skkn một số biện pháp để nâng cao hiệu quả chủ nhiêm lớp 10 ở trường thpt thừa lưu - Pdf 18

Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề………………………………………………………… ….Trang 2
1.1 Lý do chọn đề tài …………………………………………… ………Trang 2
1.2. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và phương pháp, thời gian nghiên
cứu về sáng kiến kinh nghiệm………………………………………… Trang 4
2. Giải quyết vấn đề……………………………………… …………… Trang 6
2.1.Thực trạng……………………………………………………… … Trang 6
2.2.Các giải pháp…………………………………………………… … Trang 8
2.3. Hiệu quả của một số biện pháp trong quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp
10 ở Trường THPT Thừa Lưu ………………………………….….……Trang 18
3. Kết luận…………………………………………………… …… Trang 19
3.1.Tóm lược giải pháp………………………………………… …… Trang 20
3.2. Phạm vi áp dụng……………………………… ……Trang 20
3.3. Kiến nghị……………………… ……………………………… …Trang 21
* Tài liệu tham khảo…………………………………………………….Trang 22
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 1 -
Sáng kiến kinh nghiệm
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỦ
NHIỆM LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THỪA LƯU
1. Đặt vấn đề:
1.1 Lý do chọn đề tài :
1.1.1.Cơ sở lý luận:
Trước tình hình đổi mới của đất nước, vấn đề phát huy tính tích cực trong
học tập cũng như hoạt động của học sinh là một trong những phương hướng cải
cách giáo dục nhằm tạo ra những con người lao động sáng tạo, làm chủ bản thân,
làm chủ đất nước - có cả đức lẫn tài. Bởi “ Có đức mà không có tài- làm việc gì
cũng khó.Có tài mà không có đức là người vô dụng”.
Thật vậy, song song với việc dạy chữ cho các em , chúng ta cần hết sức
quan tâm đến việc dạy người. Vì đây là sự nghiệp giáo dục của toàn Đảng, toàn

muốn nâng cao hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp, góp phần cùng nhà trường
hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn:
Thực tiễn hiện nay ở trường THPT Thừa Lưu, công tác chủ nhiệm được
Ban giám hiệu chú trọng và quan tâm, có lập riêng một tổ gọi là tổ chủ nhiệm,
khối 10 do cô Hồ Thị Xuân Hương làm khối trưởng, khối 11 do thầy Nguyễn
Kháng làm khối trưởng, khối 12 do thầy Trần Thanh Hảo làm khối trưởng, hàng
tháng đều sinh hoạt và có thể họp đột xuất nếu cần thiết, mục đích là cùng nhau
tháo gỡ khó khăn của lớp, chia sẻ kinh nghiệm, tạo nên sự dân chủ.
Nói đến chương trình hoạt động cụ thể của công tác chủ nhiệm thì Bộ, Sở
có mở lớp bồi dưỡng về công tác chủ nhiệm cho dội ngũ giáo viên làm công tác
chủ nhiệm vào năm 2011 nhưng chưa đáng kể. Họ chỉ thực hiện nhiệm vụ của
mình bằng những kinh nghiệm vốn có để quản lí giáo dục học sinh. Đối với giáo
viên vừa mới ra trường được phân công làm GVCN thì chắc hẳn họ sẽ rất lúng
túng, trăn trở, thậm chí có những tình huống sư phạm không biết xử lí như thế
nào cho hợp lí. Để làm tốt vai trò, vị trí làm cầu nối giữa học sinh, phụ huynh,
nhà trường quả không phải là dễ.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và yêu cầu thực tiễn trên; tôi đã chọn đề tài “Một số
biện pháp để nâng cao hiệu quả chủ nhiệm lớp 10 ở trường THPT Thừa Lưu”
làm sáng kiến kinh nghiệm của mình nhằm đóng góp một chút kinh nghiệm giúp
GVCN nói chung, GVCN lớp 10 nói riêng làm tốt hơn công tác chủ nhiệm lớp
của mình.
Đầu năm học này tôi được Ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 10B10,
khi tiếp nhận tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Đa số các em ngoan, có ý thức học tập và rèn luyện sẵn sàng vượt qua
khó khăn.
- HS ý thức xây dựng tập thể đoàn kết.
- Giáo viên chủ nhiệm, Ban giám hiệu, cah mẹ học sinh, giáo viên bộ môn
luôn phối hợp chặt chẽ trong công tác giáo dục học sinh.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng vai trò, nhiệm vụ của GVCN
lớp đối với công tác giáo dục học sinh để đề ra những giải pháp hợp lý nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh và góp phần hoàn thiện nhân
cách học sinh lớp 10 ở trường THPT.
Đối với Giáo viên chủ nhiệm:
- GVCN phải có tình cảm yêu thương học sinh, coi học sinh như người
thân trong gia đình, tạo chỗ dựa, niềm tin vững chắc đưa đến học sinh dễ giải
bày dễ chia sẻ mọi nỗi niềm của các em.
Đối với học sinh:
- Thấy được những việc nên làm, không nên làm.
- Học tập cách giao tiếp, cư xử với mọi người xung quanh.
- Tự giác trong học tập và rèn luyện nhân cách HS, biết giúp đỡ bạn bè và
mọi người xung quanh, có ý thức bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp.
- Người học phải cảm nhận GVCN như người cha, người mẹ thứ hai của
mình.
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 4 -
Sáng kiến kinh nghiệm
- Mục tiêu tốt nghiệp THPT và vào các trường Đại học, cao đẳng chuyên
nghiệp theo khả năng và năng lực của chính mình.
1.2.2.Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lý luận về GVCN lớp để thể hiện vai trò của mình như thế
nào trong công tác giáo dục học sinh, kết quả đạt được năm sau phải cao hơn
năm trước.
- Tạo nên sự thân thiện giữa GVCN và HS 10.
- Đề ra những giải pháp hiệu quả và cụ thể việc áp dụng nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục học sinh 10.
1.2.3. Khách thể , đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể:
Thực trạng và giải pháp cho vai trò của chủ nhiệm lớp 10 trong công tác
giáo dục học sinh.

