Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
PHẦN I-TỔNG QUAN
I.GIỚI THIỆU
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của Công Nghệ Thông Tin đã
góp phần giúp cho mọi người có thể khám chữa bệnh một cách nhanh chóng và
tiện lợi.
Việc chẩn đoán bệnh là thông tin rất hữu ích cho những muốn xem xét về
sức khoẻ của mình ở mõi ngày.
Việc chẩn đoán bệnh không nhất thiết là ta phải đi đến bệnh viện, đi đến
những trung tâm mới biết được kết quả chẩn đoán của mình, mà thế mạnh của
Công Nghệ Thông Tin sẽ giúp chúng ta có thể truy cập lên trang web và gởi
lên cho trung tam chuyên khám trò bệnh những file về bệnh nhân cần thiết và
không lâu sẽ có kết quả cụ thể chẩn đoán về tình trạng sức khỏe cho mõi bệnh
nhân tương ứng.
Chính từ lẽ đó đề tài Chẩn Đoán Bệnh Từ Điện Tâm Đồ Qua Mạng sẽ
giúp cho các bệnh nhân làm được điều này với những ý nghóa đầy hữu ích.
II.MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
Đề tài là một phần trong hệ thống Medicinal bao gồm hai phần cụ thể:
Phần I: Quá trình gởi file lên trung tâm chẩn đoán bệnh, bao gồm hai
bước :
Bước 1: Thiết kế trang web để cho bệnh nhân có thể đăng nhập
trên trang web bằng cách gởi File bệnh nhân, kèm theo thông tin về mình như
họ tên, đòa chỉ và số điện thoại lên server.
Bước 2: Trên server sẽ lưu giữ File bệnh nhân, kèm theo thông tin
mà bệnh nhân vừa gởi lên.
Phần II: Qúa trình xử lý file tại trung tâm chẩn đoán bệnh và gửi trả kết
quả về cho bệnh nhân, gồm các bước :
Bước 3: Khi có dữ liệu về bệnh nhân, server sẽ xử lý File bệnh
nhân này bằng cách dùng chương trình thực thi trên Điện Tâm Đồ để đo đạt.
Bước 4: Sau đó thu thập tín hiệu dưới dạng sóng từ File bệnh nhân
gởi lên trên Điện Tâm Đồ(ECG).
Mặc dù mô hình Client/Server có thể là các chương trình chạy trên một
máy đơn, nhưng mô hình này thật sự quan trọng hơn trong một mạng máy
tính.Trong một mạng máy tính, mô hình Client/Server tạo ra một giải pháp
thuận lợi để liên kết các chương trình phân tán trên các vò trí khác nhau một
cách hữu hiệu.
Mô hình Client/Server đã trở thành một trong những ý tưởng trung tâm của
mạng điện toán. Đa số các ứng dụng kinh doanh được viết ngày nay đều sử
dụng mô hình Client/Server. Trong mô hình Client/Server,thông thường một
server được vận hành và chờ yêu cầu từ client. Nhiều chương trình client chia
sẻ các dòch vụ của một chương trình server chung. Với Internet thì Web
Browser của bạn là một chương trình client yêu cầu các dòch vụ ( gửi các trang
web, các file ) từ một Web Server, FTP Server trên một máy tính ở một nơi nào
đó trên Internet.
II. JAVA SERVER PAGE
1.Giới thiệu :
Công nghệ Java Server Page là công nghệ được xây dựng từ những ứng
dụng chứa nội dung trang Web động như HTML, DHML, XHML vá XML.
Công nghệ JSP có khả năng tạo ra những trang Web với nội dung linh hoạt, có
vai trò quan trọng trong việc phát triển các ứng dụng Web.
