Ôn thi tốt nghiệp môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án - Pdf 18

CÂU 1: Đồng chí hãy phân tích: Nguồn gốc hình thành tư tưởng HCM, làm rõ
mối quan hệ giữa các nguồn gốc đó và khẳng định nhân tố có vai trò quan trọng
nhất.
(Truyền thống dân tộc - Tinh hoa văn hóa nhân loại - Chủ nghĩa Mác-Lênin -
Chủ quan của Hồ Chí Minh).
Bài làm

Chủ tịch HCM - vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, điều đó đã
được dân tộc VN và cả nhân loại ngày nay thừa nhận. Với thiên tài trí tuệ của mình, với
lòng yêu nước nồng nàn và thương dân sâu sắc, Bác - từ một con người giản dị bình
thường đã trở thành nhà tư tưởng vĩ đại, một nhà lý luận thiên tài của cách mạng VN.
Người là sự kết tinh những giá trị tinh hoa nhất của văn hóa dân tộc và của nhân loại,
là bước phát triển mới của CN Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của VN. Tư tưởng ấy
có giá trị vô cùng to lớn, định hướng cho CM VN trong hơn nữa thế kỷ qua, góp phần
thúc đẩy tiến trình văn minh, tiến bộ của nhân loại. Hiện nay tư tưởng HCM đang tiếp
tục soi đường cho CM nước ta trong sự nghiệp đổi mới, cương lĩnh của Đảng ta năm
1991 đã xác định:” Đảng lấy CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động”. Đây là kết luận rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực
tiễn lịch sử Đảng ta và CM VN từ khi có Đảng lớn Hội nghị TW 6 (lần 2) khóa 8 khi bàn
về quyết định những nhiệm vụ cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, một
lần nữa khẳng định quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng là:” Chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng HCM là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng”.
Tư tưởng HCM là sản phẩm của sự kết hợp sáng tạo CN Mác-Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là lý luận chiến lược CM d.tộc,
dân chủ nhân dân tiến lên CNXH, là khoa học về quy luật phát triển xã hội thuộc
địa nửa phong kiến, kinh tế chưa phát triển, là hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân và nhân dân VN trong thời đại mới. Hay có thể nói đó là một hệ thống
những luận điểm về cách mạng VN từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
tiến lên CNXH nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và con người, xây
dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, góp phần
vào CM thế giới.

HCM trong suốt cuộc đời. Người nói:” Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm
sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng
bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
Nói về Chủ nghĩa Mác LêNin, HCM khẳng định:” đó là vũ khí tư tưởng không
gì thay thế được, nó là cẩm nang, là mặt trời soi sáng ta đi tới CNXH, CNCS” với
phép biện chứng duy vật đã giúp Bác có được tư duy và phương pháp luận
đúng đắn, nhờ đó Bác đã thành công trong trong quá trình hoạt động CM, gần
mười năm bôn ba qua nhiều châu lục, khảo sát thực tiễn qua nhiều nước Tư bản
và thuộc địa, Bác đã sớm nhận thức được xu hướng của thời đại, từ một người
yêu nước, từ nhận thức hết sức nhạy bén, sáng tạo và trí tuệ sáng suốt Bác đã
gặp CN Mác-Lênin như một cuộc hẹn hò từ trước” Luận cương về vấn đề dân
tộc và thuộc địa” của Lênin đã soi sáng và tạo ra những bước ngoặt phát triển tư
tưởng của HCM, từ yêu nước chưa có định hướng chuyển sang lập trường của
CN M-Lê nin và Người đã rút ra kết luận : ”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Đó là cuộc
CM dân chủ tư sản kiểu mới do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh
đạo nhằm đánh đổ đế quốc phong kiến và tay sai, giành độc lập dân tộc, thực
hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm CM XHCN, xây dựng CNXH và
CNCS Ở VN. Đó là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết
hợp CN yêu nước và CN quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội và giải phóng con người.
Đối với tông giáo, Bác hiểu rất sâu sắc, vận dụng rất sáng tạo của Nho giáo,
Phật giáo và các tôn giáo khác như việc liên hệ đạo đức người CM với đạo tam
tài, trời, đất. Bác nói:” Ông Mác có phép DVBC, ông Khổng có đức trí dũng con
người, Đức chúa Giêsu có lòng nhân ái, Đức phật Thích ca có lòng từ bi bác ái,
Tôn Dật Tiên có chủ nghĩa tam dân. Nếu các vị ấy còn sống thì chắc họ sẽ sống
hoàn mỹ với nhau, bởi vì các vị đó có một điểm chung là muốn giải phóng con
người, giải phóng nhân loại, tôi nguyện làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.
Những giá trị tốt đẹp ấy đã trở thành nguồn gốc rất quan trọng trong quá trình