2.1.Thực trạng:
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội đã mang lại không
ít những thuận lợi cho công tác chủ nhiệm trong nhà trường. Sự quan tâm đầu tư
của Đảng, nhà nước cùng với sự hỗ trợ tích cực từ phía xã hội. Cơ sở vật chất,
trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một khang trang, đầy đủ, đảm bảo
cho việc dạy và học. Mô hình ít con, kinh tế ngày càng được cải thiện đã tạo
thuận lợi cho trẻ em được quan tâm và chăm sóc tốt hơn. Bên cạnh đó, sự phát
triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã hỗ
trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liên lạc, trao đổi, nắm bắt nhanh
những thông tin cần thiết trong phối hợp giáo dục; đồng thời hỗ trợ tích cực cho
hoạt động dạy của giáo viên trong những giờ lên lớp, trong những hoạt động tập
thể khiến học sinh thấy hứng thú hơn. Sự phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể
trong và ngoài nhà trường ngày càng trở nên chặt chẽ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, công tác chủ nhiệm lớp còn
gặp không ít những khó khăn, thách thức. Trong thời đại khoa học công nghệ và
kinh tế thị trường hiện nay, ngoài những tiện ích to lớn mà nó mang đến cho
nhân loại thì kèm theo đó là hàng loạt các tác động tiêu cực đến đối tượng học
sinh: xu hướng đua đòi chưng diện theo trang phục, mái tóc của các ca sĩ, diễn
viên trong phim ảnh không lành mạnh và đặc biệt là game online. Chính những
vấn đề này ảnh hưởng không ít đến việc học tập, việc hình thành nhân cách, đạo
đức của học sinh và gây ra rất nhiều khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm trong
công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều công nghệ kinh doanh chỉ chú ý đến lợi
nhuận. Hầu hết các điểm truy cập Internet đều trang bị những trò chơi bạo lực
thu hút học sinh. Vì thế, hiện tượng trốn tiết, giấu tiền học phí để chơi game là
điều không tránh khỏi. Không những thế, hậu quả do những tác động của những
trò chơi nguy hiểm này dẫn đến các hành vi bạo lực khôn lường.
Mặt khác, nhiều gia đình do quá bận rộn với công việc nên thời gian dành
cho việc giáo dục con cái không nhiều, gần như phó mặc cho nhà trường và xã
hội, thậm chí cung cấp tiền bạc dư thừa không nghĩ đến hậu quả. Nhiều phụ

