SKKN một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác BDGSG môn ngữ văn (bản sửa) - Pdf 38

1. Phần mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có
vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.
Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư
tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công
cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong
các nhà trường phổ thông. Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực tới các môn
học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Văn. Điều
đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành,
gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống .
Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, mà cuộc sống bao giờ cũng bề bộn
và vô cùng phong phú. Mỗi tác phẩm văn chương là một mảng cuộc sống đã
được nhà văn chọn lọc phản ánh. Vì vậy môn Văn trong nhà trường có một vị trí
rất quan trọng: Nó là vũ khí thanh cao, đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn
tình cảm của con người, nó bồi đắp cho con người trở nên trong sáng, phong phú
và sâu sắc hơn. M.Goóc- Ki nói : ''Văn học giúp con người hiểu được bản thân
mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở con người khát vọng
hướng tới chân lý". Văn học "Chắp đôi cánh" để các em đến với mọi thời đại
văn minh, với mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống ,
con người, trang bị cho các em vốn sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân,
thiện mỹ.
Nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn là phải làm cho học sinh hiểu được
cái hay cái đẹp cuả văn học, kích thích sự hứng thú học tập học Văn cho học
sinh .Một giờ dạy Văn là phải tạo ra được những rung động thẩm mỹ, sâu sắc
khiến người ta say mê. Song nhiệm vụ không kém phần quan trọng của giáo
viên dạy văn ở trường THCS là rèn luyện kỹ năng văn học cho học sinh. Thực ra
không phải từ khi đến trường các em mới có cảm xúc thẩm mỹ, mới có năng lực
cảm thụ cái đẹp. Ngay từ thưở còn nằm trong nôi qua lời ru của bà, của mẹ, lớn
lên nghe hát, nghe ngâm thơ ... Qua các nghệ thuật ấy các em đã tiếp xúc với
văn chương. Vì thế đến trường thông qua học tác phẩm văn chương những cảm

sinh giỏi thực sự hết sức lo lắng, trăn trở bởi họ đã bỏ ra nhiều công sức, lăn lộn
với học sinh mà hiệu quả chưa cao, chất lượng đội tuyển vẫn thấp. Là một giáo
viên đã nhiều năm tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tôi đã nắm bắt
được tình hình này, tôi nhận thấy cần quan tâm tới công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn” để nghiên cứu, để có những suy nghĩ sâu
sắc hơn về năng lực cảm thụ của học sinh.
Một lý do nữa khiến tôi chọn đề tài này là hai năm liên tục trở về đây tôi
được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi khối 9. Mặc dù kết quả chưa cao,
song đó cũng là một thành công bước đầu của tôi trong việc áp dụng những
phương pháp, biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Tôi mạnh dạn đưa
ra để anh chị em đồng nghiệp tham khảo, hi vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ
này phần nào giúp anh chị em đồng nghiệp tháo gỡ những vướng mắc về công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS.
1.2. Phạm vi áp dụng

Từ thực tế giảng dạy nhiều năm ởp lớp 9, người viết đưa ra những kinh
nghiệm việc bồi dưỡng học sinh giỏi trong giảng dạy môn Ngữ văn, đặc biệt là
môn Ngữ văn 9. Qua đây, người viết mong quý thầy cô giáo sẽ nghiên cứu vận
dụng quá trình dạy học môn Ngữ văn 9 nói riêng và bộ môn Ngữ văn ở cấp
THCS nói chung.
2. Phần nội dung
2.1. Thực trạng của nội dung nghiên cứu
a. Thực trạng chung
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn nhằm phát hiện tài năng nâng
cao năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh. Đây là việc diễn ra thường
xuyên hàng năm ở các cấp học. Và cũng hằng năm Sở GD và Phòng GD & ĐT
2



tránh khỏi tình trạng giáo viên được phân công tìm lí do để từ chối hoặc tham
gia bồi dưỡng nhưng không đến nơi đến chốn...Thực tế này đã ảnh hưởng không
nhỏ tới chất lượng của đội ngũ học sinh giỏi của trường nói chung và của môn
Ngữ Văn nói riêng.
Chính vì vậy, hiện nay các cấp lãnh đạo và đội ngũ giáo viên trong nhà
trường đang trăn trở tìm kiếm những giải pháp tối ưu nhất để nâng cao chất
lượng hiệu quả công tác với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi .
Một khó khăn nữa của giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi đó là vấn đề tài
liệu, nhất là phương pháp, hình thức bồi dưỡng. Kinh nhiệm thì chưa có là bao
mà những bài viết, những chuyên đề về vấn đề này còn qúa ít. Chính từ những
lý do này mà các giáo viên rất lo lắng khi được phân công bồi dưỡng, đặc biệt có
những đồng chí tìm lý do này, lý do khác để từ chối bồi dưỡng đội tuyển. Đây là
một tình hình thực thế mà tôi nắm bắt được thông qua trao đổi, gặp gỡ trực tiếp
3