cơ bản đó là: CN Mác-Lênin, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tinh hoa văn hóa nhân loại.
Trong các nguồn gốc hình thành nên tư tưởng HCM, chủ nghĩa yêu nước là cơ sở
ban đầu và động lực thúc đẩy Người tự giác đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, còn CN
Mác-Lê nin đã nâng CN yêu nước lên một bước phát triển mới về chất phù hợp với
thời đại mới. CN Mác-Lê nin là nguồn gốc trực tiếp và chủ yếu của tư tưởng HCM.
Tinh hoa văn hóa nhân loại đã giúp cho HCM hiểu sâu sắc hơn CN Mác-Lê nin, làm
phong phú bản sắc tư tưởng của Người, do kết hợp được dân tộc với thời đại, phương
Đông với phương Tây và nâng tầm văn hóa chính trị của Người ngang tầm với thời
đại. Tư duy HCM hình thành là sự tổng hợp, chắt lọc tư duy độc lập qua trí tuệ và nhân
cách lớn của Người. Trên cơ sở một bản lĩnh chính trị kiên định và cốt cách văn hóa
độc đáo của Người. Đó là kết quả tổng hợp quá trình đấu tranh lâu dài trong thực tiễn,
hiểm nguy, gian khó qua nhiều châu lục, một quá trình học tập, tích lũy kinh nghiệm
sống và chiến đấu của Người.
Nguồn gốc hình thành tư tưởng HCM đã quy định tính cách mạng, khoa học của tư
tưởng đó. Tư tưởng HCM là kết quả của sự vận dụng sáng tạo CN Mác-Lê nin trong
điều kiên cụ thể của nước ta. Tư tưởng HCM là tài sản tinh thần quý báu của toàn
Đảng, toàn dân tộc ta đã đang và sẽ biến thành sức mạnh vật chất soi đường chỉ lối
cho dân tộc ta đi tiếp chặng đường đổi mới, xây dựng CNXH.
3
Tính khoa học sáng tạo của HCM đã được lịch sử đấu tranh CM 70 năm qua
kiểm chứng, trải qua bao khúc quanh của lịch sử dân tộc và những biến cố khắc
nghiệt của d.tộc, thời đại, tư tưởng của Bác vẫn luôn cùng con cháu thời đại
HCM vững bước đi tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh, tư tưởng đó là niềm tự hào của mọi thế hệ VN. Dưới ánh sáng của CN
Mác-Lê nin và tư tưởng HCM, toàn Đảng, toàn dân ta càng vững tin vào thắng
lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng. Mỗi CB, đảng viên và người
dân VN cần phải ra sức học tập, rèn luyện tu dưỡng theo tư tưởng của Người
góp phần xây dựng một nước VN độc lập, thống nhất bền vững trong thời đại
ngày nay, tư tưởng HCM vẫn sống mãi với non sông VN./

tình cảm yêu nước VN ngay thời phong kiến nước chủ yếu không phải là Vua
mà trước hết là dân là đồng bào, là phẩm giá dân tộc và phẩm giá con người. Ba
là do hai dặc tính trên tư tưởng yêu nước truyền thống VN có xu hướng gắn với
tiến bộ XH. Tư tưởng yêu nước VN chưa đựng khát vọng về tự do công bằng
bình đẳng XH của nhân dân. Các vị anh hùng dân tộc đều có đường lối ít nhiều
4
đáp ứng khát vọng ấy. Nhân dân VN yêu nước mình nhưng không ít kỷ hẹp hòi
dân tộc mà tôn trọng các dân tộc khác khoan dung và quý trọng tình hoà hiếu.
Dân tộc VN có truyền thống đoàn kết nhân ái tinh thần tộng đồng lá lành
đùm lá rách trong hoạn nạn khó khăn. Dân tộc VN có truyền thống lạc quan yêu
đời trong muôn nguy ngàn khó ngươi LĐ vẫn độ viên nhau “chớ thấy sóng cã mà
ngả tay chèo” và tiếng cười vẫn không ngớt vang lên trong cuộc sống. Dân tộc
VN cần cù thông minh sáng tạo trong SX và chiến đấu đồng thời cũng là dân tộc
ham học hỏi và mở rộng cửa đón nhân tinh hoa VH nhân loại. Người VN từ xưa
đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi thủ cựu thói bài ngoại cực đoan. Trên cơ sở giử
vững bản sắc dân tộc nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu cải biến những cái
hay, cái tốt cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình.
Tư tưởng HCM là sự kết tinh trọn vẹn sinh động của những giá trị truyền thống
cao quý đó. Chủ nghĩa yêu nước VN là nguồn gốc sâu xa của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ tuổi thanh niên HCM đã là một trong những người con yêu nước ưu tú nhất tiêu
biểu nhất của dân tộc. Tất cả ý nghĩa cuộc sống đối với người lúc đó là cứu nước giải
phóng dân tộc cứu đồng bào bị đọa đày đau khổ. Người coi đấy là lẽ sống thiêng liêng
nhất, Người nói :”tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi đấy là tất cả những
điều tôi muốn, đấy là tất cả những đều tôi hiểu”. Đối với Người tất cả mọi kế sách đều
vô nghĩa nếu không nhằm tự do cho đồng bào, độc lập cho tổ quốc . Cả cuộc đời
Người”chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn
toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
cũng được học hành “. HCM lúc thiếu thời rất khâm phục tinh thần yêu nước xã thân vì
nước của các sĩ phu văn thân, các chiến sĩ như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám,
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Nhưng Người không tán thành đường lới cứu nước

phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng tử có nhiều điều không đúng song
những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” Người cho rằng để kế thừa
những cái hay trong tư tưởng các bậc tiền bối cần theo phương pháp Lênin .
Người nói :”Chỉ có những người CM chân chính mới thu thái được những hiểu
biết quý báu của các đời trước để lại. Lênin dạy chúng ta như vậy” Tù tuổi thiếu
niên, HCM đã tiếp cận những yếu tố VH phương Tây qua trường học Pháp Việt.
Trong cuộc đời hoạt động CM của mình Chủ tịch HCM đã sống 30 năm ở nước
ngoài mà chủ yếu là ở Châu âu nên Người cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng
của nền VH dân chủ CM phương Tây. Người đã từng sống và làm việc ở thủ đô
của các nước TB phát triển nhất như Mỹ, Anh và nhất là Pháp… Tại quê hương
của tự do bình đẳng bác ái, Nguyễn Aùi Quốc đã tiếp xúc trực tiếp với các tác
phẩm cũa các nhà triết học Khai sáng như Vonte, Rútxô, Môngtéckiơ… những
lýù luận gia của CM Pháp
Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị tư tưởng VH phương Tây cũng như đối
với những giá trị phương đông vơí tinh thần phê phán Người đã trực tiếp thấy rõ
ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông dương, những thống khổ không
sao kể siết của đồng bào mình, đã tận mắt trong thấy tội ác dã man của bọn
thực dân ở tất cả các nước thuộc địa mà Người đi qua, trực tiếp chứng kiến
những bất công phổ biến ngay ở những nước “văn minh”. Qua thực tế HCM đã
sớm phát hiện ra mặt trái của nền văn minh phương Tây. Song điều đó không
ngăn cản Người tiếp thu kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn minh phương Tây
Tư tưởng HCM là sự vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
Lênin
Trên cơ sở những nhân tố tư tưởng nói trên đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước
Nguyễn Aí Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng HCM là kết quả sự
gặp gở giữa chủ nghĩa yêu nước VN và chủ nghĩa Mác Lênin. Việc Nguyễn Aùi
Quốc đến với chủ nghĩa Mác Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác Lênin “cái cần
thiết” và “ con đường” giải phóng dân tộc VN, “ngọn hải đăng soi đường cho toàn
thể nhân loại bị áp bức đi tới giải phóng” là bước quyết định trong quá trình hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Bắt gặp chủ nghĩa Mác Lênin tư tưởng yêu nước ở