Một trang JSP là một trang HTML, hay XML, trong đó có chứa mã Java,
phần HTML, chòu trách nhiệm về việc đònh dạng văn bản, mã chương trình
xem lẫn trong văn bản dùng để diễn đạt các yhao tác xử lý dữ liệu hoặc kết nối
với cơ sở dữ liệu . Trang Web truyền thống ( dùng HTML ) được trình chủ Web
gửi ngay đến cho máy khách (Client) khi có yêu cầu, còn các trang JSP phải
chạy qua một guồng máy riêng biệt, ở đó phần mã chương trình được tách ra
khỏi trang JSP, được thi hành và kết quả xử lý được ghi vào trang Web đang
xét, tạo thành trang HTM thuần tuý.
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
JSP
Comtainer
HTML
JSP
HTML
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
°Thẻ khai báo
<%! This is a declaration%>
<% this is a scriptlet %>
<%=this is a expression %>
°Hành động
jsp:useBean
Hành động jsp:useBean kết hợp một thể hiện của đối tượng ngôn ngữ lập
trình Java được đònh nghóa sẵn trong scope với id đã cho qua một biến kòch
bản mới được khai báo trong id đó.
Hành động jsp:useBean khá linh hoạt, phụ thuộc vào các thuộc tính đã
cho. Cơ bản là tìm đối tượng hiện hành đang sử dụng thuôc tính id và thuộc
tính scope;nếu không tìm thấy, nó sẽ tạo đối tượng dùng các thuộc tính
khác. Nó cũng có thể dùng hành động này chỉ tên cục bộ, được đối tượng
khá đònh ngiã trong trang jsp khác hoặc trong servlet;đối tượng này có thể
được thực hiện bởi thuộc tính type và không cung cấp các thuộc tính class
cũng như beanName. Nếu thuộc tính type và class cùng tồn tại, thì class
phải có thể gán cho type;nhưng điều này sẽ dẫn đến lỗi trong khi biên dòch.
Thuộc tính beanName là tên của Bean, được chỉ đònh trong đặc tả
JavaBean dành cho phương thức instantiate()trong java.beans.Beans. Thuộc
tính này sẽ được giải quyết trong lớp ClassLoader hiện hành. Nếu điều này
không đúng, một biệt lệ sẽ phát sinh. Giá trò của thuộc tính này có thể là
một biểu thức thuộc tính lúc yêu cầu.
Cú pháp:
Jsp:plugin
Thẻ jsp: plugin được thay thế bởi thẻ <object>hay <embed> thích hợp do
tác nhân người dùng yêu cầu, và được phát ra thành luồng xử lý. Các thuộc
tính thẻ <jsp:plugin> cung cấp dữ liệu cấu hình cho việc trình bày
element,như được chỉ ra trong bảng bên dưới.
Cú pháp:
<jsp:plugin type= “bean\applet”
code=”objectCode”
codebase=”objectCodebase”
{ align=”alignment”}
{ archive=”archiveList”}
{ height=”height”}
{ hspace=”hspace”}
{ jreversion=”jreversion”}
{ name=”componentName”}
{ vspace=”vspace”}
{ width=”width”}
{ nspluginurl=”url”}
{iepluginurl=”url”}>
{<jsp:params>
{<jsp: param name=”paramName” value=”paramValue”>}
+
</jsp:params>}
{<jsp:fallback. Arbitrary-text</jsp:falback>}
</jsp:plugin>
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
6
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
thập tín hiệu trên điện tâm đồ từ file bệnh nhân gởi lên dưới hình thức được
biểu hiện bằng làn sóng như hình :
Hình 1.1: Hình ảnh sóng trên ECG.
Dựa vào những thông tin từ ECG mà rút ra được các thông số có giá trò trong
chẩn đoán rất cao chẳng hạn như xác đònh về tốc độ tim(heart rate),các rối loạn
nhòp(arrhythmia),nhồi máu cơ tim,phì đại nhó,phì đại thất,block nhánh.Đó là
mục tiêu mà đề tài cần thực hiện.
