PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG TH&THCS PHÚ SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUA
CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO
THÔNG TƯ 22/2016/TT-BGDĐT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ PHÚ SƠN, BỈM SƠN
Người thực hiện: Phạm Thị Hường
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường TH&THCS Phú Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lí
BỈM SƠN NĂM 2018
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
A. MỞ ĐẦU
1
I.Lí do chọn đề tài
1
II.Mục đích nghiên cứu
2
III.Đối tượng nghiên cứu
2
về kiến thức, năng lực, phẩm chất.
4. Định hướng giáo viên dùng lời nhận xét mang tính động viên,
11
khích lệ. Lời nhận xét phải cụ thể, dễ hiểu.
5. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, phát huy những ưu điểm
14
trong quá trình dạy học theo mô hình VNEN
6. Nâng cao hiệu quả phối kết hợp giữa giáo viên với phụ huynh học
15
sinh trong quá trình đánh giá, nhận xét học sinh.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với bản thân, đồng
17
nghiệp và nhà trường:
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHI
18
I. Kết luận
18
II. Kiến nghị
18
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Trong quá trình giáo dục, đánh giá nhận xét học sinh được hiểu là quá trình
mới, không xếp loại học tập theo các mức giỏi, khá, trung bình, yếu, không so
sánh học sinh này với học sinh khác, đã khuyến khích được các em tự nỗ lực
vươn lên, góp phần đáng kể giảm áp lực điểm số, căn bệnh thành tích trong giáo
dục.
Là những người làm công tác giáo dục, chúng ta không thể không ghi nhận
những đổi mới của Thông tư 30 trong việc đánh giá học sinh bậc tiểu học một cách
toàn diện hơn và giảm bớt áp lực về ganh đua điểm số. Tuy nhiên, sau hơn 2 năm
thực hiện, Thông tư cũng bộc lộ một số bất cập, nhất là đã tạo ra nhiều áp lực đối
với giáo viên tiểu học trong việc đánh giá, nhận xét học sinh.
Thông tư 22 ra đời và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 11 năm 2016
trên cơ sở sửa đổi bổ sung những điều bất cập của thông tư 30, bên cạnh đó sự ra
đời của Thông tư 22 với hi vọng sẽ tạo ra khí thế mới cho giáo viên và học sinh
tiểu học trong quá trình dạy- học. Đến nay, tất cả các trường Tiểu học trên toàn
quốc đã áp dụng vào thực tiễn dạy – học được gần hai năm học, các thầy cô giáo
tiểu học đón nhận Thông tư 22 một cách rất phấn khởi.
Thật vậy, theo lời học giả về giáo dục K. Patricia Cross đã viết: “Công việc
của người thầy ưu tú là kích thích những người có vẻ tầm thường có nỗ lực phi
thường. Vấn đề hóc búa là không phải xác định những người chiến thắng; mà
làm cho những người bình thường trở thành người chiến thắng.” Do vậy,
những lời nhận xét của người thầy thực sự rất quan trọng với học sinh. Cùng một
học sinh đó nhưng với những lời nhận xét trái ngược nhau sẽ cho ra những kết quả
khác nhau sau lời nhận xét đó.
Với cương vị là một nhà quản lí, để góp phần cùng với đội ngũ giáo viên nhà
trường thực hiện tốt mục tiêu của Thông tư 22/2016/BGD-ĐT là quan tâm đến
các môn học, hoạt động giáo dục, sự phát triển về năng lực và phẩm chất của mỗi
học sinh đảm bảo theo tinh thần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục nêu ở Nghị
quyết 29/NQ-TW bản thân tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, đồng hành cùng với đội ngũ
giáo viên trong quá trình chỉ đạo, triển khai, thực hiện đánh giá học sinh theo
học (hoặc hoạt động) nhằm đề xuất các giải pháp để thực hiện mục tiêu của môn
học (hoặc hoạt động) đó.
2. Đánh giá thường xuyên:
Tại điều 6 của Thông tư 22 ghi rõ: Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong
quá trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng
lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn
học và các hoạt động giáo dục.
Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học
sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục
tiêu giáo dục tiểu học.
Đánh giá thường xuyên về học tập:
- Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng
và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần
thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời;
- Học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm
bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn;
- Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo viên về các nhận xét, đánh
giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với giáo viên động viên, giúp
đỡ học sinh học tập, rèn luyện.
Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất:
- Giáo viên căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học
sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, có biện pháp giúp đỡ kịp thời;
- Học sinh được tự nhận xét và được tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về
những biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản thân;
- Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi, phối hợp với giáo viên động viên,
giúp đỡ học sinh rèn luyện và phát triển năng lực, phẩm chất."
3. Đánh giá định kỳ
Điều 10 của Thông tư 22 nêu:
Đạt: đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên;
Cần cố gắng: chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ.
II. Thực trạng giáo viên trong việc đánh giá học sinh theo Thông tư 22
trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Với việc sử dụng các phương pháp như: phỏng vấn trực tiếp; khảo sát qua vở
viết của học sinh (6/6 lớp); quan sát giờ dạy (15 giờ/15 lượt GV), xử lí, phân tích
và tổng hợp thông tin, bản thân thu được kết quả như sau:
1. Kết quả khảo sát qua vơ viết, bài kiểm tra của học sinh 6 lớp:
Nội dung khảo sát
Nhận xét, đánh giá
thường xuyên
Nhận xét, đánh giá
định kỳ
Rất tốt
Tốt
Đạt yêu
cầu
SL
%
Cần cố
gắng
SL
%
SL
2
33,3
1
16,7
2. Nhận định chung qua phân tích số liệu sau khảo sát:
a) Thuận lợi:
Đa số giáo viên và cán bộ quản lí cho rằng về mặt ý tưởng hình thức đánh
giá này có nhiều ưu điểm và tán thành với việc thay đổi cách đánh giá sao cho đánh
giá nhẹ nhàng, giảm bớt áp lực tâm lí cho cả giáo viên và học sinh nhưng vẫn
khuyến khích và định hướng phát triển người học. Cô giáo Bùi Thị Dung, giáo viên
chủ nhiệm lớp 2A tâm sự: Với thông tư 22, chúng tôi rất phẩn khơi bơi sẽ giảm
được áp lực về làm sổ sách cho giáo viên để chúng tôi có thời gian để chuẩn bị bài
giảng và chăm sóc học sinh tốt hơn. Tuy nhiên, tôi cũng có một băn khoăn, đó là
trong ra đề cho khối 5 thì hiệu trương của các trường tiểu học tự ra, theo tôi thì
nên để phòng giáo dục ra để tạo sự công bằng, khách quan và có mặt chung cho
học sinh toàn thị xã.
b) Khó khăn
- Về giáo viên: Trên thực tế, giáo viên nhà trường đã có nhiều cố gắng thực
hiện việc đánh giá bằng hình thức nhận xét song trong quá trình thực hiện chỉ có
66,7% giáo viên thực hiện đầy đủ và đúng yêu cầu đánh giá bằng nhận xét, điều đó
cho thấy giáo viên vẫn còn “tiết kiệm” trong việc đánh giá, nhận xét học sinh bằng
lời nói, đặc biệt là các kĩ thuật thu thập chứng cứ và phần diễn đạt bằng lời khi
nhận xét bằng chữ viết vào vở học sinh vì vậy hiệu quả đánh giá bằng nhận xét
chưa cao. Có lúc, có tiết dạy của giáo viên việc đánh giá, nhận xét học sinh vẫn
chưa hoàn thành, xét về mặt tâm lý, 3 mức này nhìn nhận cụ thể hơn kết quả phấn
đấu của học sinh. Đồng thời cung cấp cho giáo viên những thông tin phản hồi rất
hữu ích liên quan đến quá trình học tập của học sinh, những lĩnh vực có sự tiến bộ,
lĩnh vực học tập nào còn khó khăn; giúp học sinh nhận ra mình thiếu hụt những gì
so với chuẩn kiến thức, kỹ năng để cả giáo viên và học sinh cùng điều chỉnh hoạt
động dạy và học.