sinh đều như bị áp lực. Người dễ dãi thì lại buông lỏng công tác quản lí, thiếu
quan tâm sâu sát. Thực tế, nhiều khi giữa thầy cô chủ nhiệm và học sinh không
phải bao giờ cũng tìm được tiếng nói chung.
2.1.1. Những phẩm chất chủ yếu của giáo viên chủ nhiệm
- GVCN phải có nhân cách toàn vẹn thể hiện qua việc nhận thức, có thái
độ và hành vi cá nhân phù hợp với chuẩn mực xã hội và phát huy truyền thống
đạo đức của dân tộc ( hiếu học , trọng đạo , tôn sư).
- Có lòng nhân ái , nhất là đối với học sinh, người già, trẻ em, người thiệt
thòi bất hạnh…
- Yêu nghề, say sưa với công tác giáo dục.
- Có tinh thần trách nhiệm và lòng tự trọng cao, có lương tâm nghề nghiệp
vững vàng.
- Khiêm tốn, cầu tiến, tích cực tự hoàn thiện không ngừng.
- Mẫu mực, trung thực trong cuộc sống.
2.1.2. Những năng lực sư phạm cần thiết đối với giáo viên chủ nhiệm
- Có tầm hiểu biết rộng về văn hoá chung.
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 7 -
Sáng kiến kinh nghiệm
- Có tri thức sâu sắc , hiện đại về môn học phụ trách ở lớp chủ nhiệm.
- Có khả năng sáng tạo trong công tác giáo dục , dạy học.
- Có khả năng thu thập, tích luỹ tri thức, để ngày càng nâng cao hoặc mở
rộng tầm hiểu biết của mình.
- Có khả năng kích hoạt, gây hào hứng nhằm khơi dậy sự hứng thú và
động cơ học tập và rèn luyện học sinh đạo đức ở học sinh.
- GVCN cần tự trang bị cho mình nhiều thủ thuật lôi cuốn đa dạng để khi
cần có thể tung ra trước học sinh nhằm tạo sự gần gũi , thân mật giữa cô và trò ,
giữa trò với trò.
Có sự thành thạo trong các kỹ năng sư phạm như:
+ Giao tiếp sư phạm trước đám đông hay đối xử cá biệt .
+ Biểu lộ và kiềm chế các cảm xúc, tình cảm khi cần thiết.

2.2.1.2.Nội dung tìm hiểu ở học sinh lớp 9:
Đặc điểm của học sinh về sức khoẻ lớp, về trình độ học lực năm lớp 9 để
phân loại học sinh, tìm hiểu học sinh có năng lực ( ban cán sự lớp ).
Tìm hiểu về hoàn cảnh và quan hệ của học sinh với gia đình, và ai là
người có ảnh hưởng lớn đến các em. GVCN có thể biết chia sẻ, giúp đỡ học sinh
vượt qua hoàn cảnh, và cũng để biết liên hệ với ai dể việc phối hợp giáo dục có
hiệu quả.
Học sinh 10 là độ tuổi có nhiều biến động trong tâm tư, tình cảm, những
vướng mắc từ các mối quan hệ giao lưu, từ sự phát triển cơ thể, từ các nhiệm vụ
học tập, rèn luyện, sự định hướng nghề nghiệp trong tương lai … có thể tạo ra
những khó khăn lớn về mặt tâm lý cho các em.
2.2.1.3.Cách tìm hiểu học sinh 10:
Điều tra học sinh qua lý lịch tự khai theo mẫu
GVCN sẽ thu thập được nhiều thông tin về học sinh. GVCN cần xây
dựng nội dung bản lí lịch với những nội dung thích hợp với học sinh 10.
Nội dung lý lịch học sinh 10 bao gồm:
Họ và tên học sinh ……………………………Nam/ nữ……………
Ngày tháng năm sinh : Ngày tháng….năm
Nơi sinh……………………………………Dân tộc……………
Nơi ở hiện nay…… thôn……….xã……………huyện…… tỉnh
Hộ khẩu thường trú ở đâu……………………………………
Bằng tốt nghiệp THCS lấy chưa …
Có chứng chỉ nghề …………… loại gì……………………
Con thương binh hạng mấy……., Con liệt sĩ…………con mồ côi….…
Gia đình có là hộ nghèo ………………………
Thuộc diện ưu tiên:……….
Họ tên cha………………….Năm sinh………nghề nghiệp……….
Họ tên mẹ………………… Năm sinh………nghề nghiệp………
Họ tên người giám hộ…………………………nghề nghiệp……….
Gia đình có mấy anh chị em……………………………