với một số giáo viên bồi dưỡng đội tuyển ở trường. Thực tế trên đã giúp tôi nhận
thức sâu sắc hơn về công tác này.
b. Thực trạng trước lúc nghiên cứu
Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả bồi dưỡng học sinh
giỏi qua một số năm học như sau:
Từ 2007-2008: có 5 em dự thi huyện nhưng không đạt giải.
Từ 2008-2010 : 02 giải huyện, 02 giải tỉnh.
Nhưng sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tiễn bồi dưỡng
học sinh giỏi từ 2011 đến nay thì kết quả thay đổi rõ rệt. Học sinh chủ động và
lạc quan khi tham gia vào đội tuyển ,học tập sôi nổi có hứng thú và tin tưởng
vào kết quả khi làm bài. Chủ động tích cực trong việc học tập, nghiên cứu trong
sự giúp đỡ hướng dẫn của giáo viên bồi dưỡng. Hàng năm có từ 5 – 6 em tham
gia vào đội tuyển đều đạt kết quả rất khả quan. Số lượng học sinh giỏi tỉnh tăng
rất nhiều so với trước đây. Liên tiếp trong nhiều năm đều số lượng học sinh tình

SL

(%)

SL

(%)

6A

42

0

0

13

30,9

24

57,2

5

11.9

6C


15

44,1

4

11,8

7B

35

0

0

12

34,2

18

51,4

5

14,4

8A


16

51,6

5

16,2

9A

39

1

2,6

13

33,3

19

48,6

6

15,5

4


Như đã nói ở trên khó khăn lớn nhất của các giáo viên dạy bồi dưỡng học
sinh giỏi là tài liệu, sách tham khảo còn quá nghèo nàn, vì vậy mà các giáo viên
phải mày mò sáng tạo ra những phương pháp cho phù hợp với từng bộ môn.
Trước thực trạng đã nêu ở trên, giáo viên làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
cần phải nắm được các nguyên tắc cơ bản, có những biện pháp cụ thể và hình
thức bồi dưỡng phù hợp thì việc bồi dưỡng mới có kết quả
2.2.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc bồi dưỡng.
- Việc bồi dưỡng học sinh giỏi phải gắn liền với giáo dục tư tưởng, đạo
đức, các em vừa được bồi dưỡng và phát huy năng khiếu vừa được có ý thức học
tập và học tập nghiêm túc các môn học khác.
- Bồi dưỡng học sinh giỏi là phải làm cho học sinh ý thức được ý nghĩa ý
thức được ý nghĩa tầm quan trọng của môn học đặt trong mối quan hệ biện
chứng với các môn học khác.
- Bồi dưỡng học sinh giỏi phải liên tục và có tính hệ thống.
- Bồi dưỡng học sinh giỏi là phát huy tối đa khả năng tích cực chủ động
sáng tạo của học sinh.
- Tránh các khuynh hướng ''Nuôi gà chọi’’, ''Thành tích chủ nghĩa’’,
''Tính thời vụ’’.
- Phải động viên được sự quan tâm của tập thể học sinh, nhất là giúp đỡ,
động viên của gia đình và các đoàn thể địa phương đối với việc bồi dưỡng học
sinh năng khiếu. Đồng thời bản thân học sinh có năng khiếu, phải phát huy được
vai trò tích cực đối với việc học tập của tập thể. Sau đây là những phương pháp
mà tôi đã thực hiện và đúc rút được qua từng năm học về công tác này.
2.2.2. Một số biện pháp và hình thức bồi dưỡng.
1. Thành lập đội tuyển
Việc thành lập đội tuyển phải dựa trên cơ sở năng lực thật sự của các
em.Ngoài ra , chúng ta cần chú ý đến tâm lí của các em , tìm hiểu xem các em
có yêu thích môn văn không ? Nếu là HSG thì các em đều giỏi ở nhiều môn, ta
cần chọn các em vào đội tuyển dựa trên sự tự nguyện của các em, tránh áp đặt.
5

a. Tổ chức kiểm tra năng lực, năng khiếu của học sinh:
Đây là công việc đầu tiên của người giáo viên dạy bồi dưỡng. Mỗi giáo
viên phải nắm được năng lực của từng học sinh trong đội tuyển: năng lực diễn
đạt, năng lực cảm nhận, năng lực sáng tạo...Công việc này được tiến hành bằng
cách giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra tại lớp. Sau khi đã có bài
giáo viên chấm chữa bài cho học sinh lấy kết quả, phân loại chất lượng học sinh
để có kế hoạch bồi dưỡng. Việc kiểm tra đánh giá phải chặt chẽ, khách quan,
khoa học. Đề ra nên phân hóa tốt để phát huy những điểm mạnh của học sinh.
Có câu cảm thụ để kiểm tra năng lực cảm thụ tác phẩm, có câu kiểm tra năng lực
nhận thức, nhìn nhận về đời sống có câu sáng tạo, có câu thiên về sáng tạo, hư
cấu để học sinh bộc lộ năng khiếu văn chương ,... Tuy nhiên, ở chương trình
THCS, đánh giá học sinh vẫn chủ yếu thiên về năng lực. Năng khiếu là nền tảng,
cơ sở để học sinh phát huy khả năng của mình. Môi trường giáo dục chỉ có tính
định hướng chứ không thiên về bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh.
6


