Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học
1. Đặt vấn đề:
Triết học xuất hiện từ khi con người có sự phân công lao động. Khi đó các
ngành khoa học còn nằm trong triết học gọi là triết học tự nhiên. Sau nhiều thế kỷ
chúng mới phát triển thành các ngành khoa học độc lập với triết học.
Khái niệm triết học dù ở phương Tây hay phương Đông, dù biến đổi trong
lịch sử như thế nào đều bao gồm hai yếu tố:
- Yếu tố nhận thức: Sự hiểu biết của con người về vũ trụ và con người giải
thích hiện thực bằng tư duy.
- Yếu tố nhận định: Đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ và hành động.
Theo quan điểm Mác xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội,
là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái
độ con người đối với thế giới; là quy luật của những quy luật chung nhất của tự
nhiên, xã hội và tư duy. Với tính cách là một hình thái ý thức quan trọng nhất và
cổ xưa nhất. Vai trò của triết học ngày càng tăng lên với sự phát triển tri thức của
nhân loại.
Trong sự phát triển của mình. Triết học dần dần hình thành các trường phái
khác nhau cùng giải quyết một vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,
giữa tồn tại và tư duy, giữa tự nhiên và tinh thần, cái nào có trước, cái nào có sau.
Đó chính là vấn đề cơ bản của triết học, không có một trường phái triết học nào lại
không giải quyết vấn đề này, vì việc giải quyết nó sẽ chi phối việc giải quyết các
vấn đề khác của triết học. Nó là điểm xuất phát của mọi tư tưởng, mọi quan điểm
của mọi hệ thống triết học trong lịch sử.
2. Vấn đề cơ bản của triết học: Gồm hai mặt là bản thể luận và nhận thức
luận.
2.1. Bản thể luận: Trả lời câu hỏi giữa vật chất và ý thức cái nào có trước,
cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Việc trả lời câu hỏi này cho chúng ta
biết lập trường triết học của người nói và duy vật, duy tâm hay nhị nguyên.
* Trường phái triết học duy vật cho rằng vật chất có trước ý thức, vật chất tồn
tại khách quan, độc lập với ý thức và quyết định ý thức, ý thức phản ánh thế giới
khách quan vào bộ óc người.
ngoài con người (Platon, Hêghen).
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: thừa nhận ý thức tồn tại trong trí óc của con
người (Beccơli, Hium, Fichtê). Chính tư duy, cảm giác của con người sinh ra sự
vật. Beccơli nói: "khi tôi không suy nghĩ vẫn còn người khác suy nghĩ. Khi không
có ai suy nghĩ vẫn còn thượng đế suy nghĩ. Thế giới không bao giờ mất đi". Ông
đã chuyển dần sang duy ngã.
+ Duy ngã: chủ nghĩa duy tâm chủ quan được phát triển đến tột độ là chủ
nghĩa duy ngã "chỉ có tư duy của tôi" (Hium).
2
* Trường phái nhị nguyên luận: tư duy và tồn tại, vật chất và ý thức không cái
nào có trước, không cái nào có sau, không cái nào quy đinkhj cái nào, chúng cùng
song song tồn tại với nhau.
2.2. Mặt thứ hai: Nhận thức luận: trả lời câu hỏi con người có thể nhận thức
được thế giới hay không? Việc trả lời câu hỏi này cho chúng ta biết ai là người
khả tri và ai là người bất khả tri.
+ Thuyết khả tri: cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới.
Các nhà triết học duy vật cho rằng: con người có khả năng nhận thức được thế
giới như nó tồn tại.
Các nhà triết học duy tâm cho rằng: nhận thức được thế giới như sản phẩm
của tinh thần.
+ Thuyết khả tri: cho rằng con người không thể nhận thức được thế giới,
không thể nhận ra đâu là duy vật, đâu là duy tâm. Số người bất khả tri là nhỏ.
