kiểm tra công việc chuẩn bị bài của học
sinh ở nhà.Đây không chỉ là một công việc thường nhật của thầy giáo
trước khi bắt tay vào dạy bài học mới. Đây còn là bước cần thiết để tạo
tâm thế,dẫn dắt học sinh đi vào bài học mới một cách đầy hứng khởi, say
mê.
Ngoài ra,giáo viên còn phải giới thiệu các tài liêu tham khảo,
hướng dẫn các em tự học, tự đọc một cách có hiệu quả.
Ví dụ: sau khi học xong tiết 77 bài Hầu trời của Tản Đà( Ngữ văn
việc học ở nhà của học sinh.Hiện nay trước yêu cầu của đổi mới giáo
dục, đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta đang nỗ lực chuyển biến từ
học tập thụ động sang học tập chủ động, dạy và học chú trọng rèn luyện
phương pháp và phát huy năng lực tự học của học sinh.Trong các tiết
học trên lớp, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động độc lập theo nhóm nhỏ để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học
tập.Trên lớp, học sinh hoạt động là chính. Giáo viên với vai trò là người
gợi mở, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh
luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ sư phạm lành nghề,
có trình độ chuyên môn sâu rộng và có sự chuẩn bị bài dạy thật chu đáo
mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi
diễn biến ngoài tầm của giáo viên.
Một giờ học chính khoá trên lớp của các em là vô cùng quan trọng
và hữu ích. Vì thế, giáo viên phải tổ chức, điều khiển tốt việc tự học của
học sinh.Trước hết, giáo viên cần phải tạo được tâm thế, hứng thú cho
học sinh vào bài học mới.Tuỳ thuộc vào nội dung,yêu cầu của bài học
mà sử dụng các hình thức, phương pháp cho phù hợp.Có thể sử dụng
phương pháp phát vấn, thảo luận nhóm, phiếu học tập…nhưng điều quan
trọng, giáo viên phải đưa ra được ra được những câu hỏi có vấn đề, câu
hỏi gợi mở,liên quan đên vấn đề trọng tâm của bài học để thu hút sự
tranh luận, tìm tòi của học sinh và tạo ra được khoảng lặng để học sinh
suy nghĩ và những phút ồn ào, sôi nổi của học sinh thảo luận: tránh sự áp
đạt, khiên cưỡng. Mặt khác, để việc tự học phát huy tối đa hiệu quả, còn
phải luôn chú ý đến đối tượng học sinh, làm thế nào mà tất cả học sinh
trong lớp từ giỏi- khá- trung bình- yếu đều có cơ hội được thể hiện hiểu
biết của mình.cơ hội được tiếp nhận kiến thức bài học.Cuối mỗi giờ học,
giáo viên phải luôn chú ý đến việc củng cố phát triển kiến thức bài học
và chuẩn bị cho việc học tập bài mới Đây không phải là công việc vội
vã lấy lệ khi trống hết giờ đã điểm.Đây là khâu quyết định phần lớn hiệu
quả của giờ học sắp tới.Học sinh có hứng thú chờ đợi giờ văn hay
3. Giữa sóng và em trong bài thơ có mối liên hệ như thế nào?
Anh/chị có nhận xét gì về nghệ thuật kết cấu của bài thơ?
4. Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo
cảm nhận của anh/chị , tâm hồn của người phụ nữ đó có đặc điểm gì?
Học sinh thảo luận, sau đó cử đại diện trình bày. Giáo viên theo
dõi, đưa ra những gợi mở và định hướng. Và có thể chọn một khổ thơ
bình giảng cho các em nghe.
Hoạt động 5. Tổng kết
Khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Sóng?
Hoạt động 6. Luyện tập và củng cố ( Yêu cầu học sinh về nhà làm)
1. Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Sóng
2. Phân tích hình tượng Sóng để làm rõ tâm hồn người phụ nữ
trong tìmh yêu.