b. Kiểm tra khả năng nắm kiến thức cơ bản của học sinh.
Sở dĩ phải có bước này bởi một yêu cầu đối với học sinh giỏi là phải nắm
vững kiến thức cơ bản cái gọi là phần “nền”, rồi mới khơi gợi và nuôi dưỡng,
phát triển cảm xúc, lòng yêu mến văn chương và nhu cầu sáng tạo nghệ thuật
cho các em. Đây là biện pháp có tính phương pháp, thậm chí gần như một
nguyên tắc trong dạy học văn cho học sinh giỏi.
2. Lập kế hoạch bồi dưỡng.
Từ phía nhà trường
Thứ nhất, phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG vào đầu năm học, các kế
hoạch này phải mang tính kế thừa. Kế hoạch cần phải chi tiết, cụ thể từng nội
dung. Kế hoạch cần có sự đóng góp xây dựng của các tổ trưởng, đặc biệt là
những người được phân công bồi dưỡng HSG.
Thứ hai là: sau khi xây dựng kế hoạch, Ban giám hiệu cần chú trọng phân


Chương trình có sự cân đối, hài hòa hợp lí giữa các phân môn nhằm đảm
bảo rèn luyện năng lực toàn diện cho học sinh. Tránh quá thiên về một lĩnh vực
nào đó.
- Chương trình phải có tính vừa sức.
Chương trình dù là học sinh giỏi thì người dạy cũng cần hiểu là phải phù
hợp với đối tượng học sinh. Chú ý đặc điểm tâm lí lứa tuổi và khả năng tiếp
nhận của học sinh. Không quá nâng cao, đánh đố.
- Chương trình phải có tính phân hóa.
Tính phân hóa ở đây là phân hóa về kiến thức với từng đối tượng. Bồi
dưỡng học sinh giỏi cũng cần phải đi từ dễ đến khó. Từ đơn giản đến phức tạp,
có khả năng thích hợp với nhiều đối tượng với các sở trường khác nhau. Ví dụ
về giảng Văn, giáo viên bố trị một lượng chương trình phù hợp về văn học trung
đại, cũng phải có mức kiến thức dành cho thơ trữ tình lãng mạn, cũng có loại
thiên về ca ngợi cuộc sống, ...
- Chương trình phải có tính hệ thống.
Tác phẩm văn chương có tính độc lập chỉnh thể, nhưng không phải là lộn
xộn, tùy ý. Tính hệ thống thể hiện ở chỗ cần sắp xếp theo chiều dọc chương
trình chính khóa, hay theo sự xuất hiện của thời gian, hay theo chủ đề. Có phân
môn, phân nhóm kiến thức để học sinh dễ hình dung, dễ nhớ. Ví dụ, chương
trình văn học Việt Nam sau 1945 có thể hệ thống theo:
+ Nhóm thơ Việt Nam hiện đại: thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
+ Nhóm truyện hiện đại Việt Nam: truyện ra đời trong cuộc kháng chiến
chống Pháp và truyện ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Sắp xếp lượng kiến thức giữa phân môn phù hợp với yêu cầu. Vì mục đích
cuối cùng của học sinh là tạo lập được một văn bản đầy đủ về nội dung và hình
thức. Để làm được điều đó, khi lên chương trình bồi dưỡng giáo viên cần phải
chú ý đến tính thống nhất giữa các phân môn. Hơn nữa, đối với từng phân môn
cần phải đảm bảo đúng đặc trưng của từng phần đối với phân môn Tiếng Việt.
Khi giáo viên bồi dưỡng cho học sinh. Ngoài việc củng cố cho các em : cách