2.SỰ HÌNH THÀNH ĐIỆN TÂM ĐỒ
Tim là một cơ rỗng,gồm 4 buồng dày mỏng không đều nhau,co bóp khác
nhau.Cấu trúc phức tạp đó làm cho dòng điện hoạt động của tim cũng biến
thiên phức tạp hơn ở một tế bào đơn giản như đã nói ở trên.
Tim hoạt động được là nhờ một xung động truyền qua hệ thần kinh tự động
của tim.Đầu tiên xung động đi từ nút xoang tỏa ra cơ nhó làm cho nhó khử cực
trước:nhó bóp trước đẩy máu xuống thất.Sau đó nút nhó-thất tiếp nhận xung
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
8
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
động truyền qua bó His xuống thất làm thất khử cực.Lúc này làm thất đã dày
máu sẽ bóp mạnh đẩy máu ra ngoại biên.
Hiện tượng nhó và thất khử cực lần lượt trước sau như thế chính là để duy trì
quá trình huyết động bình thường của hệ thống tuần hoàn.Đồng thời để ghi
được dòng điện hoạt động của tim,ta phải hiểu được hệ thống dẫn truyền xung
động điện ở tim.
3.HỆ THỐNG DẪN TRUYỀN XUNG ĐỘNG Ở TIM
Tim có những nút phát xung nhòp tự động và xung động phát ra từ nút này
được lan truyền trên cơ tim và những sợi thần kinh đặt biệt.Toàn bộ hệ thống
dẫn truyền gồm:
(bó His) vào các bó nhánh phải và trái trong vách gian thất một cách nhanh
chóng.
e.Bó nhánh phải và trái
Bó nhánh trái ngắn hơn nhánh phải và nó chia thành hai nhánh nhỏ nữa: trái
trước và trái sau.
Dẫn truyền xung động qua các bó nhánh thường không biểu hiện trên ECG
f.Mạng Purkinze
Xung động từ các bó nhánh ( nhánh phải và trái) đi vào nhiều phân nhánh
nhỏ của mạng Purkinze đến các tế bào của cơ tim của thất và gây khử cực tâm
thất.
Xung động đi từ nội tâm mạc ra lớp ngoại tâm mạc của cơ tim.
g.Qúa trình dẫn truyền xung động của một chu kỳ tim
Nút xoang-> cơ tâm nhó-> nút nhó thất-> bó His-> các nhánh trái và phải->
cơ tâm thất
Đường dẫn truyền Tốc độ dẫn truyền Thời gian dẫn truyền
(meters/sec) qua cấu trúc (sec)
Nút xoang <0.01 ~0.15
↓
Cơ tâm nhó 1.0-1.2 ~0.15
↓
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
10
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
Nút nhó thất 0.02-0.05 ~0.08
↓
Các nhánh phải và trái 2.0-4.0 ~0.08
↓
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
AVR RA LA-LF
AVL LA RA-LF
AVF LF RA-LA
Như vậy ta thấy khi đo một điện tâm đồ thì việc đặt các điện cực thu lấy các
chuyển đạo như thế nào để có thể nghiên cứu dòng điện tim bình thường và
bệnh lý một cách có ích.
Chính từ lẽ đó việc đặt điện cực theo 12 cách thu lấy 12 chuyển đạo thông
dụng bao gồm 6 chuyển đạo chi và 6 chuyển đạo trước tim là điều rất quan
trọng để đề tài có thể phát huy được.
Ở mỗi chuyển đạo sẽ có hình dạng sóng điện tâm đồ khác nhau,cũng như
hình ảnh ta nhìn thấy được khi đứng ở 12 góc độ khác nhau xung quanh một vật
có hình dạng gồ ghề,phức tạp.
Từ hình ảnh trên ta thấy:
D1:Điện cực âm ở cổ tay phải và điện cực dương ở cổ tay trái.Như vậy việc
đặt điện cực ở cổ tay chỉ là cốt để dễ buột ,thực ra nó phản ánh điện thế ở vai
phải và vai trái,là những chổ khó gắn điện cực,còn hai cánh tay chỉ làm nhiệm
vụ hai dây dẫn điện. Do đó trục chuyển đạo sẽ là một đường thẳng nối từ vai
phải (R) sang vai trái(L).