3. Cách thể hiện tình yêu và nỗi nhớ của Xuân Quỳnh trong đoạn
thơ sau
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhứ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về em một phương
4. Cảm nhận về đoạn thơ:
Cuộc đời tuy dài thế
Mây vẫn bay về xa
2.3. Tự học thông qua hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ văn
1945, văn xuôi lãng mạn Việt Nam, tác gia Xuân Diệu, Nam Cao v.v…
- Lớp 12: chuyên đề hình ảnh người lính trong thơ ca Việt Nam
1945- 1975, Tình yêu quê hương đất nước trong thơ ca kháng chiến
v.v…
Hoặc thông qua hình thức các câu lạc bộ văn học như: câu lạc bộ văn
học dân gian, Vườn ươm văn học, hay các cuộc thi, các liên hoan, hội
diễn văn nghệ.Ở đây, các em vừa được kiểm tra kiến thức đã học, vừa
được thể hiện tài năng, năng khiếu văn chương và các khả năng khác của
bản thân mà sau này rất có ích trong cuộc sống như: tập làm người dẫn
chương trình, làm diễn viên, khả năng tổ chức, điều khiển các hoạt động
tập thể, khả năng thuyết trình trước đám đông v.v…
Hình thức thứ ba là bằng các hoạt động tham quan, píc níc, học tập
thực tế ngay trên quê hương.Ở quê hương Nga Sơn, giáo viên có thể tổ
chức cho các em đi đến các địc chỉ: động Từ thức, đền- núi Mai An
Tiêm… kết hợp học tập và tham quan.
Ví dụ: Tổ chức ngoại khoá chuyên đề tác giả Nam cao - ngữ văn
11- chương trình nâng cao. Có thể áp dụng trong một lớp hoặc một vài
lớp tiêu biếu trong khối 11,và tuỳ vào thời gian để lựa chọn câu hỏi và
nội dung chương trình cho phù hợp điều kiện cụ thể ở từng lớp, từng
trường.
* Câu hỏi và nội dung chuẩn bị:
1. Nêu những nét cơ bản về cuộc đời, con người Nam Cao.
2. Nêu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nam Cao.
3. Trình bày quan điểm nghệ thuật của Nam Cao và kể tên những
tác phẩm được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn trước và sau
cách mạng tháng tám năm 1945.
4. Tóm tắt tác phẩm Đời thừa và gải thích ý nghĩa nhan đề.
5. Tóm tắt tác phẩm Chí Phèo và nêu chủ đề của tác phẩm.
6. Phân tích về những giấc mộng văn chương của nhà văn Hộ trong
Đời thừa
khoảng 5-7 phút ( câu hỏi ở phần chuẩn bị),mỗi đội chọn một học sinh
tiêu biểu nhất.
* Hình thức tổ chức:
Có thể chia làm 2,3 hoăc 4 đội tuỳ vào tình hình cụ thể ở từng lớp,
trường.
Đây sẽ là những sân chơi bổ ích giúp các em thay đổi không khí
học tập sau những giờ học tập căng thẳng trên lớp, nhưng quan trọng là
sẽ giúp các em tự học một cách có hiệu quả, mở rộng, khắc sâu kiến thức
ngoài các tiết học trên lớp, rèn luyện các kĩ năng giao tiếp ứng xử,áp
dụng kiến thức trong sách vở vào thực tiễn cuộc sống,tìm được niềm say
mê. yêu thích môn học. Tuy nhiên, muốn thực hiện và tổ chức thành
công hình thức tự học này, bản thân giáo viên phải đầu tư thơì gian, công
sức, trí tuệ. Phải hết sức linh hoạt, chủ động lên kế hoạch báo cáo tổ
chuyên môn, Ban giám hiệu,phối hợp với đồng nghiệp,tổ chuyên môn,
các tổ chức đoàn thể: thanh niên, công đoàn… mới có thể được hỗ trợ về
cả về vật chất lẫn tinh thần.