Cantơ: Lúc là nhà duy vật, lúc là nhà duy tâm, lúc là bất khả tri.
Hium: Con người không thể nhận biết được thế giới hoặc chưa nhận biết được
hiện tượng của sự vật.
Hơcxli: Thừa nhận vật chất có ý thức, nhưng lại cho rằng con người không
thể nhận biết được thế giới.
3. Phương pháp nhận thức thế giới của triết học.
Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tồn tại và tư duy, giúp
cho việc nhận thức hoạt động và cải tạo thế giới, triết học Mác dựa vào những
tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới. Tất cả đều bắt nguồn từ đó và
cũng tan biến trong đó.
Nhưng nói chung các nhà duy vật cổ đại hiểu vật chất dưới dạng cảm tính và
quy vật chất thành một vật cụ thể cố định, ví dụ:
- Triết học ấn Độ cổ đại - Phái Charơ và coi cơ sở đầu tiên là đất, nước, lửa
và không khí.
- Triết học Hi Lạp cổ đại coi cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là nước.
- Những nhà nguyên tử luận cổ đại có hai cơ sở tồn tại đó là nguyên tử và
trống rỗng.
Thuyết nguyên tử cổ đại là một bước phát triển của chủ nghĩa duy vật trên
con đường hình thành phạm trù vật chất triết học - cơ sở khoa học của nhận thức
khoa học sau này.
* Thế kỷ XIX:
- Khoa học phát hiện ra nguyên tử các tư tưởng của Lơxíp, Đêmôcrít đã được
Galilê, Đềcáctơ, Niutơn… khẳng định và phát triển, nhưng họ vẫn đồng nhất vật
chất với nguyên tử hoặc vật chất với một thuộc tính phổ biến của các vật thể đó là
khối lượng.
* Cuối TK XIX đầu TK XX:
Trên thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học tự nhiên, nó được đánh giá
bằng một loạt những phát minh quan trọng.
4
- Rơnghen: Phát hiện ra tia X.
- Béccơren: Phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của một số nguyên tố hoá học
nặng.
- Tômsơn: Phát hiện ra điện tử.
- Hau phnam: Đã phát hiện ra điện tử tăng khi vận tốc nó tăng.
Những phát minh đó là một bước tiến của loài người trong việc nhận thức và
làm chủ giới tự nhiên, đem lại cho con người những hiểu biết mới sâu sắc về cấu
trúc của thế giới vật chất.
Tóm lại: Triết học duy vật trước Mác có những đóng góp và hạn chế.
Khái niệm vận động: Không phải chỉ sự di chuyển nói chung trong không
giam mà là sự biến đổi nói chung.
- Định nghĩa: Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một
phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm
tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí
đơn giản cho đến tư duy.
1. Vận động là thuộc tính hữu cơ của vật chất.
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Là thuộc tính không tách rời
của vật chất.
Vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện sự
tồn tại của mình, không thể có vật chất không có vận động và ngược lại.
Vận động của vật chất là sự tự thân vận động, bởi vì tất cả các dạng vật chất
bao giờ cũng là một kết cấu bao gồm các yếu tố các mặt, các quá trình trong sự tác
động qua lại dẫn đến sự biến đổi nói chung. Vận động ở đây là sự tự vận động.
Vận động là hình thức tồn tại của vật chất, thông qua vận động các dạng vật
chất mới được bộc lộ - các dạng vật chất được nhận thức thông qua vận động.
Vật chất không do ai sáng tạo ra và nó không thể bị tiêu diệt đi, mà vận động
là thuộc tính của vật chất vận động cũng không do ai sáng tạo ra và cũng không
mất đi.
2. Tính mâu thuẫn của vận động:
Có 5 hình thức vận động cơ bản:
- Vận động cơ giới: ở sự di chuyển vị trí của các vật thể.
- Vận động vật lý: vận động của các phân tử, các hạt cơ bản các quá trình
nhiệt điện.