Theo cách mắc như vậy,khi điện cực tay trái dương tính tương đối thì máy
điện tim đồ sẽ ghi một làn sóng dương,còn khi điện cực tay phải dương tính
tương đối thì máy sẽ ghi một làn sóng âm.Với điều kiện như thế ta gọi chiều
dương của trục chuyển đạo là chiều từ vai phải sang vai trái.
D2:Điện cực âm đặt ở cổ tay phải,điện cực dương đặt ở cổ chân trái .Như thế
trục chuyển đạo ở đây sẽ là một đường thẳng đi từ vai phải(R) xuống gốc chân
trái(F) và chiều dương là chiều từ R sang F.
D3:Điện cực âm đặt ở tay trái và điện cực dương ở chân trái.Như thế,trục trục
chuyển đạo sẽ là đường thẳng LF và chiều dương là chiều từ L đến F.
Như vậy các trục chuyển đạo RL,RF và LF của D1,D2,D3 lập thành ba cạnh
của một hình tam giác,có thể coi như tam giác đều với mỗi gốc bằng 60 độ gọi
Người ta thường ghi đồng loạt cho bệnh nhân 6 chuyển đạo trước tim thông
dụng nhất ,ký hiệu bằng chữ V(voltage) kèm theo các chỉ số từ 1 đến 6.Đó là
những chuyển đạo đơn cực,có một điện cực trung bình nối vào cực trung tâm và
một điện cực thăm dò,được đặt lần lượt trên 6 điểm ở vùng trước tim.
V1:Khoảng gian sườn 4-cạnh bờ phải xương ức.
V2:Khoảng gian sườn 4-cạnh bờ trái xương ức.
V3:Trung điểm đoạn nối V2 và V4.
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
13
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
V4:Giao điểm đường dọc đi qua điểm giữa xương đòn trái và đường thẳng
nằm ngang qua mỏm tim(Nếu không đònh được mỏm tim thì lấy khoảng gian
sườn 5).
V5:Giao điểm đường nách trước với đường ngang đi qua V4.
V6:Giao điểm đường nách giữa với đường ngang đi qua V4,V5.
Nhìn lại V1 và V2 được coi như có điện cực thăm dò đặt trúng lên vùng thành
ngực ở sát trên mặt thất phải và gần khối tâm nhó,do đó chúng có khã năng
chẩn đoán được các rối loạn điện học của thất phải và khối tâm nhó một cách
rõ rệt hơn cả.Người ta gọi V1,V2 là các chuyển đạo trước tim phải.Cũng vì lẽ
đó V5,V6 ở thành ngực sát trên thất trái,được gọ là các chuyển đạo trước tim
trái.Còn các chuyển đạo V3,V4 ở khu vực trung gian giữa hai thất ,ngay trên
vách liên thất nên được gọi là các chuyển đạo trung gian.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp bệnh lý và tùy từng người ,tư thế tim trong
lồng ngực có thể khác nhau làm cho sự liên quan giữa điện cực và các tâm thất
không đúng hẳn như thế nữa.
Như vậy 6 chuyển đạo ngoại biên và 6 chuyển đạo trước tim hợp thành 12
chuyển đạo thông dụng ,đủ đáp ứng các yêu cầu chẩn đoán đối với một điện
tâm đồ mà đề tài cần phải thực hiện.
điểm sóng R nếu như không có sóng Q) tức khoảng PQ,và gọi đó là thời gian
truyền đạt nhó-thất,ta xét ở hai khía cạnh sau:
+ Khoảng PQ bình thường:Bình thường là 0.15sec,con số tối đa là 0.20sec
và tối thiểu là 0.11sec.Nếu vượt quá giới hạn này thì chắc chắn khoảng PQ
bệnh lý.nhưng đôi khi tần số tim cành nhanh thì PQ càng bò rút ngắn.Thí dụ như
ở một điện tâm đồ có tần số là 100/min thì con số giới hạn tối đa của PQ bình
thường là 0.16sec.