LỚP PHÓ
LỚP TRƯỞNG
( Nam)
LP
Học
tập:
(Đức)
LP
Lao
động:
(Bão)
LP
Văn
Thể
Mỹ
(Kì
Duyên)
Phó

thư:
Mỹ
Duyê
n
Uỷ
viên:
Dung
Thủ
quỹ:

Duyê

Bước 3: GVCN lập sổ theo dõi và giao lại cho từng bộ phận .
2.2.2.2. Lập sơ đồ lớp học:
Căn cứ vào học lực của học sinh, chia đều số học sinh trung bình và yếu
cho mỗi tổ và xen kẽ nhau.
Căn cứ vào tình trạng sức khoẻ : Mắt, cao thấp để xếp ngồi trước, ngồi
sau.
Căn cứ vào nhiệm vụ của ban cán sự lớp, cán sự lớp phải có mặt rải khắp
các tổ và ở vị trí dễ kiểm soát các thành viên của lớp.
Các học sinh hiếu động xếp ở những vị trí tập trung tầm nhìn của giáo
viên( Bàn đầu, đầu bàn, đầu dãy).
Khi lập bảng sơ đồ cần chú ý: Trong sơ đồ không chỉ nêu tên học sinh
theo vị trí chỗ ngồi còn ghi kí hiệu cho chức năng , nhiệm vụ học sinh được
giao: Lớp trưởng, lớp phó,… .
2.2.3. Lập kế hoạch chủ nhiệm:
2.2.3.1.Kế hoạch năm:
Căn cứ kế hoạch, nhiệm vụ năm học của trường THPT Thừa Lưu.
Căn cứ đặc điểm tình hình các lớp 10 ( thuận lợi , khó khăn).
Căn cứ vào chủ đề các đợt thi đua của trường, đoàn.
Căn cứ các nhiệm vụ công tác chủ nhiệm.
Giúp giáo viên chủ nhiệm triển khai đúng hướng, đúng phạm vi trách
nhiệm của mình khi lập kế hoạch.
2.2.3.2.Kế hoạch hoạt động tuần, tháng:
Sau khi xây dựng kế hoạch hoạt động năm học, GVCN dựa vào đó để xây
dựng kế hoạch từng tuần, tháng cần nêu rõ:
Nêu những công việc hoạt động trong tuần.
Có đối tượng tham gia.
Biện pháp thực hiện.
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 11 -
Sáng kiến kinh nghiệm
Kết quả đạt được.

mắc phải những sai lầm nghiêm trọng.
Khen trước lớp trong giờ sinh hoạt: Những học sinh có những biểu hiện
tốt về hành vi đạo đức, học tập và các hoạt động văn thể mỹ.
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 12 -
Sáng kiến kinh nghiệm
Khiển trách trước lớp: Những em vi phạm ở mức độ nhẹ như: Nói tục,
chửi thề, nghỉ học không phép.
Khiển trách trước toàn trường: Do Ban giám hiệu quyết định, những học
sinh vi phạm nhiều lần.
Cảnh cáo trước toàn trường: Những học sinh có hành vi vô lễ với thầy cô,
đánh nhau trong và ngoài nhà trường, phá hoại tài sản công, gian lận trong thi
cử.
Khen thưởng trước toàn trường: Do Ban giám hiệu nhà trường, hội
khuyến học, ban đại diện cha mẹ học sinh…. Biểu dương và tặng giấy khen.
Khen thưởng đặc biệt: Những học sinh có thành tích cao ở Hội khỏe Phù
Đổng, các cuộc thi do Đoàn trường tổ chức.
2.2.4.2.Với các giáo viên bộ môn:
Thống nhất kế hoạch và chương trình giáo dục chung đối với cả lớp.
Thống nhất hình thức và biện pháp tác động đối với học sinh , học sinh
bỏ tiết, nghỉ phụ đạo không phép nhiều lần, điều hoà những biện pháp tác động
giữa các giáo viên với học sinh.
Phản ánh, trao đổi kịp thời những mong muốn của học sinh đến giáo viên
bộ môn, ngược lại GVCN cung cấp danh sách học sinh yếu môn học nào đó ở
lớp dưới.
2.2.4.3.Với Ban chấp hành Đoàn:
Giúp cán bộ đoàn phát hiện những thanh niên ưu tú để giới thiệu kết nạp.
Giúp cán bộ đoàn đôn đốc nề nếp và các khoản quỹ, các hoạt động đoàn.
Phối hợp với đoàn trường xử lý học sinh vi phạm nội qui nhà trường.
2.2.4.4.Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS:
GVCN phải có chương trình họp cụ thể, dựa trên kế hoạch của trường,

