1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
2
LỜI CẢM ƠN
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
KTTT Kinh tế trang trại
HTX Hợp tác xã
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
SXKD Sản xuất kinh doanh
HQKT Hiệu quả kinh tế
KQSX Kết quả sản xuất
CPSX Chi phí sản xuất
XHCN Xã hội chủ nghĩa
MH Mô hình
trđ Triệu đồng
UBND Ủy ban nhân dân
DTBQ Diện tích bình quân
CC Cơ cấu
DT Diện tích
CQ Chủ quyền
ĐH, CĐ Đại học, Cao đẳng
TT Trang trại
HH Hàng hóa
BQ Bình quân
SPHH Sản phẩm hàng hóa
I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, kinh tế trang trại (KTTT) là một
hình thức tổ chức kinh tế cơ sở quan trọng và không thể thiếu hiện nay. Sự phát
triển của KTTT sẽ góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt
tạo động lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Góp phần quan trọng trong việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Bên
cạnh đó còn góp phần tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát
triển tính đa dạng của nông thôn, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất,
tạo ra sự thịnh vượng trong khu vực nông thôn.
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại ( chủ yếu là trang trại gia đình)
là một hình thức sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống nông
nghiệp của mỗi nước. Ở các nước phát triển, trang trại có vai trò hết sức to lớn
và có ý nghĩa quyết định trong nền sản xuất nông nghiệp, sản xuất ra tuyệt đại
bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho xã hội. Kinh tế trang trại là một hình thức
tổ chức kinh tế phổ biến và đã được hình thành từ rất lâu tại các nước phát triển.
Tại Israel- đất nước có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất trên thế giới, mô
hình kinh tế trang trại là một phần quan trọng trong nền nông nghiệp, cung cấp
hầu như số lượng sản phẩm nông nghiệp của quốc gia.
Ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm gần đây, từ
khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, với
mục tiêu là công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, song lấy nông nghiệp làm
khâu đột phá. Đặc biệt là sau nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị ( tháng 4 năm
1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp nước ta đã được tiến lên một bước. Việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp
là một vấn đề cấp bách và lâu dài để nhằm từng bước đưa nền nông nghiệp tự
cấp tự cung sang nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường với sự quản lý vĩ
mô của nhà nước. Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách đúng đắn, kịp
thời để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển và đã đạt được nhiều kết quả khả
7
Vì vậy, tôi nhận thấy vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại cho các
loại hình kinh tế trang trại tại huyện Can Lộc là một vấn đề cần thiết, phù hợp
với xu hướng của nông nghiệp thế giới, định hướng phát triển của nhà nước, và
cải thiện nông nghiệp cho huyện nhà, và đem lại hiệu quả lớn hơn cho các trang
trại, nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại tại huyện Can Lộc- Hà
Tĩnh”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trang trại ở huyện Can
Lộc, tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trang
trại.
1.2.1. Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại, hiệu
quả kinh tế trang trại, nâng cao hiểu biết về chúng, làm tiền đề cho sự phát triển
kinh tế trang trại một cách bền vững và đạt hiệu quả cao hơn.
Nghiên cứu và tổng hợp các số liệu liên quan đến kinh tế trang trại của
huyện, từ đó đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế các trang trại, tìm ra các yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại ở Huyện.
Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại
trên địa bàn huyện Can Lộc.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu một số nông trại trên toàn huyện Can Lộc, trong đó
gồm các loại hình kinh tế trang trại chủ yếu trên địa bàn huyện như các mô hình
kinh tế trang trại trồng trọt, chăn nuôi, và tổng hợp; Nghiên cứu về thực trạng
phát triển và hiệu quả của các trang trại đó.
9
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
nhận thức về các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền
vững để nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Đề xuất các giải pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế và khai thác
tối đa những thế mạnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại huyện Can
Lộc.
II. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Kinh tế trang trại trên thế giới
2.1.1. Sự hình thành và phát triển
Trên thế giới, kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển hàng trăm năm
nay và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, trong
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
trong nền nông nghiệp hàng hoá. Sở dĩ như vậy là bởi vì, nó là đơn vị kinh tế phù
hợp với nông nghiệp nông thôn, rất cơ động và linh hoạt, dễ dàng vượt qua những
khó khăn khi giá cả thị trường không ổn định.
Ở Châu Âu, thế kỷ thứ XVIII, chủ nghĩa tư bản đã phát triển và xuất hiện
tình trạng dân số bắt đầu tăng nhanh hơn, đồng thời nhu cầu nông sản cũng tăng,
nhưng kỹ thuật nông nghiệp không làm tăng sản lượng nông nghiệp, làm cho giá
nông sản tăng. Dân số tăng cộng với tư hữu ruộng đất đã dẫn đến người nghèo ở
nông thôn tăng, giá thuê nhân công ở nông thôn giảm xuống. trong điều kiện nông
nghiệp là ngành sản xuất có lãi, các trang trại lớn tư bản chủ nghĩa có nhiều lao động
làm thuê ưu thế hơn trang trại gia đình. Vì thế từ cuối thế kỷ XVIII đến khoảng
những năm 1870, quy mô các trang trại lớn lên.
Đến cuối thế kỷ XIX, do ngành đường sắt và tàu thủy chạy bằng hơi nước
phát triển, làm cho giá vận tải hàng hoá giảm, xuất hiện luồng di dân từ Châu Âu
sang Châu Mỹ và Châu Úc để mở rộng diện tích nông nghiệp, thời kỳ này máy
nông nghiệp và phân hoá học phát triển đã thúc đẩy sản lượng nông nghiệp tăng
11
nhanh. Từ đó làm giá nông nghiệp giảm mạnh, các trang trại lớn mất ưu thế và
thúc đẩy trang trại gia đình phát triển.