- Vận động hoá học: của các nguyên tử, quá trình phân giải và hoà hợp của
các chất.
- Vận động sinh vật: ở hoạt động của cơ chế, ở sự trao đổi giữa cơ thể sống.
- Vận động xã hội: là quá trình biến đổi và thay thế của các hình thái KTXH.
Tuy có sự khác nhau về chất nhưng cách thức vận động của sự liên hệ, tác
động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau, từ hình thức thấp đến cao.
Câu 4: Phạm trù ý thức:
I. Quan niệm của triết học duy vật biện chứng về ý thức.
Giải quyết một cách duy vật và biện chứng về ý thức, đặt tư duy trong mối
quan hệ với tồn tại, dựa trên quan điểm duy vật biện chứng về vấn đề cơ bản của
triết học để xem ý thức (tính thứ hai)
7
II. Nguồn gốc và biện chứng của ý thức.
1. Nguồn gốc có hai loại: Tự nhiên và xã hội.
a. Nguồn gốc tự nhiên: ý thức ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu
dài của các hình thức phản ánh của thế giới vật chất.
Phản ánh: Là thuộc tính chung của vật chất, được thể hiện trong sự tác động
qua lại giữa các hệ thống vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật
chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.
Ví dụ: Nước là ôxy tác động vào kim loại gây ra sự han gỉ, sự han gỉ của kim
loại phản ánh đặc điểm của nước và ôxy.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất tương ứng với sự phát
triển của các hình thức của vật chất thì thuộc tính của vật chất cũng phát triển,
phản ánh có hai loại cơ bản, đó là:
+ Phản ánh thế giới vô cơ. Phản ánh vật lý được biểu hiện qua những biến đổi
cơ lý hoá dưới những hình thức biểu hiện cụ thể như thay đổi vị trí, biến dạng và
phá huỷ.
+ Phản ánh thế giới hữu cơ, phản ánh sinh vật, biểu hiện từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp.
Trình độ thấp nhất của phản ánh sinh vật đó là tính kích thích thể hiện ở thực
vật và các cơ thể động vật bậc thấp.
ở động vật bậc cao phản ánh được phát triển cao hơn, do việc xuất hiện hệ
thần kinh xuất hiện tính cảm ứng do những tác động từ bên ngoài cơ thể lên cơ thể
động vật và cơ thể phản ứng lại - phản xạ không điều kiện.
Phản ánh tâm lý: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với quá
trình hình thành các phản xạ có điều kiện, đã xuất hiện tri giác và hiện tượng -
cảm, ý chí. Trong đó tri thức là quan trọng nhất. Tri thức là quá trình phát triển có
tính lịch sử về thế giới hiện thực xung quanh vào bộ não người trên cơ sở thực
tiễn - việc nhấn mạnh tri thức là quan trọng nhất, giúp chúng ta tránh được quan
điểm giản đơn, coi ý thức chỉ là yếu tố như: tình cảm, niềm tin, trừu tượng trong
đó của con người.
Tóm lại: ý thức của con người là sản phẩm hoạt động lao động và ngôn ngữ,
sự phản ánh ý thức là hình thức phản ánh cao nhất mang tính chất sáng tạo.
Câu 5: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Dưới góc độ nhận thức luận và trong hoạt động thực tiễn.
I. Định nghĩa: Vật chất của Lênin: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng
để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm
giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác.
- Phân tích định nghĩa: Lênin đòi hỏi phân biệt vật chất với tính cáhc là một
phạm trù triết học, nó chỉ tất cả những gì tác động vào ý thức của chúng ta, giúp
hiểu về sự vật hiện tượng.
9
+ Vật chất được thực tại khách quan, tồn tại bên ngoài không lệ thuộc vào
cảm giác, ý thức con người.