giang đại hải, dạy đến đâu hay đấy.
Yêu cầu về nội dung: căn cứ vào hướng dẫn của Sở giáo dục và đào tạo,
từ thời lượng cho phép để giáo viên lựa chon nội dung phù hợp với đối tượng
học sinh.
3. Biện pháp thực hiện.
a. Bồi dưỡng từ lớp 6
Đồng thời cho học sinh học trước trước chương trình lớp 7, tạo điều kiện cho
những học sinh 8 tham dự thi học sinh giỏi cùng học sinh 9 và để lớp 8 sẽ có
thời gian học trước chương trình 9.
b. Dạy kiến thức cơ bản
* Cung cấp những kiến thức về lý luận văn học và văn học sử cho học
sinh.
Đối với phần kiến thức lí luận chung
Qua một số năm giảng dạy, tôi nhận thấy, ở lớp 8 học sinh chưa được học
những kiến về thức lý luận văn học, các em hiểu những khái niệm về lý luận văn
học còn mơ hồ. Giáo viên cần dựa vào xác định những kiến thức lí luận cơ bản
cho học sinh đặc trưng, chức năng cơ bản của văn học, hay là về văn dân gian,
văn học viết, văn học, đề tài văn học, chủ đề văn học. Về tác phẩm trữ tình, giáo
viên cần cung cấp cho học sinh một số thuật ngữ như nhân vật trữ tình, giọng
điệu, hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, đặc điểm một số thể
loại thơ, ... Về tác phẩm tự sự, học sinh phải hiểu được nhân vật truyện, nhân
vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, điểm
nhìn trần thuật, tình huống truyện, cốt truyện... Vì vậy mà giáo viên cần cung
9


cấp những kiến thức lí luận này cho học sinh, giúp học sinh hiểu rõ hơn để từ đó
học sinh biết vận dụng nó khi phân tích, cảm thụ tác phẩm văn chương.
Đối với phần kiến thức về văn học sử
Trong chương trình THCS, học sinh không chính thức được học về tiến

Minh chúng ta có thể mở rộng về tình hình cách mạng những năm trước Cách
mạng tháng 8 (năm 1942, 1943). Giới thiệu một số tác phẩm cùng đề tài về thiên
nhiên, về giá trị nhân đạo, về tinh thần thép, hay khát vọng tự do của người
chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.
Dạy sâu là dạy có tinh lí giải, xoáy sâu, cặn kẽ vấn đề để hiểu bản chất
của vấn đề, tránh chiếu lệ, qua loa, chung chung. Ví dụ, khi dạy về bài “Ngắm
trăng” của Hồ Chí Minh (trích “Nhật kí trong tù”), ở phần dịch thơ trong hai câu
10


cuối là “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ - Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà
thơ”, nếu chúng ta không đối chiếu với nguyên tác chữ Hán thì không thấy được
cái sâu sắc của hai câu kết. Nguyên tác là “Nhân hướng song tiền khán minh
nguyệt – Nguyệt tòng song khích khán thi gia”. Như vậy bản dịch đã làm mất đi
cái “song” cửa sắt của nhà tù và từ dịch từ “khán” thành là “nhòm” nghe rất
khiếm nhã (nhòm là vụng trộm, lén lút, không lịch sự). Dịch như vậy không thấy
được cái giao hòa tuyệt vời giữa con người thi sĩ và vầng trăng trong tâm thế
chủ động của hai bên người và trăng. Thi nhân khát khao giao hòa với thiên
nhiên nên chủ động (hướng) đến vầng trăng, và vầng trăng cũng chủ động (tòng)
tìm đến thi nhân như một mối giao cảm đặc biệt. Người và trăng – trăng và
người như hai người bạn tri kỉ. Họ vượt qua cái song sắt lạnh lẽo của nhà tù một
cách ngoạn mục để đến với nhau như một mối tình tri kỉ không gì ngăn cản
được. Phép đối và cách nhân hóa vầng trăng phát huy hết tính năng nghệ thuật
của nó. Cái lạnh lẽo của hiện thực nhà tù thật vô nghĩa, thay vào đó là tâm hồn
phơi phới, lãng mạn, yêu cuộc đời, yêu thiên nhiên của thi sĩ chiến sĩ vĩ đại Hồ
Chí Minh.
Biết tích hợp phân môn và liên môn là cách thể hiện tốt chiều rộng và chiều
sâu kiến thức bộ môn. Thông thường một đề thi học sinh giỏi Văn có hai phần:
Phần văn học, phần tiếng Việt và phần Làm văn. Vì vậy trong quá trình bồi
dưỡng giáo viên không được bỏ qua ôn luyện giảng dạy tiếng Việt. Đặc biệt