+ Khoảng PQ bệnh lý : Tức là vượt quá con số giới hạn tối đa thì bệnh lý
chắc chắn và đó là blốc nhó-thất cấp 1. Nếu khi PQ ngắn hơn bình thường
(<0.12sec)thì có thể là nhòp nút trên,nhòp nhó,nhòp nhanh kòch phát trên
thất,ngoại tâm thu nhó,hay là hội chứng WPW.
Thời khoảng PR:
Trường hợp không có sóng Q,bình thường kéo dài 0.12-0.20 sec,tính từ
điểm bắt đầu sóng P đến điểm bắt đầu phức hợp QRS ( không quan tâm đến
sóng bắt đầu phức hợp QRS là sóng P hay sóng R ).
Biểu diễn thời gian dẫn truyền từ tâm nhó đến tâm thất ( qua bó His )và
hình ảnh sau mô tả từng thành phần trên điện tâm đồ mà đề cần phải đo các
thông số này để rút ra được các kết quả trong việc chẩn đoán trong một chu kỳ
tim.
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
15
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
Phức hợp QRS:
Bao gồm ba làn sóng cao,nhọn Q,R,S biến thiên phức tạp nên gọi là phức
hợp QRS.Vì nó có sức điện động tương đối lớn lại biến thiên nhanh trong một
thời gian ngắn,chỉ khoảng 0.07sec nên còn được gọi là phức độ nhanh .Trong
phức bộ nhanh này sóng chính lớn nhất là sóng R.Về bề rộng QRS được đo từ
khởi điểm sóng Q đến hết sóng S tức là tới điểm J.
sau sóng R.
Biên độ của phức hợp QRS thay đổi rất nhiều khi đi từ chuyển đạo này sang
chuyển đạo khác.Trong các chuyển đạo chi, D1 và D2 thường có phức hợp
QRS dương ( trục +90 độ đến –30 độ). Trong các chuyển đạo trước ngực,
chuyển đạo nào càng gần tâm thất càng có biên độ QRS lớn.Biên độ QRS cũng
tỉ lệ với buồng thất.
Phức hợp QRS có nhiều biến đổi hình dáng trong trường hợp bệnh lý:
R R’ R R
S Q
R R
Q S S QS
Hình 1.5: Các dạng khác nhau của phức hợp QRS
Đoạn SR : Là đoạn không bao gồm một làn sóng nào mà chỉ là một đoạn
thẳng đi từ điểm tận cùng của QRS tới thời điểm của sóng T.
Khởi điểm sóng T thường rất khó xác đònh vì ST tiếp vào rất thoai thoải.Còn
điểm J cũng nhiều khi vô hạn.Vì thế thời gian của đoạn ST rất khó xác đònh và
rất ít được dùng trong lâm sàng.Trái lại người ta chú ý rất nhiều đến hình dạng
của đoạn ST và vò trí của nó so với đường đồng điện.Ta xét đoạn ST ở hai
trường hợp sau:
Trường hợp bình thường:Ở đại đa số người bình thường ,đoạn ST đồng điện
hoặc chênh lên tức không vượt quá 0.5mm ở chuyển đạo ngoại biên,và chênh
lên ở các chuyển đạo trước tim,đôi khi đoạn ST chênh xuống ở V6 nhưng
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
17
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
không vượt quá 0.5mm.Nói chung đoạn ST không uống cong mà đi thẳng và
Sườn lên thoai thoải và sườn xuống dốc hơn.
Trên một số trường hợp,đặt biệt ở phụ nữ, sóng T đối xứng và dễ xác đònh
đoạn ST.
Bình thường sóng T cùng chiều với QRS, ngoại trừ các chuyển đạo trước tim
bên phải.Bình thường sóng T luôn luôn hướng lên ở các chuyển đạo D1,D2,V3
đến V6 là luôn luôn đảo ngược ở aVR.