+ Định nghĩa ý thức: ý thức là sự phản ánh thế giới xung quanh vào bộ não
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Bản chất của ý thức:
ý thức là hình ảnh chủ quan, nó không có tính vật chất. Hình ảnh chủ quan
này đã được phản ánh vào bộ não người, được cải biến và nó phụ thuộc vào sự
sáng tạo của ý thức trở thành tinh thần.
ý thức có kết cấu phức tạp gồm các yếu tố: tri thức, xúc cảm, tình cảm, ý chí,
trong đó tri thức là quan trọng nhất, nó có quá trình phát triển lịch sử xã hội về thế
giới hiện thực khách quan vào bộ não người trên cơ sở thực tiễn.
II. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức dưới góc độ nhận thức luận
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức thì vật
Câu 6: Phép biện chứng với tính cách là khoa học và mối liên hệ phổ biến
và phát triển.
I.1. Nội dung mối liên hệ phổ biến.
1. Khái niệm: Các sự vật và hiện tượng muôn hình muôn vẻ trong thế giới
không cái nào tồn tại cô lập, biệt lập mà chúng ta là một tổng thể thống nhất, trong
đó các sự vật hiện tượng tồn tại bằng các tác động nhau, ràng buộc nhau quy định
và chuyển hoá lẫn nhau.
2. Nội dung: Mối liên hệ không những diễn ra ở trong sự vật hiện tượng trong
tự nhiên xã hội, trong tư duy mà còn diễn ra với các mặt, các yếu tố, các quá trình
của mỗi sự vật và hiện tượng.
Mối liên hệ trên đây là khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, nó
bắt nguồn từ tính thống nhất của vật chất, của thế giới biểu hiện trong các quá
trình tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mối liên hệ của các sự vật - hiện tượng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ.
Khi nghiên cứu hiện thực khách quan chúng ta có thể phân chúng thành nhiều loại
khác nhau.
Mối liên hệ bên trong - bên ngoài.
Mối liên hệ bản chất: quy định bản chất của sự vật, không có nó sự vật, hiện
tượng không tồn tại được.
Mối liên hệ chủ yếu - thứ yếu: nổi lên trong một giai đoạn nào đó của sự vật
hiện tượng.
Mối liên hệ trực tiếp - gián tiếp: trực tiếp không cần khâu trung gian, gián
tiếp cần khâu trung gian.
Sự phân loại liên hệ này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì mỗi loại liên hệ chỉ
là một hình thức. Một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nối chung,
11
song sự phân loại là cần thiết, vì rằng vị trí của từng mối liên hệ trong việc quyết
định sự vận động của phát triển của sự vật hiện tượng không hoàn toàn như nhau.
II. Nội dung nguyên lý phát triển.
1. Khái niệm:
12
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vật hiện tượng phải đặt
nó trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác, xem xét các mặt, các yếu tố
kể cả các mắt khâu trung gian. Tuy nhiên quan điểm toàn diện không phải xem xét
cân bằng tràn lan, mà phải lấy vị trí của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố
trong tổng thể của chúng.
Nguyên lý phát triển: Muốn thực sự nắm được bản chất của sự vật hiện tượng
nắm được khuynh hướng vận động của chúng phải có quan điểm QT, khắc phục
quan điểm bảo thủ, trí tuệ.
Khi phân tích sự vật hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động phải phát hiện
được các xu hướng biến đổi, chuyển hoá.
Câu 7: Nội dung, ý nghĩa quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập:
I. Đặt vấn đề:
Phép biện chứng duy vật có 3 quy luật (thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập, lượng đổi, chất đổi, phủ định của phủ định) → 3 hình thức, cách thức phát
triển của sự vật, hiện tượng.
Quy luật thống nhất của các mặt đối lập nói lên nguồn gốc, động lực bên
trong của sự vận động và phát triển, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật và
nó có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.
II. Nội dung:
1. Khái niệm: Đấu tranh là sự tác động qua lại của các mặt đối lập trong sự
vật, hiện tượng khách quan.