nằm trong các phạm trù cơ bản của lý luận Mác Lênin . Tuy nhiên tư tưởng HCM
không phải chỉ là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh và
điều kiện VN mà còn là sự phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác Lênin ở
thời dại các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập tự do.
Cuối cùng phải nói đến những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất
cá nhân của HCM là nhân tố rất quan trọng để hình thành và phát triển tư
tưởng HCM
Đó tà tư chất bản lĩnh trí tuệ, tâm hồn, phong cáh đặc biệt được tôi luyện
trong hoạt động thực tiễn lâu dài. Đó là tư duy độc lập tự chủ sáng tạo cộng với
đầu óc phê phán tinh tường sáng sốt trong việc nghiên cứu tìm hiểu phong trào
thế giới đặc biệt là các cuộc CM TS rút ra những kết luận cần thiết để vận dụng
vào điều kiện nước ta. Đó là khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức
phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng
dân tộc , phong trào công nhân quốc tế đễ có thể tiếp cận với chủ nghĩa Mác
Lênin KH về CM của giai cấp vô sản quốc tế và đó là tâm hồn của một chiến sĩ
nhiệt thành CM một trái tim yêu nước thương dân vô bờ bến sẳn sàng chịu đựng
hy sinh cao nhât vì độc lập của tổ quốc vì tự do hạnh phúc của đồng bào. Chính
thông qua phẩm chất trí tuệ và năng lực đặc biệt đó mà truyền thống vẽ vang
của dân tộc cùng với các giá trị kim cổ đông tây được hấp thụ chắc lọc thành
một sản phẩm đặc biệt-tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tóm lại trong các nguồn gốc nói trên chủ nghĩa yêu nước là cơ sở ban đầu
và động lực thúc đẩy Người tự giác đến với chủ nghĩa Mác Lênin. Còn chủ nghĩa
Mác Lênin đã nâng chủ nghĩa yêu nước lên một bước phát triển mới về chất phù
hợp với thời đại mới. Chủ nghĩa Mác Lênin là nguồn gốc trực tiếp và chủ yếu
của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tinh hoa văn hóa nhân loại đã giúp HCM hiểu sâu
chủ nghĩa Mác Lênin, làm phong phú bản sắc tư tưởng của Người do kết hợp
7
được dân tộc với thời đại, VH phương Đông và phương Tây và nâng tầm VH CT
của Người ngang tầm thời đại…Sự hình thành tư tưởng HCM không phải là số
cộng giản đơn ba bộ phận đó. Ở đây diễn ra một quá trình tổng hợp chắc lọc

Tư tưởng HCM về con đường giải phóng dân tộc là thực hiện sự kết
hợp hài hòa giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
quốc tế, độc lập dân tộc và CNXH. Nội dung của thực thể này được HCM
xây dựng thành một hệ thống luận điểm dưới đây.
Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con
đường cách mạng vô sản: thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế
kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là do chưa có đường lối đúng, khi chủ nghĩa đế quốc
trở thành hệ thống thế giới, Nguyễn Ái Quốc ví chủ nghĩa đế quốc là “con
đỉa 2 vòi”, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa. Muốn
đánh bại chủ nghĩa đế quốc cùng một lúc cắt cả 2 vòi của nó đi, tức là phải
thực hiện cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân
tộc ở thuộc địa, phải xem cách mạng ở thuộc địa như là một trong những
cái cứu cánh cách mạng vô sản, cùng tiến bước với cách mạng vô sản.
Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng của
giai cấp công nhân lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: muốn cách
mạng giải phóng dân tộc thành công trước hết phải có Đảng Cách mệnh …
8
Đảng có vững thì cách mạng mới thành công … Đảng muốn vững thì phải
có chủ nghĩa làm nòng cốt … bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều,
nhưng chủ .nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ
nghĩa Mác - Lê nin.
Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân
trên cơ sở liên minh công nông do Đảng cộng sản lãnh đạo. cách mạng
giải phóng dân tộc1theo Nguyễn Ái Quốc là việc chung ca dân chúng chứ
không phải việc của một hai người, vì vậy phải đoàn kết toàn dân, sỉ, nông,
công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền. Nhưng trong sự tập hợp
rộng rãi đó không được quên cái cốt của nó là công nông và do Đảng lãnh
đạo. Phải nhớ: “công nông là chủ cách mệnh … công nông là gốc cách
mệnh, nhưng phải có Đảng cộng sản lãnh đạo thì mới đoàn kết được và
CM mới thành công.