Đánh giá sự hình thành và lực, phẩm chất của học sinh: Thông tư 22 viết gọn
lại thành 2 nhóm:
a) Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề;
b) Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật;
đoàn kết, yêu thương.”
Điều này giúp giáo viên dễ dàng hơn trong đánh giá, đồng thời tránh được
những hiểu lầm, sự suy diễn, ấp đặt lối suy nghĩ theo kiểu người lớn. Thông tư 22
cũng quy định thông qua quá trình đánh giá thường xuyên đến giữa và cuối mỗi
học kì, lượng hóa mỗi năng lực, phẩm chất thành ba mức: Tốt, Đạt, Cần cố
gắng (trước đây theo Thông tư 30 chỉ có 2 mức Đạt và Chưa đạt). Việc lượng hóa
này, cho phép giáo viên, cha mẹ học sinh xác định được mức độ hình thành, phát
triển năng lực, phẩm chất của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện. Từ đó
giáo viên có những biện pháp kịp thời giúp đỡ học sinh khắc phục hạn chế, phát
huy những điểm tốt để các em ngày một tiến bộ hơn. Bên cạnh đó, học sinh có
động lực phấn đấu, cha mẹ học sinh dễ dàng nhận ra con mình ở mức nào.
Thật vậy, động cơ học tập bên trong là bản thân tri thức và phương pháp lĩnh
hội tri thức, những mong muốn, khát khao chiếm lĩnh tri thức có vai trò quyết định
đến kết quả học tập của học sinh. Tuy vậy không thể không kể đến động cơ bên
ngoài. Nhất là ở tiểu học, học tốt để đáp ứng mong đợi của cha mẹ, học tốt để được
cô khen, để được bạn bè tôn trọng, yêu mến là suy nghĩ, là động lực để các em học
tốt hơn. Việc đánh giá học sinh theo 3 mức; lớp 4, 5 có thêm bài kiểm tra giữa kì;
việc khuyến khích học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của
tư 2 2 /2016/TT-BGDĐT là việc làm cần thiết để giúp giáo viên bớt vất vả về vấn
đề nhận xét, sổ sách, dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu bài, giúp đỡ học
sinh trực tiếp trong quá trình dạy- học. Thay đổi cách đánh giá học sinh tiểu học
theo Thông tư 22 có nhiều ưu điểm. Bởi quy định đánh giá thường xuyên bằng
nhận xét không chỉ nhằm vào kết quả mà còn động viên, khuyến khích học sinh
phát huy hết khả năng của mình. Ngoài ra, trong quá trình học còn chú trọng đến
việc học sinh tự đánh giá lẫn nhau, cha mẹ học sinh cũng tham gia đánh giá. Với
cách làm này sẽ góp phần làm tăng sự gắn kết giữa gia đình với nhà trường
trong giáo dục học sinh. Đây là sự hoàn thiện quan trọng của ngành giáo dục
trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học sinh. Việc nhận xét sự tiến bộ, thành
công trong học tập của học sinh sẽ mang lại hứng thú, niềm vui cho các em. Mặt
khác, khi đánh giá bằng nhận xét, giáo viên sẽ gần gũi, sâu sát và hiểu học sinh
hơn. Đặc biệt, chúng ta không thể so sánh em này với em khác vì điều kiện học tập
hay khả năng tiếp thu của các em.
2. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo việc đổi mới đánh giá học sinh bậc Tiểu
học theo TT22 và văn bản hợp nhất số 03/2016/ BGD-ĐT
-Nhà trường xây dựng được kế hoạch tập huấn, hội thảo qua đó chỉ đạo tiếp
tục triển khai thực hiện nội dung Thông tư 22 và văn bản hợp nhất số 03/BGD- ĐT
trong quá trình dạy dạy- học đến toàn thể cán bộ, giáo viên bậc Tiểu học và giáo
viên bậc THCS tham gia dạy ở Tiểu học trong nhà trường.