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
18
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
Sóng U: Đi sau sóng T. Không biết chắc ý nghóa của sóng U.Thông thường
sóng U cùng chiều với sóng T và có biên độ <1/3 biên độ của sóng T. Sóng U
thường được nhìn thấy khi tốc độ tim chậm và ở các chuyển đạo trước tim bên
phải.
Tóm lại:
Điện tâm đồ bình thường của mỗi nhát bóp tim ( hay chủ nhòp tim ) gồm 6
làn sóng nối tiếp nhau mà người ta dùng 6 chữ cái kiên tiếp để đặt tên là: P, Q,
R, S, T,U,trong đó người ta phân ra nhó đồ: sóng P,một thất đồ: các Q, R, S, T,
U, với thời gian truyền nhó-thất: khoảng PQ.
Với tần số tim bình thường ,khoảng 75/min thì sau sóng T,tim sẽ nghỉ đập
khoảng 0.28sec,thể hiện bằng một khoảng thẳng đồng điện rồi lại tiếp sang
nhát bóp sau với một loạt sóng P, Q, R, S, T, U khác và cứ như thế tiếp diễn
mãi.Thời gian nghỉ trên gọi là thời kỳ tâm trương toàn thể của tim.
6.NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN ĐO TỪ ECG
Đây là những giá trò cần đo đạt được trong hệ thống chẩn đoán điện tâm đồ
mà đề tài cần phải phát huy được để lấy kết quả mà kết luận về rối loạn nhòp
và các tổn thương ở tim.
♦ Tốc độ
♦ Nhòp tim
thể là đều hoặc không đều.
Trường hợp nhòp tim đều khi có tốc độ từ 60 đến 100 và sóng P có thể phát
hiện được và không thay đổi hình dáng .
Tuy nhiên có thể không đều theo nghóa là tốc độ đập có thể thay đổi,người
ta gọi trường hợp này nhòp tim không đều,còn gọi là loạn nhòp xoang thường
gặp ở trẻ em do hô hấp.
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98
TH
208
20
VF
0
o
120
o
90
o
150
o
60
o
30
o
VL
-
-
-
I
II
III
TH
208
21
+/-180
o
VR
Đề tài: Tìm Hiểu Hệ Thống Chẩn Đoán Điện Tâm Đồ Qua Mạng GVHD:ThS.Vónh Sơn
+ Các hội chứng bệnh lý:
Hội chứng WPW : Là chữ viết tắt của Wolf-Parkinson-White,là một hội chứng
của
điện tâm đồ bao gồm một phức bộ QRS giãn rộng đi kèm với một khoảng PQ
ngắn
lại.
Hội chứng này có thể gặp ở người bình thường ,ở một số bệnh nhiễm khuẩn,dò
ứng,thoái hóa hay ở các bệnh mạch vành,thấp tim,tim bẩm sinh .
Hội chứng WPW thường đi đôi với hội chứng tim nhanh trên thất kòch
phát.Người ta chia hội chứng WPW ra làm hai kiểu:
Kiểu A : Là kiểu mà sóng dương ở tất cả các chuyển đạo trước tim.
Kiểu B : Là kiểu sóng âm ở các chuyển đạo trước tim phải và dương ở các
chuyển đạo trước tim trái.
+ Nhòp nối nút nhó thất kém sự kích hoạt nhó kém.
+ Nhòp ngoại lai nhó (Ectopic atrial rhythm).
PR kéo dài :>0.20 sec.
+ Block nhó thất độ I (thời khoảng PR thường hằng số ).
+ Trì hoãn dẫn truyền ở gian nhó (intra – atrial conduction delay)
(ít gặp).
+ Dẫn truyền bò chậm ở nút nhó thất( vò trí thông thường nhất ).
+ Dẫn truyền bò chậm ở bó HIS (hiếm gặp).
+ Dẫn truyền bò chậm ở nhánh (khi contralateral bundle bò block).