lực. Năm 1947, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập G.phóng quân VN. Người
khẳng định: D.tộc VN nhất định phải được giải phóng. Muốn G.phóng thì
phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng
9
quân sự. Muốn có LL lượng thì phải có tổ chức. Muốn tổ chức thành công
thì phải có kế hoạch, có quyết tâm.”
Trong quá trình lãnh đạo CM nhờ biết kế thừa truyền thống và kinh
nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc, vận dụng sáng tạo lý luận bạo lực
CM của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tiếp thu tinh hoa lý luận và kinh nghiệm
quân sự của thế giới. HCM đã đẻ ra và hoàn chỉnh dần lý luận về bạo lực
CM ở VN.
Theo HCM, bạo lực CM ở VN là sức mạnh tổng hợp của hai yếu tố chính
trị và quân sự, hai lực lượng là lực lượng chính trị quần chúng và lực
lượng vũ trang nhân dân. CM bạo lực là sử dụng sức mạnh tổng hợp để
chống lại bạo lực phản CM, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền
dưới hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
Khẳng định G.phóng D.tộc phải bằng con đường CM bạo lực. Song, HCM
luôn luôn chủ động, tích cực đưa ra giải Pháp để tranh thủ khả năng hòa
bình và phát triển CM. Thực tiễn CM VN đã chứng minh tư tưởng này của
HCM.
Tư tưởng về D.tộc và CM G.phóng D.tộc là một nội dung lớn, nổi bật
trong hệ thống tư tưởng HCM. Với tư tưởng này HCM chẳng những đã đưa
nước VN đến độc lập tự do, thống nhất trọn vẹn, mà còn góp phần to lớn
vào sự nghiệp G.phóng các D.tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới.
Với những đóng góp đó HCM đã được nhân dân tôn vinh là nhà G.phóng
D.tộc và nhà văn hóa lớn.
Tóm lại, Nguyễn Ái Quốc – HCM đã vận dụng sáng tạo học thuyết của chủ
nghĩa Mác - Lê nin về CM thuộc địa thành một hệ thống luận điểm mới,
sáng tạo, bao gồm cả đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp tiến
hành CM G.phóng D.tộc ở thuộc địa.

Nhưng ở mỗi nước tùy theo đặc điểm điều kiện của mình ma không nhất
thiết phải tuần tự tuân theo các giai đoạn phát triển của hình thái KT XH , có
thể bỏ qua một, hai giai đoạn (My,û Úc không có giai đoạn PK) Lê nin đã
phát triển tư tưởng CM không ngừng của Mác và Aêng để luận chứng một
cách toàn diện khả năng đi tới chủ nghĩa XH bỏ qua chế độ TBCN của các
dân tộc thuộc địa. Trên nền lý luận chung đó Hồ Chí Minh đã lĩnh hội những
vấn đề mấu chốt cho dân tộc mình. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa XH là sự
phát triển tất yếu không chỉ đối với đã qua CNTB mà còn có đối với VN.
Mặt khác, Hồ Chí Minh không phải trên cơ sở phân tích sự chín muồi của
cơ sở KT làm xuất hiện chủ nghĩa XH như là một phương thức cần thiết để
giải quyết những mâu thuẫn của CNTB , mà người chú ý đến một phương
diện khác không kém phần quan trọng là chủ nghĩa XH ra đời chính từ sự
tàn bạo của CNTB. Tại các nước thuộc địa, những hình thức bóc lột nô dịch
của bọn thực dân làm bộc lộ những khuyết tật phi nhân tính bẩm sinh không
thể khắc phục được của CNTB. Đó là cơ sở để người lao động ý thức giác
ngộ sứ mệnh lịch sử của mình, nhất là đối với giai cấp công nhân – giai cấp
tiên tiến CM , trước vận mệnh quốc gia dân tộc , chờ thời cơ để vùng dậy
thủ tiêu xiềng xích thực dân, thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải
phóng chính họ thoát khỏi bất kỳ một hình thức áp bức bóc lột nào.
Về cơ sở thực tiễn, xuất phát từ truyền thống văn hóa lịch sử dân tộc Việt
Nam có lòng vị tha nhân ái. Trong XH PK Việt Nam cũng xuất hiện nhiều
mầm mống tư tưởng XHCN: đề cao dân chủ, lấy dân làm gốc (Trần Hưng
Đạo, Nguyễn Trãi …)
Việc đoàn kết xây dựng làng xóm, lối sống cộng đồng cũng nói lên được
nhân tố XHCN sớm hình thành trong con người Việt Nam. Đồng thời như
chúng ta đã biết Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những mặt tích cực
của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo như trọng hiền tài, đạo đức , văn hóa ,
mong muốn XH tốt `. Đây cũng là những cơ sở hình thành nên tư tưởng Hồ
Chí Minh về đi lên chủ nghĩa XH ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh là con người sống hòa nhập vào thực tiễn tệ luôn luôn gắn bó

dân tộc không còn con đường nào khác con đường CM vô sản , con đường
CM tháng 10.
Đặt CM giải phóng dân tộc nằm trong phong trào CM vô sản, gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa XH đã khiến quan điểm giải phóng dân tộc của Hồ Chí
Minh mang tính toàn diện và triệt để. Trong điều kiện Việt Nam, độc lập dân
tộc là tiền đề đầu tiên để tiến tới chủ nghĩa XH , đi tới cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc.
Độc lập dân tộc không phải là mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa XH và con đường đi lên chủ
nghĩa XH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đảng và nhân dân ta quyết
tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CM Việt
Nam. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc , giải phóng giai cấp , giải phóng
con người về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa XH. Tư tưởng Hồ Chí
Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta để giành thắng lợi, là
tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Để giữ vững được mục tiêu
chủ nghĩa XH cần phải xây dựng , chỉnh đốn Đảng , nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng , đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động
của Nhà nước , phát huy dân chủ , tăng cường Pháp chế.
Khắc phục những biểu hiện : chủ quan, nóng vội , duy ý chí. Tiếp tục đẩy
mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy Nhà nước và toàn bộ
hệ thống chính trị nhằm tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân, bảo vệ
12
vững chắc chế độ XHCN. Cần phải kết hợp hài hòa giữa phát triển KT với
thực hiện tiến bộ công bằng XH , đảm bảo được định hướng XHCN. Cần kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại , nội lực với ngoại lực, phải
biết dựa vào nhân dân , vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn
luôn sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời c
Câu 3a : Làm rõ căn cứ khoa học để Hồ Chí Minh lựa chọn mục tiêu CNXH