- Giáo viên biết, hiểu và xây dựng được kế hoạch thực hiện Thông tư 22 đúng
kế hoạch đề ra. Lên kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng vào chương trình Bồi dưỡng
thường xuyên của nhà trường và của cá nhân giáo viên.
- Tuyên truyền đến phụ huynh để biết và hiểu về những điểm khác của Thông
tư 22 so với Thông tư 30 trước đó trong quá trình đánh giá, nhận xét quá trình, kết
quả học tập của con em.
Thời gian tổ chức triển khai:
- Ngày 16/9/2017 Nhà trường tổ chức tập huấn cho 6 GV chủ nhiệm lớp
học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục
khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; sự hình thành và phát
triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh. Bao gồm đánh giá thường xuyên
trong quá trình học (chỉ nhận xét, không dùng điểm số) và đánh giá định kì giữa
học kỳ I (đối với khối 4-5), cuối học kì I, giữa học kỳ II (đối với khối 4-5) và
cuối năm học (dùng cả điểm số và nhận xét). Coi trọng đánh giá ngay trong quá
trình học tập của học sinh, biết được học sinh đạt kết quả bằng cách nào, vận dụng
kết quả đó như thế nào, giáo viên tư vấn, hướng dẫn giúp đỡ để học sinh hoàn
thành nội dung học tập và có phương pháp học tốt hơn; hướng dẫn học sinh biết tự
đánh giá mình và nhận xét, góp ý bạn, khuyến khích cha mẹ tham gia đánh giá
học sinh. Thông tư 22 là sự điều chỉnh theo hướng dễ hóa cho giáo viên trên tinh
thần của Thông tư 30 trước đó. Chủ trương mới, phù hợp với sự phát triển của trẻ,
rất cần được làm đúng, triệt để hơn, chuẩn bị và thực hành tốt hơn…Giáo viên cần
dựa vào mục tiêu nội dung bài học, đối chiếu sản phẩm đạt được theo cách học
của học sinh với chuẩn kiến thức, kĩ năng; xem xét, cân nhắc các đặc điểm tâm
sinh lí, hoàn cảnh… của học sinh để có nhận xét xác đáng, kịp thời, sao cho khích
lệ được học sinh, làm cho các em hứng thú học tập; đồng thời còn phải tư vấn,
hướng dẫn giúp các em biết được những hạn chế và biết tự mình khắc phục. Giáo
viên được quyền chủ động viết nhận xét vào vở hoặc phiếu học tập, hoặc bài kiểm
tra của học sinh sao cho thuận tiện trong việc phối hợp giáo viên, học sinh và cha
mẹ học sinh cùng đánh giá, rút kinh nghiệm, hướng đến sự tiến bộ của học sinh.
Thông tư 22/2016 quy định, yêu cầu giáo viên cần quan tâm đánh giá tất cả học
sinh, không được “quên” em nào nhưng chỉ cần ghi nhớ những điểm nổi bật hoặc
những điều cần thiết về học sinh để giáo viên theo dõi và có biện pháp cụ thể, riêng
biệt giúp đỡ kịp thời (đối với học sinh chưa hoàn thành, giáo viên giúp học sinh tự
hoàn thành hoặc những học sinh hoàn thành tốt giáo viên giúp hứng thú học tập
hơn).
3. Nâng cao kĩ năng quan sát, theo dõi, tư vấn cho học sinh Tiểu học về
kiến thức, năng lực, phẩm chất.
Vai trò của biện pháp: Giúp đội ngũ giáo viên có thêm kỹ năng quan sát, theo
Hiệu quả của việc quan sát, tư vấn, trợ giúp học sinh kịp thời còn giúp giáo
viên sắp xếp ý để ghi nhận xét vào vở, sản phẩm học sinh một cách khoa học,
chính xác.
Như vậy việc đánh giá quá trình phát triển, đánh giá sự tiến bộ mới là đánh
giá thiết thực và hiệu quả nhất cho sự phát triển của mỗi học sinh. Để làm được
điều này đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên quan sát, theo dõi cá nhân học sinh
trong quá trình học tập để có nhận định, động viên hoặc gợi ý, hỗ trợ kịp thời đối
với từng việc làm, từng nhiệm vụ của mỗi cá nhân hoặc của cả nhóm học sinh.