Vì vậy mà giáo viên phải dành một khoảng thời gian nhất định, có ít nhất là từ 5
buổi học để rèn kỹ năng lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn...
Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên không chỉ ôn luyện cho
các em những kiến thức nội dung thuần túy mà giáo viên nên tập trung bồi
dưỡng kĩ năng cơ bản để phục vụ cho việc củng cố vốn kiến thức mà các em đã
có để chuyển tải được lượng kiến thức đã học thành kiến thức của riêng mình.
Bởi đối tượng được bồi dưỡng ở dây là học sinh giỏi. Cho nên việc củng cố
phát triển kĩ năng là vô cùng quan trọng. Sau đây tôi xin nêu một vài biện pháp
bồi dưỡng và phát triển kĩ năng cho học sinh.
Thứ nhất là kĩ năng cảm thụ văn chương.
Như chúng ta đã biết, học Văn là một quá trình tổng hòa nhiều cách thức
nhiều thao tác ở nhiều không gian, thời gian khác nhau. Bằng nhiều giác quan và
nội lực của người học. Vì vậy, học Văn trong nhà trường là để biết thưởng thức,
biết tự giải mã tác phẩm văn chương nghĩa là học những kiến thức phương pháp
cơ bản nhất liên quan đến vấn đề văn chương. Một vấn đề được đặt ra cho người
giáo viên dạy Văn nói chung cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng là
dạy theo cách nào để đạt hiệu quả tối ưu ?
Với việc bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên cần hưỡng dẫn cho học sinh
các thao tác kĩ năng cảm thụ các tác phẩm văn học.
Đầu tiên phải nói đến kĩ năng phân tích nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm. Với vấn đề này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nắm được những
đặc trưng cơ bản của từng thể loại văn học. Trên cơ sở đó, học sinh có hướng
phân tích cụ thể. Chẳng hạn phân tích một tác phẩm truyện sẽ khác với phân tích
một tác phẩm thơ. Với tác phẩm truyện cần chú ý đến nhân vật truyện, cốt
truyện, tình huống truyện, ngôn ngữ đối thoại nhân vật, tâm lí, tình cảm, về
không gian, thời gian nghệ thuật, ngôi kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, kết thúc
tác phâm, … trong đó, có bản nhất cần chú ý là cốt truyện và nhân vật truyện .
Cảm thụ thơ phải chú ý đến nhân vật trữ tình, hình ảnh, hình tượng ngôn ngữ,
giọng điệu nhạc điệu tiết tấu, thể thơ cảm xúc của nhà thơ, …
Những chi tiết chọn lọc để phân tích tác phẩm phải là những chi tiết tiêu

tri thức của bản thân mình một cách sáng tạo. Do đó việc bồi dưỡng kĩ năng đọc
sách tham khảo một cách khoa học đúng đắn sẽ góp phần không nhỏ trong việc
rèn luyện năng lực văn chương cho các em.
Thứ ba là bồi dưỡng kĩ năng xử lí đề thi và trình bày vấn đề ( tạo lập văn
bản).
Mục đích của việc học không phải là để đi thi, nhưng các kì thi là thước
đo để kiểm tra năng lực học sinh. Sản phẩm cuối cùng chứng minh cho thực lực
các em chính là bài thi. Đó là một sản phẩm giao tiếp cần đến độ hoàn chỉnh cao
nhất. Để sản phẩm này tốt học sinh cần có kĩ năng tiếp cận và xử lí nhanh, tốt
yêu cầu đề thi. Đó là cách nhận dạng đề, phân phối thời gian ho từng câu hợp lí,
kĩ năng xây dựng dàn ý, đề cương để tổ chức bài làm một cách khoa học, rõ
ràng. Thực tế nhiều em kiến thức rất tốt nhưng trình bày không rõ ràng, không
logic, trình tự thiếu hợp lí, khoa học nên bài làm không đạt được điểm ưu tú.
Kĩ năng trình bày bài làm là cực kì quan trọng. Nói đến kĩ năng trình bày
(tạo lập văn bản) phải nói đến cách diễn đạt, cách sắp xếp triển khai bài viết
cũng như cách điều chỉnh thời lượng bài viết cho phù hợp với học sinh. Đặc biệt
đối với học sinh giỏi thì những kĩ năng này lại phải càng chú trọng hơn. Nếu
chúng ta không làm tốt được những việc này thì dù học sinh có nắm chắc kiến
thức cơ bản bao nhiêu đi chăng nữa thì kết quả cuối cùng vẫn không đạt như
mong muốn.
Bởi một yêu cầu đầu tiên đối với bài viết của học sinh nói chung và học
sinh giỏi nói riêng là chữ viết phải rõ rang đúng chính tả. Cách dùng từ đặt câu
phải thật chính xác chuẩn mực. Cách khai triển bài đoạn văn bài văn phải lôgic,
chặt chẽ. Cho nên giáo viên phải rèn cho học sinh làm tốt những kĩ năng này.
13


Điều đó đòi hỏi phải có thời gian để các em rèn luyện. Đồng thời giáo viên phải
kèm cặp sát sao chỉ bảo chấm chữa bài tập kịp thời và động viên khích lệ sửa
chữa uốn nắn học sinh kịp thời giúp học sinh phát triển kĩ năng một cách tự

phải có hệ thống bài tập ứng dụng với từng loại. Thường thì học sinh có thói
quen khi làm bài tiếng Việt là hay trả lời vắn tắt, nhưng đối với học sinh giỏi thì
phải trình bày rõ ràng, mạch lạc khoa học cho nên giáo viên phải hướng dẫn cụ
thể cho học sinh từ cách trình bày, cách phân tích giá trị của từ, biện pháp tu từ...
VD : Khi phân tích giá trị của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu thơ:
14


Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh cách trình bày của một bài tiếng
Việt với những bước sau:
- Giới thiệu câu thơ.
- Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu thơ.
- Phân tích giá trị tu từ của biện pháp làm nổi bật chủ đề tư tưởng của bài
thơ.
- Nêu những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét đánh giá về cách sử dụng biện
pháp tu từ đó của nhà thơ.
Trên đây là những kĩ năng cơ bản mà bồi dưỡng học sinh giỏi - giáo viên
cần phải chú trọng.
Thứ tư là bồi dưỡng học sinh kĩ năng tự học
Tự học là yêu cầu cần thiết nhất đối với học sinh giỏi. Đó là cách nhanh
nhất để học sinh hoàn thiện năng lực bản thân mà không cần đến sự kèm cặp của
thầy cô (tất nhiên phải qua sự hướng dẫn của giáo viên). Kĩ năng tự học thể hiện
ở chỗ các em tự xây dựng cho mình mục tiêu, kế hoạch, xây dựng thời gian biểu
họp lí cả ở lớp và về nhà; Lập yêu cầu cho môn học; Tự tiếp cận và giải quyết
các vấn đề mới mẽ trên cơ sở kiến thức cũ; Tự tìm kiếm thông tin cho bài học;
Tự kiểm tra đánh giá bản thân.
Về phần này, giáo viên cần gợi ý một số vấn đề liên quan đến bài học
chính ở trên lớp, yêu cầu học sinh giải quyết tự nguyện; giáo viên giới thiệu cho

theo tiến trình của lịch sử văn học, không nên trình bày lộn xộn, nhớ tới nhân
vật nào thì nói tới nhân vật ấy .
Phải hướng dẫn các em biết chủ động mở rộng và thu hẹp về dung lượng
bài viết theo giới hạn khác nhau mà bài viết vẫn giàu cảm xúc và thể hiện bật
nổi tư tưởng, chủ đề. Đây là hình thức quan trọng và phải tiến hành thường
xuyên bởi học sinh càng làm quen với nhiều dạng đề, càng viết nhiều thì sẽ
thành thói quen, có nhiều kinh nghiệm khi viết '' Trăm hay không bằng tay
quen”,... Bên cạnh việc rèn luyện kỹ năng, viết bài, hình thức này còn cung cấp
bổ sung rất nhiều kiến thức cho học sinh.
Một yêu cầu đối với hình thức này là phải cho học sinh thực hành trên lớp,
hạn chế ra bài tập cho học sinh về nhà bởi ở nhà học sinh thường có thói quen
tham khảo, sao chép nhiều trong tài liệu .Vì vậy bài viết sẽ không thể hiện được
thực chất khả năng , năng lực vốn có của học sinh .
h. Tiếp cận dạng đề thi các cấp
Tiếp cận đề thi các cấp giúp học sinh làm quen với các dạng câu hỏi, các
kiểu bài thi qua sự gợi ý về yêu cầu đề, học sinh có thể đưa ra đáp án gần nhất
cho yê cầu đề. Tiếp cận các dạng đề thi sẽ luyện tập cho học sinh khả năng ứng
phó linh hoạt, “phòng ngừa” những lắt léo, những chỗ đánh đố của người ra đề.
Đối với môn Ngữ văn, kiểu đề thi tổng hợp rất thường gặp, hay các dạng đề nghị
luận xã hội và đề vận dụng kiến thức văn chương để giải quyết một vấn thường
xuyên xuất hiện trong cấu trúc đề thi, điểm chung ở đây là các đề thi học sinh
giỏi thường xoáy vào thể nghị luận để học sinh đáp ứng yêu cầu.
Có kiến thức văn học và kỹ năng viết là cần thiết trong một bài văn nghị
luận, nhưng điều đó chưa đủ những yếu tố để đảm bảo thành công trong một bài
viết. Điều quan trọng trong một bài văn nghị luận là học sinh phải xác định được
yêu cầu của đề ra, định hướng, tìm ý và lập được dàn ý. Có những học sinh tuy
có kiến thức văn học rất phong phú nhưng khả năng phân tích và hiểu đề chưa
tốt cũng rất dễ dẫn đến việc lạc đề, viết tản mạn, lan man không hướng vào yêu

16

sống đẹp hơn, và văn học phải đấu tranh vì cuộc sống.
- Giải thích tại sao ?
+ Văn học do con người sinh ra, vì con người phục vụ. Con người luôn
sống trong hiện thực cuộc sống sinh động, phong phú với đầy đủ ý nghĩa của
cuộc sống.
+ Văn học phải có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống. Muốn phản ánh được
cuộc sống thì nhà văn không thể thoát li mà phải đi vào cuộc sống để khám phá,
tìm tòi, sáng tạo. Phản ánh chân thực cuộc sống thì nhà văn mới sáng tạo được
những tác phẩm là tấm gương phản chiếu cuộc đời. ( Thơ trước hết là đời sau đó
mới là nghệ thuật)
- Bình luận:
17