mà hình thức kinh tế xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơn hình thức kinh tế xã hội
trước nó. Và thực tiễn, lịch sử cũng đã chứng minh loài người đã trải qua hình
thức kinh tế xã hội : Công sản nguyên thủy, CHNL, phong kiến, tư bản chủ
nghĩa và hiện nay đang là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nếu chế độ tư
bản chủ nghĩa tất yếu ra đời từ chế độ phong kiến thì chủ nghĩa tư bản cũng sẽ
xác lập các tiền đề kết quả để tự phủ định nó, và theo Hồ Chí Minh, logic tiến lên
xã hội cho thấy đã đến lúc chủ nghĩa tư bản mở đường cho sự ra đời một chế độ
xã hội mới là chế độ xã hội chủ nghĩa. Tiến lên chủ nghĩa xã hội là qui luật vận
động kết quả của lịch sử trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ là
thứ vũ khí lý luận không gì thay thế được, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam là
13
mặt trời soi sáng cho con đường cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối
cùng, đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Ở Hồ Chí Minh, Người tiếp thu
chủ nghĩa Mác – Lênin là tiếp thu những nguyên lý cơ bản, tiếp thu phương
pháp biện chứng chứ không sao chép giáo điều. Người vận dụng sáng tạo lý
luận về chủ nghĩa không ngừng vào cách mạng Việt Nam. Người đã giải quyết
tốt mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Theo Người :
“Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khắng
khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới. Cách mạng giải phóng
dân tộc phải tiến lên thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được
thắng lợi hoàn toàn”. Như vậy, cách mạng giải phóng dân tộc không phải là mục
đích cuối cùng mà nó chỉ là màn giáo đầu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa và chỉ
có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì mới thức sự giải phóng được nhân dân lao động,
mới đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho mọi người.
Chủ nghĩa xã hội là ước mơ của nhân dân lao động trên toàn thế giới, nó
đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa tư bản đầy máu và nước mắt. Đó là máu và
nước mắt của giai cấp vô sản, chính quốc và của nhân dân thuộc địa : Hồ Chí
Minh đã nói : Chủ nghĩa đế quốc là con đĩa hai vòi, một vòi hút máu nhân dân lao
động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa. Và một vòi nhơ nhớp đó
đã vươn tới Việt Nam vào năm 1858 khi Pháp nổ súng xâm lược nước ta và đặt

1776, Cách mạng tháng 10 Nga 1917. Người đã rút ra những kết luận quan
trọng. Người đã phát hiện ra rằng các cuộc cách mạng tư sản như : cách mạng
Pháp, Cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng không triệt để, tuy thành công
nhưng không đến nơi đến chốn vì người lao động vẫn chưa hoàn toàn được giải
phóng, xã hội còn đầy bất công. Đảng viên Hồ Chí Minh cơ sở hàng đầu để
đánh giá tính triệt để của một cuộc cách mạng là qui mô giải phóng nhân dân lao
động bị áp bức. Cách mạng dân chủ tư sản do bản chất của nó, chỉ là sự thay
thế hình thức áp bức bóc lột khác và tại bộ phận người lao động vẫn sống cực
khổ. Dưới nhãn quan của Hồ Chí MInh chỉ có cách mạng tháng 10 Nga là triệt để
là thành công đến nơi, nhân dân lao động đã được giải phóng và trở thành
người chủ của xã hội. Người đã nhận định : “ Trong thế giới bây giờ chỉ có cách
mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được
hưởng cái hạnh phúc tự do bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả
dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã
đuổi được vua, tư bản, điạ chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và dân bị
áp bức các thuộc điạ làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa, tư bản
và thế giới”. Từ đó mà Người đã lựa chọn con đường cho cách mạng Việt Nam
là đi theo cách mạng tháng 10 . Trên đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn để
Hồ Chí Minh lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã hội – chủ nghĩa cộng sản ở Việt
Nam. Ở đây, không thể không bàn đến một nhân tố đã đóng góp vào sự lựa
chọn đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Nhân tố đó chính là bản lĩnh cốt cách
và tinh thần cách mạng triệt để của Hồ Chí mInh. Trong những thập niên đầu thế
kỷ 20 không phải chỉ có Hồ Chí Minh là người Việt Nam duy nhất được đọc lý
luận Mác - Lênin, được biết về cách mạng tháng 10, nhưng duy nhất chỉ có Hồ
Chí Minh là dứt khoát và quyết tâm theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con
đường cách mạng tháng 10, tinh thần quyết tâm đó của Hồ Chí MInh đã được
thể hiện trong suốt quá trình đấu tranh chủ nghĩa và thực tiễncủa cách mạng Việt
Nam đã chứng minh cho sự lựa chọn đó là sáng suốt và đúng đắn. Ngày nay
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một là công cuộc đổi mới hiện nay,
tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn mãi sáng soi cho cả dân tộc đi đến mục tiêu mà.