Đồng thời giáo viên còn quan sát từng học sinh để kịp thời đưa ra những nhận định
về một số biểu hiện của phẩm chất và năng lực của học sinh. Từ đó, động viên,
khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các tố chất riêng,
sửa chữa khuyết điểm để ngày càng tiến bộ.
4. Định hướng giáo viên dùng lời nhận xét mang tính động viên,
khích lệ. Lời nhận xét phải cụ thể, dễ hiểu.
Biện pháp này giúp nâng cao kỹ năng lựa chọn ngôn từ cho giáo viên khi
nhận xét, đánh giá học sinh và tạo ra mối quan hệ thân thiện giữa Thầy và Trò qua
những lời, những dòng nhận xét của giáo viên.
Trước hết, bản thân tôi đã tham mưu cho nhà trường tổ chức hội thảo chuyên
đề “Lời nhận xét chuẩn mực của Thầy, cô”. Qua buổi hội thảo này, cán bộ giáo
viên được nghe, được chia sẻ những lời nhận xét dành cho học sinh qua một số bài
học, một số tình huống cụ thể trong chương trình các khối lớp.
Bên cạnh đó ban giám hiệu cần kiểm tra lời nhận xét của giáo viên thông
qua dự giờ và qua vở ghi của học sinh từ đó góp ý, rút kinh nghiệm trực tiếp với
từng giáo viên.
Lưu ý: Lời nhận xét của giáo viên phải kịp thời phát hiện những cố gắng,
tiến bộ của học sinh, mang tính chất động viên, khuyến khích, thân thiện, chân
thành; Tránh sử dụng “công thức nhận xét” vì nó sẽ không bao giờ đáp ứng được
điều đó.
gặp khó khăn khi đọc lời nhận xét của giáo viên.
- Khi đưa ra nhận xét giáo viên đã nêu cụ thể ưu điểm, tồn tại và giải pháp
để giúp học sinh tiến bộ trong học tập. Lời nhận xét của giáo viên đã căn cứ vào:
+ Mục tiêu của bài học
+ Chuẩn kiến thức kỹ năng
+ Sản phẩm ( Kết quả) học sinh làm được.
Ví dụ 1: Trong giờ Tiếng Việt lớp 2 bài “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, Cô
giáo Bùi Thị Dung- GVCN lớp 2A đã có lời nhận xét dành cho 2 học sinh (2 đối
tượng học sinh) như sau:
+ Với em: Đỗ Minh Đức: “ Em đọc đúng, rõ ràng toàn bài, biết ngắt nghỉ
hợp lý. Hiểu nội dung bài đọc.”
+ Với em Trịnh Thị Loan, Giáo viên nhận xét: “ Em đã đọc to hơn.
Nhưng các từ quyển, nguệch ngoạc, em còn phát âm chưa đúng, em nghe
thầy/cô (hoặc bạn) đọc những từ ngữ này rồi em đọc lại nhé!”.
Ví dụ 2: Trong giờ học toán lớp 3B: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
(tiếp theo), cô giáo Đinh Thị Huế đã có nhận xét như sau:
+ Đối với em Lê Thị Kim Anh, cô đã nêu: “Em đã nắm chắc được dạng
toán, Cô khen em!”
+ Đố với em Phạm Thế Minh, cô nêu: “Bước giải thứ 2 em còn nhầm
lẫn với bài toán liên quan đến rút về đơn vị trước, cần đọc kĩ đề bài để làm
đúng bài tập em nhé!”.
- Giáo viên đã biết cách phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt giữa nhận xét bằng
lời và bằng chữ viết vào vở của học sinh. Việc phối hợp việc ghi nhận xét với nhận
xét bằng lời trực tiếp một cách khoa học giúp chỉnh sửa, uốn nắn kịp thời cho học
sinh trong quá trình học tập và rèn luyện. Việc luân phiên giữa hai hình thức này
vừa đảm bảo thẩm mỹ bộ vở vừa giúp giáo viên có thêm thời gian rèn kĩ năng cho
học sinh.