2. Tính chất của đấu tranh:
* Đấu tranh là hiện tượng khách quan và phổ biến.
- Khách quan: Phép biện chứng duy vật khẳng định mọi sự vật, hiện tượng
trong thế giới đều tồn tại đấu tranh bên trong. Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một
thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau nhưng
lại ràng buộc nhau và tạo thành đấu tranh.
- Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến: Đấu tranh tồn tại khách quan trong mọi
nằm yên bên nhau mà luôn luôn đấu tranh với nhau ⇒ là một quá trình phức tạp
và chia ra làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng khác nhau (ví
dụ: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản).
Tóm lại: Bất cứ sự thống nhất của các mặt cụ thể nào cũng đều có tính chất
tạm thời, tương đối. Còn sự đấu tranh của các mặt đối lập có tính chất tuyệt đối,
nó phá vỡ sự ổn định dẫn đến sự chuyển hoá về chất của các sự vật hiện tượng.
* Sự chuyển hoá của các mặt đối lập:
Sự vật và hiện tượng trong thế giới là muôn hình, muôn vẻ nên sự chuyển hoá
và các mặt đối lập cũng rất khác nhau, vì vậy phải căn cứ vào từng sự vật mà phân
14
tích sự chuyển hoá của các mặt đối lập, nghĩa là hai mặt đối lập chuyển hoá với
nhau hoặc cả hai chuyển thành chất mới.
3. Các loại đấu tranh: Có 4 loại:
a. Đấu trnah bên trong và bên ngoài:
Đấu tranh bên trong: Là đấu tranh nằm ngay trong bản thân sự vật và hiện
tượng.
Đấu tranh bên ngoài: Là đấu tranh giữa các sự vật và hiện tượng với nhau.
b. Đấu tranh cơ bản và đấu tranh không cơ bản.
+ Đấu tranh cơ bản: Là đấu tranh quy định bản chất sự vật, hiện tượng.
+ Đấu tranh không cơ bản: chịu sự chi phối của đấu tranh cơ bản.
c. Đấu tranh chủ yếu và đấu tranh thứ yếu:
+ Đấu tranh chủ yếu: Là đấu tranh nổi bật lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn nhất
định của quá trình phát triển của sự vật.
+ Đấu tranh thứ yếu là đấu tranh không đóng vai trò quyết định.
d. Đấu tranh đối kháng và không đối kháng.
Đấu tranh đối kháng: Là đấu tranh giữa những khuynh hướng, những lực
lượng xã hội mà lợi ích căn bản trái ngược nhau, không thể điều hoà được.
Đấu tranh không đối kháng là đấu tranh giữa những khuynh hướng, những lực
lượng xã hội mà lợi ích căn bản nhất trí với nhau.
III. ý nghĩa phương pháp luận.
Có nhiều tính quy định về lượng khác nhau, sự vật và hiện tượng càng phức
tạp thì những thông số về lượng càng phức tạp.
Sự phân biệt giữa chất là lượng chỉ có ý nghĩa tương đối. Tuỳ theo từng mối
quan hệ mà xác định đâu là chất, đâu là lượng của sự vật. Có cái trong mối quan
hệ này là chất, nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là lượng và ngược lại.
2. Mối quan hệ tính chất giữa chất và lượng: Mỗi sự vật có một thể thống
nhất của hai mặt chất và lượng. Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động đến
nhau một cách biện chứng. Trong sự vật tính quy định về chất không tồn tại nếu
không có tính quy định về lượng và ngược lại.
Khi sự vật đang tồn tại chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định
→ mối liên hệ giữa chất và lượng, là giới hạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn
còn là nó, chưa biến thành cái khác.
Trong phạm vi một độ nhất định, hai mặt chất và lượng tác động lẫn nhau làm
cho sự vật và hiện tượng vận động và biến đổi.