biệt quan tâm đến vấn đề đảng cầm quyền.
Xuất phát từ lòng yêu nước thương dân và ý chí, bản lĩnh làm cách
mạng đến nơi của mình, Hồ Chí Minh đã khảo sát và tìm hiểu các kiểu
đảng chính trị trên thế giới, nhằm tìm ra nhân tố thắng lợi công cuộc giải
phóng nước nhà.
Từ những kinh nghiệm thực tiễn cùng với sự tiếp thu vận dụng và phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là năm nguyên tắc xây dựng “đảng kiểu
mới” của Lênin, Hồ Chí Minh đã tuân theo những nguyên tắc ấy và tổ chức
thành lập đảng cộng sản Việt Nam.
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công phải có đảng của cách
mạng chân chính, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Sự lãnh đạo đúng
đắn của đảng cộng sản là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Ơ nước ta, đảng là sản phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa yêu
nước với phong trào yêu nước, đảng là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, phải phục vụ cho được đại bộ phận giai cấp công nhân. Tuy giai cấp
công nhân còn nhỏ bé nhưng có khả năng lãnh đạo cách mạng. Chủ nghĩa
Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của đảng, bản chất giai cấp công nhân của
đảng thể hiện ở chủ nghĩa Mác-Lênin, ở sự kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đảng tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dân chủ
rộng rãi đi đôi với kỷ luật chặt chẽ, thực hiện nghiêm túc tập thể lãnh đạo
cá nhân phụ trách, đảng phải là một mối đoàn kết thống nhất từ trung ương
đến cơ sở, từ chủ trương đến hành động, phê bình và tự phê bình là quy
luật phát triển của đảng.
Từ cách mạng tháng Tám 1945 cho đến cuối đời trên cương vị đứng đầu
Nhà nước, đứng đầu một đảng cầm quyền, Người cùng tập thể lãnh đạo
giải quyết không biết bao nhiêu vấn đề lớn quốc gia trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao, những vấn đề của cuộc
kháng chiến kiến quốc, của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, của
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và sự nghiệp giải phóng Miền Nam

Tiêu chuẩn thứ hai yêu cầu đảng phải có đường lối đúng đắn, sát hợp.
Đó là đường lối phản ánh được mục tiêu của dân tộc, phản ánh được xu
thế phát triển của dân tộc và thời đại. Nó giải quyết được hài hòa mối quan
hệ lợi ích của các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội, giải quyết được
những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội.
Để xây dựng đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh, Hồ Chí Minh yêu
cầu đảng phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và xây dựng đảng. Trước
hết là nguyên tắc tập trung dân chủ –đây là nguyên tắc để phân biệt một
đảng có phải là đảng Macxit, đảng của giai cấp công nhân hay không.
Đảng phải thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đảng phải coi
phê bình và tự phê bình là vũ khí sắc bén trong việc xây dựng đảng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với việc xác định tính tất yếu phải có
đảng lãnh đạo thì phải gắn liền với việc thường xuyên chỉnh đốn đảng
nhằm để: giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong đảng; ngăn ngừa, khắc phục
thống nhất quan liêu, tự mãn và để nâng đảng lên ngang tầm nhiệm vụ.
Trong xây dựng đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề tư
cách đảng viên và vấn đề cán bộ. Người đánh giá rất cao vị trí của cán bộ
17
trong sự lãnh đạo của đảng. Nếu không có đội ngũ cán bộ tốt thì đường lối
dù tốt đến đâu cũng không thể trở thành hiện thực được.
Đồng thời với quan điểm về cán bộ, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến công
tác cán bộ của đảng, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ
chức cán bộ. Người yêu cầu “Phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ” the
những chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh
vực, hoàn toàn công minh, khách quan. Cán bộ phải được đào tạo từ gốc,
đào tạo từ chuyên môn lẫn lý luận. Việc sử dụng cán bộ theo Hồ Chí Minh
phải “Khéo dùng cán bộ”. Tức là đặt đúng người đúng việc và có kiểm tra,
giúp đỡ thường xuyên để cán bộ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hồ Chí Minh luôn luôn lưu ý vấn đề tăng cường mối quan hệ giữa đảng
với nhân dân. Người cho rằng phải luôn luôn học hỏi nhân dân, vận động

của Người thật sự là những đóng góp quan trọng vào việc phát triển học
thuyết Mác-Lênin về đảng cộng sản, về xây dựng đảng nói chung và đặc
biệt là đảng cầm quyền.
18
Đối với nước ta, những quan điểm tư tưởng đó đã có vai trò cực kỳ quan
trọng trong quá trình rèn luyện, xây dựng đảng ta trưởng thành như ngày
nay và vẫn giữ nguyên giá trị trong điều kiện đảng lãnh đạo công cuộc đổi
mới đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH cơ bản, dân chủ,
V.minh
CÂU 5: Tư tưởng HCM về xây dựng nhà nước trên cơ sở hiến pháp và
pháp luật ?
(Vị trí của vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật, vì sao?; Nhà nước phải
được xây dựng trên cơ sở hiến pháp và pháp luật, có hệ thống P.luật hoàn chỉnh,
tiến bộ; có đội ngũ cán bộ, công chức )
1/ Cơ sở hình thành.
Thuở thiếu thời HCM đã tận mắt chứng kiến thực trạng của bộ máy nhà
nước thực dân phong kiến Ở nước ta, đó là một kiểu nhà nước không thể
chấp nhận được. Người nhận thức nhà nước PK tuy có thời đã có pháp luật,
nhưng quyền hành lại tập trung vào tay nhà vừa, do vậy, thời PK nhà nước là
sự thống trị của chế độ độc tài chuyên chế. Trong xã hội thực dân PK, sự cai
trị của NN theo kiểu chuyên chế, không có luật pháp dân chủ mà theo kiểu
toàn quyền do Pháp đặt ra cho chế độ thuộc địa Ở Đông Dương, cai trị bằng
lệnh, mang dấu ấn cá nhân chứ không thực hiện chế độ ra các đạo luật thể
hiện nhân quyền, bảo đảm về mặt pháp luật.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, HCM đã bắt gặp ánh sáng chân lý
của CN Mác-Lênin. Từ những lý luận của CN Mác-Lênin về vấn đề nhà nước
của GCCN, của đại đa số quần chúng nhân dân lao động. HCM đã rút ra
những quan điểm cơ bản để hình thành tư tưởng của mình và sau này trở
thành đường lối của ĐCSVN là bộ máy N.nước và pháp luật của CM phải
xuất phát từ lợi ích của dân, do dân và vì dân. Khi giành được chính quyền