- Giáo viên nâng cao trách nhiệm và lương tâm nhà giáo khi tiến hành đánh
các đồng chí giáo viên bậc THCS tham gia giảng dạy các môn đặc thù ở Tiểu
học).
Đối với tổ chuyên môn: Tổ tăng cường sinh hoạt chuyên môn bàn về biện
pháp nâng cao chất lượng đánh giá học sinh theo Thông tư 22. Trao đổi, chia sẻ,
lựa chọn, thống nhất những cách làm, lời nhận xét hay, hợp lí; cùng nhau tháo gỡ
những khó khăn gặp phải khi thực hiện Thông tư 22.
Đối với giáo viên:
- Ngay từ đầu năm học, giáo viên tiếp tục tuyên truyền tới phụ huynh học
sinh những điểm mới của Thông tư 22 so với Thông tư 30 trước đó. Từ đó thống
nhất với phụ huynh những nhiệm vụ cơ bản của học sinh ở nhà; hướng dẫn phụ
huynh cách theo dõi, quan sát, nhận xét, giúp đỡ con em mình một cách kịp thời.
Thống nhất hình thức, thời điểm trao đổi thông tin giữa phụ huynh với giáo viên
chủ nhiệm.
- Giáo viên trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp thông qua dự giờ, thao
giảng, sinh hoạt chuyên đề về đánh giá học sinh tiểu học.
- Tự học hỏi để tích lũy, làm giàu thêm vốn từ ngữ cho mình.
- Tự rèn luyện để nâng cao kĩ năng quan sát, theo dõi, bao quát học sinh.
Tác dụng, hiệu quả của biện pháp:
- Đội ngũ giáo viên bậc Tiểu học và các đồng chí giáo viên bậc THCS tham
gia giảng dạy các môn đặc thù ở Tiểu học đã lựa chọn được hệ thống các phương
pháp dạy học phù hợp với từng môn học, bài học. Tăng cường ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học một cách có hiệu quả. Mô hình dạy học thân thiện gần
gũi với thiên nhiên được thầy cô lựa chọn nhiều hơn, tiêu biểu là môn Tự nhiên
xã hội, Mĩ thuật, Thủ công, Đạo đức.
- Giáo viên đã rất thân thiện, gần gũi, sát thực với học sinh; nắm bắt kĩ khả
năng
nhận thức, những ưu điểm nổi bật, hạn chế cơ bản của từng học sinh nên những
nhận xét đưa ra cho từng em rất chính xác, phù hợp. Không những vậy, lời nhận
xét của giáo viên đã mang sắc thái tình cảm tạo động cơ mạnh cho học sinh hứng
thú học tập.
thể cha mẹ học sinh của lớp là biện pháp liên hệ rộng rãi nhất giữa giáo viên chủ
nhiệm với cha mẹ học sinh và được sử dụng một cách phổ biến. Đó là những
cuộc họp được tổ chức theo định kỳ, tùy theo tình hình thực tế của địa phương,
của nhà trường. Cuộc họp cha mẹ học sinh được tổ chức nhiều lần trong một năm
học;
- Sử dụng hiệu quả sổ liên lạc điện tử vnedu. Trong năm học đầu tiên ở
ngôi trường liên cấp TH và THCS Phú Sơn, bậc Tiểu học sử dụng 100% sổ liên
lạc điện tử. Sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình là biện pháp hữu hiệu, là
phương tiện trao đổi thông tin 2 chiều giữa gia đình và nhà trường nhanh, tiết
kiệm. Tuy nhiên giáo viên chủ nhiệm cần tích cực thông báo cho gia đình học
sinh biết kết quả hai mặt giáo dục và các mặt khác của con em qua sổ liên lạc
điện tử hàng ngày, hàng tuần hoặc khi có vấn đề đột xuất liên quan đến học sinh.