+ Khẳng định cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi đến của văn học.
Đó là một chân lý có tính chất phổ quát trong lịch sử văn học từ xưa đến nay.
+ Phê phán khuynh hướng văn học thoát li hiện thực, xa rời hiện thực,
nghệ thuật vị nghệ thuật, thứ văn chương làm xiết ngôn từ, chỉ chú trọng về câu
chữ không phục vụ nhân sinh, dẫn con người vào bế tắc.
- Chứng minh:
+ Nguyễn Trãi nếu không có những năm tháng sống ở “ Góc thành nam
lều một gian” và 6 năm cùng Lê Lợi nếm mật nằm gai ở rừng núi Lam Sơn
trong những ngày gian khổ chống quân Minh thì không thể có áng thiên cổ hùng
văn “Bình ngô đại cáo”.
+ Nguyễn Du nếu không có 15 năm gió bụi cùng với những câu ca dao
nuôi dưỡng tâm hồn từ thuở thiếu thời thì không thể có một Truyện Kiều tuyệt
tác.
+ Các nhà văn, nhà thơ hiện đại Việt Nam đều chủ trương: sống đã rồi
hãy viết hoặc sống và viết (Nam Cao, Nguyễn Tuân, Hồ Chí Minh). Nhà văn
phải sống với nhân dân, lấy cảm hứng cho đời từ nhân dân. Điều đó đã chứng

người sáng tạo ra cũng phải vì con người mà phục vụ. Vì con người là trung tâm
của vũ trụ ,của cuộc đời (Tất cả ở trong con người ,tất cả vì con người .Con
người hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và hùng tráng xiết bao ! ) - (Gorki ), con
người là nét tinh túy nhất của cuộc sống. Cho nên con người là trung tâm của tác
phẩm văn học trên những trang thơ, truyện ngắn, kịch hay là những tác phẩm đồ
sộ, những tiểu thuyết.
+ Dùng những dẫn chứng văn học để chứng minh văn học xuất phát từ
cuộc sống và tâm điểm của văn học là con người (qua một số những tác phẩm
truyện, tiểu thuyết, kịch trong văn học Việt Nam và văn học nước ngoài để làm
sáng tỏ các luận điểm đó.
- Mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của một chặng
đời sống con người ta, trên con đường dài dằng dặc đi đến cõi hòan thiện nghĩa
là như thế nào ?
+ Hầu hết những nhà văn trên thế giới đều khai thác một mảng nhỏ của
đời sống ( Nam Cao với cái đói, cái rét và sự bần cùng hóa, lưu manh hóa của
người nông dân).
+ Có những nhà văn cá biệt: ngòi bút của họ có thể phản ảnh cuộc sống
với tầm vóc sâu rộng của nó trên trang viết (Ban zăc với bộ tấn trò đời, Lỗ Tấn
với AQ chính truyện, Vichto HuyGo với “Những người khốn khổ”). Còn lại đa
số là các tác phẩm là những lát cắt từ hai vòng tròn đồng tâm khổng lồ là văn
học và đời sống.
+ Tất cả những “lát cắt” của văn học ấy cuối cùng đều dẫn đến người ta
đến cõi hòan thiện. Như vậy tác phẩm văn học mới thật sự là chân chính , nó sẽ
tồn tại qua thời gian (chức năng giáo dục của văn học). Con người sẽ soi lại
mình qua tác phẩm văn học, nhận ra lẽ đúng sai, thật giả và sẽ sống tốt hơn. Văn
học sẽ đưa con người đến chân, thiện, mỹ.
+ Dùng một số tác phẩm văn học để chứng minh “ Văn học chân chính có
khả năng nhân đạo hóa con người” chẳng hạn như Truyện Kiều, các truyện ngắn
của Nam Cao, văn học nước ngoài v.v... Phân tích ý nghĩa nhân đạo của các tác
phẩm trên có thể tác động vào tình cảm, đạo đức của con người, đó là hành trình