Bước 2: Lấy ý kiến , nguyện vọng của học sinh
Bước 3: GVCN thông qua sổ đầu bài, các giáo viên bộ môn, kết quả theo
dõi của cán sự lớp, Tôi nhận xét đánh giá mặt được, chưa được của từng học
sinh, khen những em làm tốt và nghiêm khắc với học sinh vi phạm, định hướng
tuần tiếp theo. Đồng thời luôn nhắc nhở và động viên các em tạo động lực giúp
cả lớp cố gắng hơn ở những tuần tiếp theo. GVCN phải thực sự gắn bó, quan
tâm tới lớp tìm nguyên nhân học sinh vi phạm để xử lí hợp tình, hợp lí. Nhiều
lúc tôi lại dành thời gian nhận xét chỉ thông qua câu chuyện khi liên hệ thì sẽ có
những điểm liên quan tới lớp chủ nhiệm, hoặc ngay cả những gì tôi đã trải qua
và thấy được trong cuộc sống mục đích cuối cùng là để các em tự giác nhận thức
và hình thành nhân cách ngày một hoàn thiện hơn .
Bước 4 . Thư kí lớp sẽ lên đọc biên bản sinh hoạt lớp chủ nhiệm
Qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm, Các em sẽ tự tin giám nói, giám nhận
khuyết điểm và có chiều hướng mong muốn được sửa sai.
2.2.6. Biện pháp thực hiện nhằm giáo dục học sinh cá biệt, tránh tình
trạng học sinh bỏ học :
2.2.6.1.Thực trạng:
Hầu như trường nào, lớp nào cũng đều có học sinh đặc biệt ( là những học
sinh chưa ngoan lắm hay bỏ tiết, nghỉ học không phép, vi phạm nội qui nhà
trường hoặc có hoàn cảnh đặc biệt) .Tôi không muốn sử dụng từ học sinh cá biệt
bởi ai cũng có những ưu khuyết điểm, biết cách loại bỏ nó thì tất yếu sẽ trở nên
tốt hơn.
Thực ra những học sinh chưa ngoan thường gây không ít khó khăn cho
GVCN, ảnh hưởng lớn đến kết quả thi đua của lớp, nhiều khi khiến cho GVCN
cảm thấy mệt mỏi thậm chí buông xuôi vì nói hoài mà các em không chuyển
biến, càng phạt, càng lì, chống đối ngầm, cố tình quậy hơn.
Lớp 10B10 có nhiều học sinh chưa ngoan, học yếu ham chơi: Huy, Đức,
Bão, Lợi.
2.2.6.2.Tìm hiểu nguyên nhân:
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 14 -