- Sử dụng điện thoại để liên hệ khi cần thiết: Trao đổi thư từ, điện thoại với
cha mẹ học sinh cũng là một hình thức phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
Hình thức này được sử dụng để thông báo tình hình học tập, tu dưỡng đạo
đức của học sinh giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh trong trường hợp
cần thiết để giáo viên và phụ huynh trao đổi trực tiếp về vấn đề nào đó mang tính
cấp bách.
- Mời cha mẹ học sinh đến trường: Đầu năm học, giáo viên có thể mời cha
mẹ
học sinh đến lớp cùng dự giờ một số tiết học để nắm bắt được việc học của con
em mình nói chung, hiểu được cách đánh giá, cách hướng dẫn học sinh học ở nhà
nói riêng. Trong một vài trường hợp đặc biệt khi học sinh mắc lỗi mà giáo viên đã
nhắn nhiều lần qua mạng vnedu nhưng vẫn tái phạm, giáo viên có thể mời cha mẹ
học sinh đến trường để cùng trao đổi, bàn bạc tìm ra biện pháp tốt nhất trong quá
trình giáo dục các em. Từ đó sẽ có được những nhận xét, đánh giá chính xác nhất
về học sinh.
Khi trò chuyện với cha mẹ học sinh, giáo viên hiểu được tính cách, hứng
sẽ tạo ra một thế hệ tương lai - những con người mới có kiến thức, năng lực và
phẩm chất đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Để có được thế hệ con
người mới, cha mẹ học sinh phải có trách nhiệm cao hơn với con cái mình,
không đứng ngoài cuộc mà cùng tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập,
rèn luyện của con em mình. Khi tuyên truyền tốt, cộng đồng sẽ tin tưởng và ủng
hộ cách đánh giá mới này.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với bản thân, đồng nghiệp
và nhà trường:
Qua gần hai năm học nghiên cứu, chỉ đạo triển khai đánh giá
theo TT22/2016/BGD-ĐT tôi nhận thấy bản thân cũng thấu hiểu chu đáo về các
điểm mới của Thông tư 22 so với Thông tư 30. Từ đó đã đề xuất ra một số hướng
đi, việc làm cụ thể để phổ biến tới đội ngũ giáo viên trong nhà trường trong qua
trình nhận xét, đánh giá học sinh.
Bên cạnh đó, tôi nhận thấy năng lực của đội ngũ giáo viên trong việc đánh
giá học sinh theo Thông tư 22 rất tốt. Mục tiêu của Thông tư 22 /2016 được thực
hiện, hiệu quả của Thông tư 22 được khẳng định.
Học sinh được nhận xét, đánh giá sát với thực tế hơn, nhờ đó học sinh có
hứng thú hơn trong học tập vì những lời nhận xét, động viên gần gũi với các
em giúp các em nhận ra và khắc phục được những tồn tại, hạn chế trong học tập.
Việc áp dụng khen thưởng học sinh theo Thông tư 22/2016 vẫn tiếp tục kế
thừa Thông tư 30 trong các quy định về khen thưởng (khen thưởng các học sinh
tiến bộ vượt bậc về từng nội dung đánh giá). Song đã quy định rõ ràng hơn về tiêu
chí để khen thưởng học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn
luyện. Các quy định như vậy sẽ cụ thể hơn, giúp cho giáo viên và nhà trường
thuận lợi trong việc khen thưởng học sinh, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu không
gây áp lực cho học sinh, cha mẹ học sinh và khắc phục được bệnh thành tích
trong giáo dục.
Đại đa số giáo viên đã có kỹ năng thuần thục trong quá trình đánh giá, nhận
SL
%
3
50,0
2
33,3
1
16,7
0
0
4
66,7
2
33,3
0
một quá trình dài đòi hỏi sự thay đổi có hệ thống của nền giáo dục. Trong quá
trình thay đổi đó, trách nhệm, nhiệm vụ của mỗi một giáo viên dường như cao cả
hơn mà cũng cần đầu tư thời gian hơn trước rất nhiều. Rất cần một chữ “TÂM”
thật sự đối với những người cầm phấn. Bởi đơn giản rằng, nếu như đó là vì học
sinh, vì thế hệ mầm non của đất nước thì người thầy sẵn sàng mỉm cười và chấp
nhận hi sinh một chút thời gian, một chút công sức. Thông tư 22/2016/BGD-ĐT
như một đốm lửa đã sáng hoàn thiện trong công cuộc thay đổi cách nhìn mới về
nên giáo dục nước nhà. Bản thân tôi thiết nghĩ mỗi một giáo viên cần và phải có
trách nhiệm chính trong công cuộc đổi mới đó.