2.4. Tự học thông qua việc chấm trả bài làm văn
Theo chúng tôi khâu ra đề và chấm trả bài cho học sinh cũng hết
sức quan trọng trong việc giúp học sinh tự học. Về phía người thầy phải
đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ trong việc ra đề và chấm bài., không
được ra đề một cách tuỳ tiện cho học sinh làm bài rồi cho điểm, không
nhận xét khen chê. Khi ra đề phải bám sát nội dung chương trình học,
phù hợp với trình độ học sinh, đề ra có tính chất phân hoá đối tượng học
sinh theo các mức giỏi- khá -trung bình, khuyến khích sự sáng tạo của
học sinh tránh được việc học sinh chép bài trong các tài liệu.
Sau mỗi tiết kiểm tra, luyện tập,thu bài chấm, giáo viên phải biết
trân trọng thành quả lao động của các em. Chấm bài phải phê, nhận xét
những mặt ưu, nhược điểm, sửa các lỗi sai về chính tả, câu, từ… rồi mới
cho điểm. Có như vậy các em mới biết được mình đã làm được gì, chưa
làm được gì, thiếu sót gì để có hướng khắc phục cho các bài tiếp theo, và
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
9. Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố
Hữu.
Những đường Việt Bắc của ta
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng
10.Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố
Hữu.
Mình đi có nhớ những ngày
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Lưu ý : Không bắt buộc học sinh làm tất cả các đề trên mà tuỳ vào
đối tượng học sinh, từng lớp mà yêu cầu các em làm theo khả năng của
mình.Chẳng hạn đối với học sinh trung bình chỉ cần các em làm các đề
1,2,5,8,9,10. Còn các đề 3,4,6,7 dành cho học sinh khá giỏi. Bài làm
dưới hình thức dàn bài chi tiết. Và điều quan trọng là giáo viên không
phải chỉ ra đề cho học sinh tự làm, rồi các em muốn làm hay không làm
cũng không quan tâm. Mà giáo viên phải thu, chấm bài cho học sinh và
phải tranh thủ trong các tiết học phụ đạo, học bồi dưỡng chữa một số đề
khó cho các em. Có như vậy thì hình thức tự học này mới mang lại hiệu
quả.( Hình thức tự học này bản thân tôi đã áp dụng rất có hiệu quả trong
việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn cấp trường, cấp tỉnh hàng năm
trong hoàn cảnh các em phải học nhiều môn học, lịch học ở trên trường
dày kín.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Kết quả từ quan sát thực tế
Quan sát việc học tập trong các giờ học, giờ ôn tập, ngoại khoá và
vở soạn, vở bài tập về nhà của học sinh kết quả như sau :
- Trong các giờ học không khí học tập sôi nổi, nghiêm túc và có
Năm học Điểm
8.0- 10 6.5- 7.9 5.0- 6.4 4.9- 3.0 Dưới
3.0
2008-
2009
8 % 45 % 40 % 7 % 0 %
2009- 10 % 46 % 39 % 5 % 0 %
2010
2010-
2011
9 % 46 % 41 % 4 % 0 %
2011-
2012
11 % 47 % 39% 3% 0 %
2012-
2013
12 % 50 % 37% 1 % 0 %
Hàng năm, số lượng học sinh đăng kí vào các lớp ban KHXH rất
đông, trung bình mỗi khối các năm trước là 3 lớp; hai năm trở lại đây là
2 lớp, trong khi đó nhiều trường số lượng các em đăng kí học ban này là
rất ít, nhiều khi không đủ đủ để xếp một lớp. Con số đó đã nói lên kết
quả giảng dạy đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tinh tự học môn
ngữ văn ở trường chúng tôi đã tạo được niềm tin, sự say mê, yêu thích
môn học của học sinh.
Kết luận
Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tự học môn ngữ văn
là công việc không giản đơn, có con đường chung nhưng cũng có nghệ
thuật riêng ở từng người, từng trường, áp dụng cho từng lứa học sinh qua
mỗi năm.Do vậy, ở đây chúng tôi chỉ xin nêu ra một số kinh nghiệm
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết,
không sao chép nội dung của người
khác.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Người thực hiện
Trần Thị Mai