So với chất lượng thay đổi tuổi → quá trình diễn ra từ từ tăng dần hoặc giảm
dần. Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì dẫn đến sự thay đổi vật
chất → quá trình thay đổi dần dần của lượng đã tạo điều kiện cho chất đổi.
Sự thay đổi về chất được gọi là bước nhảy → bước ngoặt căn bản trong sự
biến đổi dần dần về lượng, thời điểm sảy ra bước nhảy gọi là điểm nút.
16
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, là sự gián đoạn
trong quá trình vận động liên tục của sự vật, nó không chấm dứt sự vận động nói
chung mà chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của sự vật → sự vật mới, lượng mới →
điểm nút → xảy ra bước nhảy và cứ như thể làm cho sự vật mới luôn luôn thay thế
sự vật cũ.
- Sự biến đối về lượng dần dần dẫn đến sự biến đổi về chất diễn ra một cách
phổ biến trong giới tự nhiên, đời sống xã hội, tư duy.
+ Tự nhiên: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendelép đã chỉ rõ
tính đa dạng của các chất phụ thuộc vào nguyên tử, khi cơ PhôFônFăng, giảm thì
nguyên tử sẽ trở thành nguyên tố khác.
sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển của cái mới ra đời thay thế
cái cũ.
2. Đặc điểm của phủ định biện chứng.
* Tính khách quan: Sự phủ định của cái mới ra đời thay thế cái cũ nằm ngay
trong bản thân sự vật, nó là kết quả của những đấu tranh được giải quyết trong bản
thân mỗi sự vật → phương pháp định có tính khách quan là một yếu tố tất yếu của
sự phát triển.
* Tính kế thừa: Phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thân phát triển trên
cơ sở giải quyết vì đấu tranh vốn có của các sự vật, hiện tượng → cái mới ra đời
không thể là một sự phủ định tuyệt đối, sạch trơn mà là một sự phủ định có kế
thừa.
Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ → có chọn lọc, giữ lại và cải tạo những mặt
còn thích hợp của cái cũ để chuyển sang cái mới gạt bỏ ở cái cũ, mặt lỗi thời, lạc
hậu gây cản trở cho sự phát triển → nội dung cơ bản của sự phủ định biện chứng.
Phủ định biện chứng không chỉ là nguyên tố khắc phục cái cũ, mà còn gắn
liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định.
II. Nội dung của quy luật.
Phủ định biện chứng là vô tận, cái mới phủ định cái cũ, nhưng rồi cái mới này
lại trở nên cũ và bị cái mới sau phủ định → khuynh hướng phát triển tất yếu đi từ
thấp đến cao một cách vô tận theo đường xoáy ốc.
VD: Lấy ví dụ về hạt thóc → gặp điều kiện thuận lợi → nảy mầm → hạt thóc
biến đi (hạt thóc bị phủ định) bị thay thế bởi một cây lớn → lớn lên, ra hoa, thụ
phấn → sinh ra hạt thóc mới → thân cây chết đi (cây bị phủ định) và cứ như thế.
⇒ Đặc điểm quan trọng nhất của quy luật phủ định: Quy luật phủ định của
phủ định biểu hiện sự phát triển bên trong của sự vật quy định. Mỗi lần phủ định
đều là kết quả của sự đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập trong bản thân
sự vật → sự vật đấu tranh giữa khẳng định và phủ định.
+ Phủ định của phủ định xuất hiện với tư cách là cái tổng hợp tất cả những
yếu tố tích cực đã được phát triển từ trước trong cái khẳng định ban đầu và cả
18
* Cái riêng: Là một phạm trù của triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện
tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
19
* Cái chung: Là một phạm trù của triết học dùng để chỉ những mặt, những
thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng hay quá
trình riêng lẻ.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan giữa chúng có mối quan hệ hữu
cơ với nhau, biểu hiện ở các mặt sau:
- Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu
hiện sự tồn tại của mình → cái chung không tồn tại thuần tuý bên ngoài cái riêng
(VD: Phương thức sản xuất → lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất).
- Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong quan hệ với cái chung → không có cái
riêng nào tồn tại tuyệt dối độc lập, mà cái riêng chỉ còn tồn tại trong mối quan hệ
với cái chung.
- Sự vật hiện tượng nào cũng có hai mặt là cái chung và cái riêng, hai mặt này
đều tồn tại khách quan.
* Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung. Cái chung là các bộ
phận, nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
Cái riêng phong phú hơn cái chung bởi vì ngoài những đặc điểm gia nhập vào
cái chung, cái riêng còn có những đặc điểm riêng mà chỉ riêng nó có.
Cái chung là cái sâu sắc hơn cái riêng → phản ánh những mặt, những thuộc
tính, những mối liên hệ bên trong, tất nhiên ổn định phổ biến tồn tại trong cái
riêng cùng loại → Cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng
tồn tại và phát triển của sự vật.
Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau: Trong những điều kiện
nhất định, cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của tiến trình phát triển đi lên,
cái mới ra đời thay thế cái cũ.
+ Sự chuyểnhoá của cái trung thành, cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình
cái cũ, cái lỗi thời của phủ định.
thống nhất cả hai mặt đối lập.
Đấu tranh giữa bản chất và hiện tượng biểu hiện ở chỗ: sự đối lập giữa cái
bên trong và cái bên ngoài.
- Bản chất phản ánh cái chung, cái xấu xa, cái bên trong của hiện tượng phản
ánh cái riêng, cái sự vật biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.
- Sự đối lập giữa cái tương đối với cái thường xuyên biến đổi:
+ Bản chất phản ánh cái tương đối ổn định.
+ Hiện tượng phản ánh cái thường xuyên biến đổi.
- Hiện tượng phong phú hơn bản chất, còn bản chất thì sâu sắc hơn hiện
tượng: Hiện tượng phong phú hơn bản chất, vì tuỳ theo sự biến đối của điều kiện
và hoàn cảnh mà hiện tượng có những biểu hiện khác nhau → bản chất sâu sắc
hơn hiện tượng vì bản chất phản ánh cái bên trong cái ổn định của sự vật.
III. Một số kết luận về mặt phương pháp luận.
21
- Vì bản chất là cái tất nhiên, cái tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy
định sự vận động và páht triển của sự vật, còn hiện tượng là cái biểu hiện ra bản
chất bên ngoài, là cái không ổn định, cái biến đổi nhanh chóng hơn so với bản
chất nên về mặt nhận thức để hiểu được sự vật không chỉ dừng lại ở hiện tượng
mà phải đi sâu vào bản chất của nó.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất biện chứng của
các mặt đối lập ⇒ từ hiện tượng đi đến bản chất sự vật không thể là con đường
giản đơn.
Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả:
1. Khái niệm:
* Nguyên nhân: Là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hoặc
giữa các sự vật với nhau gây ra sự biến đổi nhất định.
* Kết quả: Là sự biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau của các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau.
Theo giả định của phép bản chất duy vật thì mối liên hệ nhân quả có tính
khách quan, phổ biến và tất yếu.
vai trò của con người trong việc vận dụng quy luật vì mục đích của mình.
- Một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra → vì vị trí khác
nhau trong việc hình thành kết quả → chúng ta cần phân biệt nguyên nhân, nắm
vững những nguyên nhân tác động cùng chiều hoặc khác chiều để tạo ra sức mạnh
tổng hợp và hạn chế nguyên nhân nghịch chiều.
- Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng kết quả không tồn tại một cách thụ
động, biết khai thác, vận dụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và
tiếp tục thúc đẩy sự vật phát triển.