II. Kiến nghị
1. Đối với Sơ giáo dục và Phòng GD&ĐT:
Tiếp tục tổ chức các buổi hội thảo để đánh giá tổng kết sau hai năm thực
hiện Thông tư 22/2016/ TT-BGDĐT để đánh giá kết quả thực hiện Thông tư 22
đồng thời giới thiệu những tấm gương giáo viên làm tốt, những việc làm cụ thể,
thiết thực hiệu quả việc đánh giá, nhận xét học sinh theo Thông tư 22 để cán bộ,
giáo viên cấp tiểu học trên toàn tỉnh được học tập.
2. Đối với Nhà trường
Cần có chế độ khen thưởng, biểu dương các thầy cô giáo có nhiều việc làm
mới, sáng tạo, hiệu quả trong công tác nhận xét, đánh giá học sinh Tiểu học theo
TT 22.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng tại trường TH&THCS Phú
Sơn trong năm học 2017-2018 nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đánh giá, nhận
xét học sinh Tiểu học theo Thông tư 22/2016/ TT-BGDĐT. Với những kết quả
đạt được, tôi tự thấy có thể vận dụng những biện pháp này để thực hiện đối với
nhà trường trong những năm tiếp theo và có thể thực hiện được ở các trường tiểu
học khác trong thị xã, trong tỉnh. Tuy nhiên, tôi nhận thấy phần trình bày trên còn
có những hạn chế nhất định. Vì vậy, về bản thân mình tôi sẽ cố gắng học hỏi thêm
kinh nghiệm từ các đồng nghiệp ở các trường bạn và tôi cũng rất mong sự góp ý
2
Văn bản hợp nhất số 03 VBHN-BGDĐT
ngày 28 tháng 9 năm 2016, của Bộ GD&ĐT V/v
Thông tư ban hành quy định đánh giá học sinh
tiểu học.
3
Tài liệu Bồi dưỡng Thường xuyên Modun
TH15: Một số phương pháp dạy học tích cực ở
tiểu học.
4
Giáo trình tâm lí học tiểu học của GS-TS Bùi
Văn Huệ
5
Tác phẩm Tình thầy trò (nguyên tác For the
love of teacher, công ty sách Văn Lang, 2014)
6
Từ điển Tiếng Việt còn được gọi là Từ điển
Hoàng Phê
DANH MỤC
B, hoặc
C)
Một số biện pháp giúp học sinh Sở GD&ĐT
lớp 1 khắc phục khó khăn khi Thanh Hóa
C
thực hiện giải bài toán có lời
văn
Một số biện pháp rèn chữ viết Sở GD&ĐT
A
Thanh
Hóa
cho học sinh lớp 1
Đổi mới phương pháp dạy học Phòng
B
GD&ĐT
môn Toán lớp 4
Bỉm Sơn
Bồi dưỡng Tiếng Việt cho học Sở GD&ĐT
A
Thanh
Hóa
sinh thông qua Hoạt động ngoại
khóa
Phương pháp dạy dạng Toán Sở GD&ĐT
C
Thanh
Hóa
tìm thành phần chưa biết trong
phép tính
Phát triển khả năng giao tiếp Sở GD&ĐT
đánh giá xếp
loại
2002-2003
2003-2004
2004-2005
2005-2006
2006-2007
2007-2008
2009-2010
2010-2011
2012-2013
2013-2014
11
12
13
Chỉ đạo nâng cao chất lượng Phòng
HĐGDNGLL ở trường Tiểu GD&ĐT
Bỉm Sơn
học Ngọc Trạo, TX Bỉm Sơn
Trao đổi về biện pháp giáo dục
Phòng