cần thiết khi làm bài và vận dụng hợp lý các thao tác lập luận trong một bài văn
nghị luận.
Ra đề làm bài văn trên lớp, kể cả bài viết ở nhà để học sinh viết theo
thời gian ấn định. Giáo viên chấm, phát hiện những ưu và nhược điểm của mỗi
học sinh. Chữa lỗi bài làm của học sinh cẩn thận, đầy đủ, giúp học sinh thấy và
phát huy những mặt tốt và khắc phục được những điểm còn hạn chế.
Giáo viên có thể dành một số buổi học ra đề bài để các em trong đội tuyển
làm từ 150-180 phút.
Đây là cơ sở để giáo viên nắm bắt khả năng của học sinh trên nhiều
phương diện, từ cách hiểu đề, xác định yêu cầu của đề ra, tìm ý và lập ý đến
cách hành văn trong một bài làm cụ thể. Năng lực viết và cảm thụ văn học của
học sinh cũng bộc lộ rõ từ đây. Kết quả cuối cùng trong một quá trình học tập
vất vả, gian khổ được thể hiện tất cả trên mấy trang viết qua ba tiếng đồng hồ.
Vì thế từ những bài làm đó giáo viên sẽ chấm và chữa lỗi thật kỹ, nhận xét thật
đầy đủ và thấu đáo bài làm của học sinh từ góc độ về ý có đầy đủ, phong phú
hay nghèo nàn hoặc thiếu ý. Từ cách diễn đạt của học sinh cũng được thể hiện rõ
ràng như viết câu, dùng từ, có trong sáng gãy gọn chưa? Văn viết có trong sáng
hình ảnh và cảm xúc chưa ? đến cách trình bày, chữ viết có đúng và đạt yêu cầu
thẩm mỹ không ? đến lỗi chính tả cũng phải rất hạn chế trong bài làm. Thói
quen viết tắt và viết chưa đúng qui tắc của tiếng việt là điều rất nhỏ mà giáo viên
đọc bài cũng phải hết sức lưu tâm và nhắc nhở học sinh. Giáo viên phải nhận xét
cụ thể từ ưu điểm đến khuyết điểm của mỗi bài làm của các em để các em phát
20


huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm hạn chế trong tòan bộ bài viết
của mình.
Theo tôi điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi kết quả cuối cùng
trong kỳ bồi dưỡng chỉ gói gọn trong một bài thi 180 phút. Tất cả là thể hiện ở
đó và kết quả cũng ở đó. Vì vậy việc cho học sinh làm bài như vậy có ý nghĩa

định một đến hai buổi học cho học sinh thảo luận những kiến thức đã được học ,
tập hợp những ý kiến thắc mắc, băn khoăn, vướng mắc để giải đáp bổ sung củng
cố lại giúp các em có một lượng kiến thức vững vàng trước kỳ thi.
Trên đây là một số biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi mà tôi
đã áp dụng trong những năm trở về đây. Sau đây là kết quả mà tôi đã đạt được:

21


Qua hai năm áp dụng, chất lượng thực bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 9
tăng rõ rệt, đặc biệt là tỉ lệ học sinh giỏi bộ bộ môn trong năm học 2012-2013
tăng rõ rệt so với năm trước.
Kết quả khảo sát chung :
- Năm học 2011-2012:
Lớp

Số
lượng

8 38

Giỏi

Khá

SL

%

SL %


%

5,3

0

0

36

94,7

- Năm học 2012-2013: (Lớp 8 lên lớp 9)
Lớp

Số
lượng

9 37

Giỏi

Khá

SL

%

SL %


%

0

0

0

37

60

Kết quả thi học sinh giỏi qua các kì thi các cấp:
- Năm học 2009-2010: 01 giải khuyến khích huyện môn Văn
- Năm học 2010 – 2011 : giải ba huyện, khuyến khích tỉnh môn Văn
- Năm học 2010-2011: giải nhì huyện, giải nhì tỉnh môn Văn
- Năm học 2012-2013: Giải 3 huyện, giải khuyến khích tỉnh môn Văn
- Năm học 2013-2014: Hướng dẫn học sinh đạt giải 3 kì thi “Vận dụng
kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề trong thực tiễn”.
- Năm học 2014-2015: giải 3 môn văn cấp huyện, giải khuyến khích môn
Văn cấp tỉnh.
Như vậy, dù số lượng HSG qua các năm học không nhiều (do đặc điểm
trường không có nhiều yếu tố hạt nhân cho đội tuyển Văn; học sinh tham gia dự
thi nhiều môn khác, không lựa chọn môn Văn,...) nhưng chất lượng học sinh
giỏi qua các năm có tính bền vững cao. Điều đó cho thấy được tính hiệu quả cảu
việc vận dụng đề tài sáng kiến trong thực tiễn giảng dạy.
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác trọng tâm ở các trường phổ thông nói

kịp thời những giáo viên trực tiếp dạy bồi dưỡng cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho giáo viên : Tài
liệu, sách tham khảo ...
- Thường xuyên kiểm tra công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi về công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Ngữ Văn 9 được thực hiện tại trường tôi đang công tác. Vì điều kiện
thời gian nghiên cứu có hạn và trình độ năng lực hạn chế, đề tài của tôi chắc
chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Do vậy tôi rất mong được sự góp ý của các đồng
nghiệp và cán bộ phụ trách chuyên môn. Tôi xin chân thành cảm ơn.

23


Quảng Trạch, ngày 15 thánh 05 năm 2015
Người viết

Hoàng Văn Toản
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
.................................................................
.................................................................
.................................................................
.................................................................
.................................................................
CHỦ TỊCH HĐKH TRƯỜNG
(Ký tên, đóng dấu)

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD-ĐT
.................................................................
.................................................................
.................................................................


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status