Hai giai đoạn của quá trình nhận thức:
Khái niệm nhận thức:
Lý luận nhận thức hay còn gọi là nhận thức luận được hình thành từ khi triết
học mới ra đời. Tất cả các trào lưu triết học đều xuất phát từ thế giới quan của
mình để đưa ra những hệ thống quan điểm nhất định về vấn đề nhận thức (trả lời
câu hỏi). Đó là việc con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không. Lý
luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định con người có khả
năng nhận thức được thế giới và tìm ra chân lý. Mục đích của nhận thức là tìm ra
các quy luật nhằm biến đổi và cải tạo thế giới, bắt thế giới phục vụ mục tiêu, nhu
cầu, nhiệm vụ của bản thân con người. Như thế cũng có nghĩa là tìm ra chân lý.
Bản chất của nhận thức là sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan
hay là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người ở trình độ cao.
Nhận thức là một quá trình.
Để nhận thức được cần có một thế giới khách quan, một bộ óc bình thường và
hoạt động lao động.
23
Chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận những nguyên lý cơ bản của lý luận
nhận thức sau đây:
- Phải thừa nhận rằng có một thế giới sự vật triết học tồn tại khách quan bên
ngoài chúng ta và không lệ thuộc vào chúng ta. Quan điểm này nhằm chống lại
chủ nghĩa duy tâm vì chủ nghĩa duy tâm không thừa nhận quan điểm này.
- Giữa hiện tượng và "vật tự nó" không có sự khác nhau về nguyên tắc. Quan
+ Cảm giác: Là hình thức đầu tiên đơn giản nhất của nhận thức cảm tính,
phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng. Bản chất của cảm
giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
+ Tri giác: Là sự tổng hợp những thuộc tính riêng lẻ của sự vật trong mối
quan hệ hữu cơ với nhau. Cũng như cảm giác, tri giác mang tính trực tiếp.
+ Biểu tượng: Là một hình thức đi sâu vào bản chất của sự vật, biết được bản
chất của chúng thông qua một tập hợp những thuộc tính. Đã bắt đầu mang tính
khái quát và gián tiếp. Biểu tượng có vai trò là khâu trung gian giữa trực quan
sinh động và tư duy trừu tượng.
- Nhận thức của con người về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh
không chỉ dừng lại ở các hình thức cảm tính. Trên cơ sở những tài liệu, những dữ
kiện do nhận thức cảm tính đem lại, nhận thức phát triển lên một trình độ cao hơn,
nhận thức lý tính còn gọi là tư duy trừu tượng.
2. Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính): Là giai đoạn cao của quá trình
nhận thức dựa trên cơ sở những tài liệu do trực quan sinh động đem lại. Tư duy
trừu tượng cũng phản ánh hiện thực, nhưng là sự phản ánh gián tiếp và khái quát,
và do vậy "sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn" với các hình thức cơ bản
như: khái niệm, phán đoán và suy lý.
+ Khái niệm phản ánh một hoặc một số thuộc tính chung nào đó của một
nhóm sự vật, hiện tượng và do đó mà bao quát nhóm sự vật, hiện tượng ấy. Khái
niệm đóng vai trò rất quan trọng trong tư duy khoa học. Có thể xem các khái niệm
đã hình thành như những nguyên vật liệu để tạo nên ý thức tư tưởng… Mọi khái
niệm khoa học đều được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển
khoa học và thực tiễn. Trong khi nghiên cứu, vận dụng khái niệm chúng ta phải
chú ý đến tính biện chứng của nó, không được coi khái niệm là cái ngưng đọng, cố
định cứng nhắc và không biến đổi. Mỗi một khái niệm đều nằm trong mối quan hệ
liên hệ nào đó với cái khái niệm khác trong quá trình nhận thức tiếp theo về thế
giới, dẫn đến hình thành những khái niệm mới phản ánh sâu sắc hơn bản chất của
sự vật.
Khi áp dụng tính mềm dẻo, biện chứng của khái niệm phải tính đến nội dung