nước là sự chỉ đạo lâu dài đối với CM VN.
2/ Nội dung tư tưởng HCM về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì
dân.
Nhà nước phải thể hiện được bản chất GCCN và tính chất của dân, do
dân, vì dân.
Theo tư tưởng HCM, nhà nước ta là nhà nước của khối đại đoàn kết toàn
dân, mang tính chất nhân dân và mang bản chất GCCN. Vì nhà nước bao giờ
cũng là của GC và phục vụ GC đó. Nhà nước kiểu mới Ở Việt Nam là nhà
nước do Đảng lãnh đạo. Người đã nhiều lần khẳng định: Đảng ta là một đảng
cầm quyền, nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhà nước không bao giờ coi nhẹ. Nhà
nước ta đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt đảng phái,
tôn giáo, giàu nghèo, gái trai… Người xác định cái cột lõi: Liên minh giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân với tầng lớp trí thức do GCCN lãnh đạo. Người
cũng rất chú ý đến nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong tổ chức và quản lý
nhà nước phải thể hiện sự thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công,
phân cấp rõ ràng.
Xây dựng một nhà nước của dân, do nhân dân lao động làm chủ là điểm
cơ bản nhất trong tư tưởng HCM về xây dựng NN. Thực tế cuộc tổng tuyển
cử ngày 6/1/1946 và sau đó quốc hội chính th71c tổ chức ra bộ máy NN đã
thể hiện rõ TT HCM về NN, huy động toàn thể nhân dân tham gia công việc
quản lý NN, nhân dân đóng vai trò làm chủ NN. Thiết lập quyền bính của nhân
dân trong xây dựng NN, mối liên hệ về trách nhiệm giữa đại biểu quốc hội đối
với cử tri.
Nhà nước là cơ quan quyền lực của nhân dân lao động, nhà nước phải vì
dân, vì lợi ích chính đáng của nhân dân, mọi hoạt động của NN đều phải
hướng tới phục vụ nhân dân. Người chỉ rõ: Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức
làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính
dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. NN phải lo cho dân có ăn, có mặc, có chỗ Ở,
được học hành.
NN chú ý vai trò chuyên chính, vì muốn có dân chủ thực sự phải chuyên

NN kiểu mới Ở Việt Nam phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Điều này đã
trở thành một nguyên tắc trong xây dựng NN mà HCM luôn nhấn mạnh. Vì
Đảng và NN đều có một mục tiêu chung là bảo đảm nền độc lập và đi lên
CNXH.
Đảng lãnh đạo NN phải thông qua một hệ thống giải pháp, đề ra cương lĩnh
đường lối để NN thực hiện. Bố trí nhân sự cán bộ phải đúng. Nêu cao vai trò
tiên phong gương mẫu của đảng viên thông qua việc kiểm tra giám sát. Đồng
thời phải luôn rà soát, khắc phục những hiện tượng cồng chéo, trùng lắp về
chức năng, nhiệm vụ về tổ chức bộ máy NN, về chính sách pháp luật, kịp thời
tìm giải pháp khắc phục.
Tư tưởng HCM về xây dựng NN trên cơ sở hiến pháp và pháp luật là sự
kết hợp hài hòa giữa truyền thống yêu nước của dân tộc với lý luận về NN
của CN Mác-Lênin bằng nhân sinh quan của HCM. Trên cơ sở lý luận và thực
tiễn sâu sắc, Người đã nêu lên quan điểm về NN của CMVN là NN của dân,
do dân, vì dân. NN thật sự dân chủ, do nhân dân LĐ làm chủ trên cơ sở hiến
pháp và pháp luật, đồng thời NN phải thể hiện được bản chất của GCCN, do
ĐCS lãnh đạo, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, mọi hoạt động của
NN đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân.
21
Trong giai đoạn hiện nay tư tưởng HCM được Đảng và NN ta vận dụng
trong việc xây dựng NN pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng được
thể hiện bằng những vấn đề sau:
1/ Tiếp tục kiện toàn củng cố tăng cường hệ thống bộ máy và chuẩn hóa
đội ngũ cán bộ công chức. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng
cao hiệu quả hoạt động của quốc hội, tăng cường công tác lập hiến, hoàn
thiện hệ thống pháp luật, sửa đổi, bổ sung hiến pháp 1992 phù hợp với tình
hình mới. Trong công tác hành pháp, xây dựng nền hành chính trong sạch,
vững mạnh, định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ
chức NN, nâng cao tính chủ động Ở cơ sở. Cải cách tổ chức, nâng cao chất
lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, không để xảy ra trường hợp oan