Đưa các em vào hoạt động tập thể trong và ngoài trường với những nhiệm
vụ cụ thể.
Khuyến khích khen chê đúng mục đích, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, tế
nhị và có hiệu quả.
Kiên trì quan tâm, tạo sự tin tưởng của học sinh tất yếu các em cởi mở, nói
những tâm sự, trăn trở của mình cho GVCN biết; từ đó tôi sẽ nhận định được vì
sao em đó có những hành động như vậy.để có biện pháp giáo dục hợp lý.
Mỗi học sinh đều có đặc điểm về tâm sinh lý, về mức độ nhận thức, về
vốn sống học sinh, cung cách cư xử với mọi người xung quanh. Vì thế khi giáo
dục những học sinh chưa chuẩn mực không nên quá máy móc, rập khuôn một
cách hình thức làm vậy sẽ không bền vững trong giáo dục đạo đức của học sinh.
2.2.7. Chú trọng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 15 -
Sáng kiến kinh nghiệm
- Kĩ năng sống của con người nói chung đó là sự tự ý thức vai trò trách
nhiệm của bản thân mình trong việc ứng xử với mọi người xung quanh và môi
trường tự nhiên trong đó con người đang tồn tại. Từ những ngày học đầu tiên ở
trường phổ thông, học sinh đã được bồi dưỡng cả hai mặt đức và tài. Sự phát
triển của mỗi người nói chung và học sinh nói riêng được hình thành thông qua
việc tiếp thu tri thức hằng ngày trong cuộc sống như kĩ năng chỉ đòi hỏi cho một
giai đoạn nào đó mà nó cần thiết cho cả đời người đặc biệt là chuỗi ngày đi học.
Khẩu hiệu “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” xuất hiện ở các trường cũng
vì lẽ đó. Kĩ năng sống được biểu hiện đa dạng tuỳ từng người, từng sự việc và
từng hoàn cảnh cụ thể. Nhưng dù trong trường hợp nào, đối với ai thì kĩ năng
sống nhất thiết phải vươn tới chân lý tốt đẹp: Nhân ái, vị tha, bản lĩnh tự tin,
khiêm tốn, văn minh lịch sự, dám nghĩ dám làm, hoà đồng và tôn trọng người
khác. Thực tiễn ngày nay cho thấy đôi khi kiến thức uyên bác, học vị cao lại
không làm nên sự thành đạt của con người bằng chính kĩ năng sống của họ.
Cuộc sống ngày càng phát triển, đất nước đang hội nhập với thế giới, cơ hội có
được vị trí trong xã hội và khẳng định bản thân của người lao động đang rộng

và trả lời, kĩ năng trình bày, kĩ năng phân tích tổng hợp, kĩ năng ra quyết định, kĩ
năng xử lý tình huống, kĩ năng tự học, kĩ năng làm việc hợp tác (còn gọi là hợp
tác nhóm hay hoạt động nhóm)… Trong đó, kĩ năng làm việc hợp tác cần được
đặc biệt quan tâm vì đây là kĩ năng sống mang tính thời đại, nó thể hiện cách làm
việc theo cơ chế phân công hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích của từng thành
viên và cùng nhau phát triển. Qua sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên, học sinh
được chia thành các nhóm. Mỗi em được phân công đảm trách một công việc
của nhóm (nhóm trưởng, thư ký, theo dõi thời gian, động viên phát biểu, trình
bày trước lớp). Tất cả thành viên trong nhóm được trình bày suy nghĩ của cá
nhân nhưng cũng phải tôn trọng ý kiến người khác và chấp nhận sự thống nhất
chung của nhóm. Mỗi nhóm sẽ cùng nhau thảo luận để giải quyết một nội dung
khó của bài học mà chỉ với mỗi cá nhân có thể không tìm được lời giải đáp.
+ Ở tiết sinh hoạt lớp, giáo viên cần tạo điều kiện để các em tự đánh giá
nhận xét về bản thân và lớp của mình. Các em có thể trình bày ý kiến về những
việc làm tốt và chưa tốt; cùng nhau xây dựng nội quy của lớp; thiết kế, đề xuất
các việc làm, hoạt động hằng tháng và cả năm học.
+ Chức vụ lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó nên được thay đổi theo
tháng hoặc học kỳ để nhiều em được làm quen với kỹ năng điều hành, quản lý
công việc đồng thời ngăn ngừa cách sống tự kiêu, độc đoán có thể xảy ra ngay từ
tuổi học đường.
+ Xây dựng các quy tắc ứng xử với môi trường như giữ gìn vệ sinh trường
lớp, bảo vệ môi trường sống, rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, tiết kiệm năng
lượng, phòng chống tai nạn thương tích. Bên cạnh đó, cần chú ý xây dựng cảnh
quan trường lớp với những hình ảnh mang tính giáo dục và thẩm mỹ, những lời
hay ý đẹp như “Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta”,
“Mỗi lần giao tiếp là mỗi lần bạn thể hiện mình”, “Bạn có thể vấp ngã, điều quan
trọng là bạn phải đứng lên”
+ Ngoài ra, cần tạo cơ hội cho các em được bày tỏ ý kiến của mình đối với
thầy cô giáo và nhà trường qua việc thực hiện “Hộp thư điều em muốn nói” và tổ
chúc tư vấn cho học sinh. Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh phải thông qua