+ Block nhó thất độ II (Thời khoảng PR có thể bình thương hoặc
tim:dày thất blốc nhánh,thiểu năng vành,thấp tim,bạch hầu biến chứng tim.
QT ngắn:
Các bệnh nội tiét ngược lại trên:calci huyết tăng trong cường cận giáp,kali
huyết tăng.
Bình thường phụ thuộc nhiều vào tốc độ của thất.Do đó thay vì dùng QT người
ta dùng QTc = QT/squareroot(thời khoảng R-R tính bằng giây ).Giới hạn trên
của QTc là 0.44sec.
Hội chứng Qt kéo dài (LQTS, viết tắt của Long QT syndrome),bất thường này
có ý nghóa quan trọng trong lâm sàng vì nó chỉ ra trạng thái
Những nguyên nhân gây ra LQTS là :
+ Thuốc (nhiều thuốc chống loạn nhòp ,tricyclic,phenothiazines và nhiều
loại khác ).
+ Sự bất thường các chất điện giải(giảm K+ giảm Ca++ ,giảm Mg++).
+ Herediatary LQTS(ví dụ hội chứng Romano-Ward).
+ Bệnh mạch vành (ở một số bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim).
Trục QRS mặt phẳng trán
Bình thường –30
o
đến +90
o
.
Trục bất thường :
Lệch trái (> -30
o
,tức là chuyển đạo II âm nhất).
+ Nhồi máu dưới(dạng QS hay qrS ở chuyển đạo II).
+ Các tổn thương màng trong của tim.
Lệch phải (> +90
o
,tức là chuyển đạo I âm nhất).
Có hai loại hội chứng bao giờ cũng phải xét đến là:
+ Các hội chứng về hình dạng sóng.
+ Các hội chứng về rối loạn nhòp.
2.1 CÁC RỐI LOẠI NHỊP (Rthythm Disturbances)
Điện tâm đồ có giá trò rất lớn trong việc chẩn đoán các rối loạn nhòp tim.
Chúng ta đều biết bất cứ điểm nào,ổ nào trong hệ thống thần kinh tự động của
tim cũng đều có tính tự động phát ra xung động chỉ huy tim bóp .Vì thế ,để đảm
bảo tim đập điều hòa thì phải có một ổ nào đó giữ vai trò chỉ huy thống nhất và
tìm kiếm được xung động của các ổ khác:Ta gọi đó là ổ chủ nhòp hay tạo nhòp.
Bình thường ,nút xoang giữ vai trò chủ nhòp,vì nó phát xung động với một tần
số nhanh nhất 70/min.Các ổ khác càng ở thấp thì càng có tần số chậm hơn nút
nhó-thất:50/min,thân bó His:40/min
Nhòp tim có thể bò rối loạn về tính chòu kích thích hay tính vẫn truyền gây ra
một vòng vào lại ở cơ tim,nhất là trong nút nhó-thất.
Các rối loạn đó có thể đi đơn độc hay phối hợp vào nhau rất phức tap,khó chẩn
đoán.
2.1.1 Nhòp xoang (Sinus Rhythm)
Nhòp tim do nút xoang làm chủ nhòp. Đó cũng là nhòp bình thường của tim
+ Sóng P đứng trước phức hợp QRS
+ Khoảng PQ không thay đổi và dài bình thường (0.11s - 0.20s)
+ Sóng P dương ở D1, V5, V6 và âm ở aVR trừ trường hợp tim sang
phải
-Phân biệt :
+ Nhòp xoang bình thường có tần số 60-70 nhòp/phút
+ Nếu nhòp xoang nhanh hơn 80 nhòp/phút : gọi là nhòp xoang nhanh
(sinus tachycardia )
+ Nếu nhòp xoang chậm hơn 50 nhòp/phút ta gọi là nhòp xoang chậm
(sinus bradycardia).
-Phục hồi và duy trì nhòp xoang:
SVTH: Lê Văn Song MSSV: 98