và pháp luật./.
Câu 5a : Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà Nước quản lý xã hội bằng
pháp luật
Bài làm
22
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân
tộc. Tư tưởng đó là sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa nhân loại và của dân
tộc, là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện
Việt Nam. Trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người thì tư tưởng về nhà nước
chính là sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh về các kiểu nhà nước trong
lịch sử, là sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước vào điều
kiện nước ta.
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất
quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ lòng
yêu nước thương dân, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm thấy con
người cách mạng vô sản, đồng thời Hồ Chí Minh cũng lựa chọn xây dựng một
nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, một nhà nước của dân do dân, vì dân khác về
bản chất so với nhà nước thực dân phong kiến. Người đã nhận thức được tất cả
các nhà nước trước cách mạng vô sản đều chỉ là nhà nước của một số ít người,
nhà nước của giai cấp bóc lột. Vì thế Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : “Chúng ta đã hy
sinh làm cách mạng thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì
quyền giao cho dân chúng, chớ để trong tay một bọn ít người”.
Nhà nước kiểu mới theo Hồ Chí Minh là một nhà nước của dân, do dân.
“Tất cả quyền bính trong lúc này là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc nước
là việc chung, mỗi một người con rồng cháu tiên, bất kỳ già trẻ gái trai, giàu
nghèo, nồi giống, tôn giáo đều phải gánh vác một phần …”. Nhân dân là người
bầu ra nhà nước, bầu ra quốc hội và chính phủ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh “tổng
tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài có
đức để gánh vác công việc nước nhà” và “hễ là công dân đều có quyền đi bầu
cử”. Nhân dân có quyền kiểm soát, góp ý, phê bình chính phủ, dân có quyền bãi

chữa bệnh. Hồ Chí Minh có tấm lòng độ lượng bao dung, nhân hậu nhưng
Người cũng rất nghiêm khắc bỏ qua sai lầm, khuyết điểm, không bao che, luôn
đòi hỏi sự bình đẳng trước pháp luật.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Người đã có ý trước
hết tính hợp hiến, hợp pháp của quyền lực nhà nước. Khi nhà nước Việt Nam
mới ra đời năm 1945, Người muốn làm nhanh “càng sớm càng tốt” cuộc tổng
tuyển cử để bầu ra quốc hội và sau đó là ủy ban soạn thảo hiến pháp đầutiên
của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong 24 năm làm chủ tịch nước (1945
– 1969) Hồ Chí Minh đã chủ trì soạn thảo hai hiến pháp năm 1946 và 1959. Đó
là cơ sở pháp lý của quyền lực nhà nước. Người cũng thường xuyên nhắc nhỡ
hoạt động của bộ máy hành pháp, trị pháp phải dựa trên cơ sở vững chắc của
hiến pháp và pháp luật.
Hồ Chí Minh không theo thuyết “tam quốc dân lập”, đây là lý luận xây dựng
nhà nước tư sản được nhà nước áp dụng từ trước đến nay. Quan điểm của Hồ
Chí Minh là không có sự chia sẻ quyền lực mà quyền lập pháp (quốc hội) hành
pháp (chính phủ), tư pháp (viện kiểm sát tòa án) phải thống nhất chặt chẽ với
nhau để tất cả quyền lực đều thống nhất là quyền lực của nhân dân. Nhưng giữa
các quyền đó có sự phân công, phối hợp nhau, tránh chòng chéo và phản
quyền.
Nhà nước quản lý xã hội bằng hiến pháp và pháp luật là tư tưởng nhất quán
của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Tư tưởng này được thể hiện rất sớm
qua bản yêu sách 8 điểm gời đến hội Nghị Vec-sây 1919. Người chú trọng đặc
biệt đến việc xây dựng pah1pluật và việc đưa pháp luật vào thực hiện có kết quả
trong cuộc sống. Theo Người, phải tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân
dân, làm cho dân nắm được pháp luật, hiểu được luật và làm theo uật. Người
yêu cầu các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức kể cả cán bộ chủ chốt phải
gương mẫu chấp hành. Ngay cả Đảngcầm quyền cũng phải hoạt động trong
khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương về
chấp hành hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ nào dù đó là chủ tịch nước.
Về xây dựng bộ máy nhà nước, Hồ Chí Minh nhất quán quan điểm xây

định tiêu chuẩn chuyên môn hóa cán bộ tư pháp. Những qui định về thi tuyển, về
tiêu chuẩn hoá đội ngũ viên chức nhà nước của Người vẫn có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình cải cách hành chính hiện nay.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nhà nước và pháp luật trong
giai đoạn hiện nay, chúng ta phải xây dựng một nhà nước và đảm bảo cho nhà
nước thật sự là của dân do dân, vì dân, phát huy hơn nữa vai trò và quyền lực
của nhân dân trong xây dựng nhà nước của mình. Bộ máy nhà nước phải hoạt
động có hiệu lực từ quốc hội đến chính phủ và cơ quan tư pháp. Xây dựnghệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, khắc phục tình trạng pháp luật thiếu, sơ hở, bất cập
đồng thời đưa pháp luật vào thực thi có kết quả, tuyên truyền giáo dục phápluật
cho nhân dân. Tiếp tục đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước,
nâng cao trình độ mọi mặt để không bị “đuối tần”, trước yêu cầu phát triển của
đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tổ chức thi tuyển công
chức, phòng ngừa và hắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ công chức tham
ô, những nhiễm, thoái hóa, biến chất.
Trong thời kỳ chống Pháp 1945 – 1954, do không có điều kiện họp đoàn
thể quốc hội, Hồ Chí Minh với tư cách là chủ tịch nước, buộc phải ra những sắc
lệnh nhưng Người luôn tôn trọng tính hợp hiến của các sắc lệnh bằng cách xin ý
kiến ban thường trực quốc hội.
CÂU 6: Tư tưởng HCM về đại đoàn kết (cơ sở của việc xác định khối đại đoàn
kết; nguyên tắc, phương pháp xây dựng khối đại đoàn kết).
Bài làm
Tư tưởng ĐĐK HCM là một hệ thống những luận điểm, những nguyên tắc,
những phương pháp giáo dục và tập hợp tổ chức lực lượng cách mạng, nhằm
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status