2.3.2. Kết quả của phối hợp giữa nhà trường, đoàn thể, GVCN với cha
mẹ học sinh:
Việc phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh qua các kì họp, qua điện
thoại, qua trao đổi trực tiếp, việc phối hợp với đoàn thể, giáo viên bộ môn, ban
giám hiệu, có hiệu quả trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh yếu kém, học
sinh chưa ngoan, loại bỏ được nguy cơ bỏ học giữa chừng .
2.3.3.Kết quả cảm hóa học sinh cá biệt:
Trường hợp em Lợi học yếu, gia đình khó khăn em Duyên cũng khó khăn
không muốn tiếp tục học các em này hầu như tưởng là nghỉ hẳn. Tôi đã cảm hoá
được các em tiến bộ hơn và không bỏ học giữa chừng.
Em Bão, Đức đầu năm học có vi phạm nội quy nhưng đã tiến bộ rất nhiều.
GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 18 -
Sáng kiến kinh nghiệm
2.3.4. Kết quả học lực, hạnh kiểm:
Kết quả thi đua học kì I:
Tháng Vị thứ
9 15
10 9
11 3
12 2
01 3
Học kì 1 vừa qua lớp thi đua đứng vị thứ 6 toàn trường.
Giải nhì bóng đá nam,giải nhì hoạt động ngoài giờ lên lớp tháng 12 và
tháng 1, giải nhì trò chơi đua xe đạp chậm, đổ nước vào chai.
Hạnh kiểm : Tốt 25, Khá 15, Trung bình 3( bị kỷ luật ngay đầu năm học)
Học lực: Lớp 10B10 là lớp cuối cùng của khối 10, đầu vào rất thấp nên
học lực còn yếu nhiều.

3. Kết luận:
Công tác chủ nhiệm rất phức tạp, khó khăn, đòi hỏi nơi GVCN phải bỏ

+ Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm lí luận sư phạm, mẫu mực trong
giao tiếp xã hội, đồng nghiệp, thầy trò, thực sự là Tấm gương sáng cho học
sinh noi theo.
- Biện pháp cần, nhưng cái cần hơn cả vẫn là tấm lòng, là sự nhiệt tình,
trách nhiệm và tình thương yêu học trò. Nếu chúng ta làm việc với cái tâm của
người thầy, công tác chủ nhiệm chắc chắn sẽ thu được nhiều thành công.
- Công tác chủ nhiệm nhiều vất vả khó khăn nhưng cũng nhiều niềm vui,
ai yêu nghề cũng sẽ thành công trong công tác chủ nhiệm.
Do vậy không thể có một khuôn mẫu nhất định cho hoạt động của
GVCN , công tác chủ nhiệm là một bộ phận quan trọng trong nhà trường. đòi hỏi
GVCN hết sức sáng tạo có một tinh thần trách nhiệm cao mới gánh vác được
nhiệm vụ này
Trên đây là một số kinh nghiệm chủ quan của bản thân trong quá trình
làm GVCN lớp 10. Bài viết còn rất nhiều thiếu sót mong các thầy cô đã từng làm
GVCN đóng góp ý kiến để tôi đúc kết và được học hỏi thêm .
3.1.Tóm lược giải pháp:
- Giải pháp 1: Tìm hiểu học sinh khi tiếp nhận lớp
- Giải pháp 2: Ổn định tổ chức lớp học
- Giải pháp 3: Lập kế hoạch chủ nhiệm
- Giải pháp 4: Phối hợp thống nhất biện pháp giáo dục học sinh với các
giáo viên bộ môn và cán bộ đoàn , với gia đình học sinh, với ban giám hiệu.
- Giải pháp 5: Giáo dục học sinh thông qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm
- Giải pháp 6: Biện pháp thực hiện nhằm giáo dục học sinh cá biệt, tránh
tình trạng học sinh bỏ học.
- Giải pháp 7: Chú trọng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
3.2.Phạm vi áp dụng
-Trường THPT Thừa Lưu.

GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 20 -
Sáng kiến kinh nghiệm

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
XẾP LOẠI:……………………………………….
Lộc Tiến, ngày tháng năm 2013

GV: Huỳnh Thị Kim Ân - 23 -
Sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC
ĐÀO TẠO THỪA THIÊN HUẾ:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status