2.1.2. Phát triển kinh tế trang trại tại một số nước trên thế giới
hướng tăng lên. Cụ thể, năm 1082 có số lượng gần 5,7 triệu trang trại, quy mô
bình quân 5,9 ha/trang trại thì đến năm 1987 chỉ có 982 nghìn trang trại, quy mô
bình quân tăng lên 24 ha/trang trại. Chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của
trang trại ngày càng phát triển về quy mô và có xu hướng hợp tác sản xuất hàng
hoá với quy mô ngày càng gia tăng. [1]
Ở các nước Châu Á có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Đài Loan sự
phát triển trang trại diễn ra theo quy luật số lượng trang trại giảm, quy mô trang
trại tăng. Tại Nhật Bản, năm 1950 số trang trại là 6176000 đến năm 1993 số
trang trại còn 3691000. Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm là
1,2%.Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha năm 1993 tăng lên là
1,38 ha, tốc độ tăng bình quân là 1,3%.
Ở Thái Lan trang trại đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra nông sản phục vụ
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, số lượng trang trại gia đình có 4,5 triệu trang
trại, quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là 5,6 ha, trong đó trang trại có
diện tích từ 5-10 ha chiếm 28%, trang trại có diện tích lớn hơn 10 ha chiếm 14%.
Năm 1980, tổng số máy kéo của trang trại có khoảng 460 nghìn chiếc, bảo đảm cơ
giới khâu làm đất 60%, cơ giới hoá trong khâu chế biến cũng được phát triển mạnh,
84% làng xã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
khi công nghiệp hoá đến mức tăng cao thì một mặt công nghiệp thu hút lao
động từ nông nghiệp mặt khác nó lại tác động làm tăng năng lực sản xuất của các
trang trại bằng việc trang bị máy móc thiết bị thay thế lao động thủ công, đồng thời
trong nông nghiệp sử dụng ngày càng nhiều các chế phẩm công nghiệp. Do vậy số
lượng các trang trại giảm đi nhưng quy mô diện tích, đầu động vật nuôi lại tăng lên.
Năm 1950 ở Mỹ có 5648000 trang trại và giảm dần số lượng đến năm 1960 còn
3962000 trang trại. Trong khi đó diện tích bình quân của trang trại tăng lên, năm
1950 là 56 ha, năm 1960 là 120 ha năm 1970 là 151 ha năm 1992 là 198,7 ha.
13
Nước Anh năm 1950 là 543000 trang trại, đến năm 1957 còn 254000 trang trại.
Tốc độ giảm bình quân trang trại hàng năm là 2,1%. Diện tích bình quân của các
trang trại thì có xu hướng tăng lên năm 1950 diện tích bình quân 1 trang trại là
chặt chẽ và không thể thay thế. Ở Nhật bản hiện nay 99,20% số trang trại gia
đình tham gia các hoạt động của trên 4000 HTX nông nghiệp ở các cơ sở
làng, xã, có hệ thống dọc trên huyện, tỉnh và cả nước. Các HTX này thực
hiện việc cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm của các trang trại. Ngoài ra,
nhà nước cho các trang trại vay vốn tín dụng lãi suất thấp từ 3,5 - 7,5% /
năm để tái tạo đồng ruộng, mua sắm máy móc. Nhà nước trợ cấp cho các
nông trại 1/2 đến 1/3 giá bán các loại máy móc nông nghiệp mà nhà nước
cần khuyến khích. Bến cạnh đó còn có các chính sách ổn định và giảm tô để
khuyến khích sản xuất nông nghiệp, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng tiện lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá. [1]
2.1.3. Kinh tế trang trại tại Israel
Israel là một đất nước nhỏ bé nằm bên bờ địa trung hải, điều kiện tự
nhiên thì vô cùng khắc nghiệt, nhưng Israel được biết đến là một đất nước có
nền nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Nhiều năm qua, Israel vẫn là
nhà cung cấp nông sản số 1 cho liên minh Châu Âu. Tại sa mạc Arava-
Israel, lượng mưa chỉ từ 20-50mm mỗi năm, mùa hè nhiệt độ ban ngày
khoảng 40 độ, trong khi độ ẩm thì cực thấp, nên ngay cả chính phủ Israel đã
từng tin rằng, không thể phát triển được nông nghiệp ở đây. Nhưng điều kì
diệu là hiện nay, vùng Arava đã cung cấp cho Israel 60% nông sản xuất
khẩu, với giá trị khoang 250 triệu erro mỗi năm. Với 560 nông hộ ở đây,
công nghệ nhà kính đã đem lại cho họ một cuộc cách mạng nông nghiệp
thực sự. [3]
Hầu như sản phẩm nông nghiệp của Israel đều từ các trang trại. Nông
nghiệp Israel sản xuất chủ yếu theo 2 loại hình kinh tế là Moshav và
Kibbutz, chúng đều là tập hợp của các trang trại. Vì vậy, các vấn đề của 2
15
loại hình kinh tế này có thể xem như là vấn đề về loại hình kinh tế trang trại
tại Israel. Và nghiên cứu về nông nghiệp Israel cũng như nghiên cứu về loại
hình kinh tế trang trại tại đây.
Các Moshav có cấu trúc gồm một khu trung tâm ở giữa, ở đó có nhà trẻ,
trò của chính phủ ở đây giống như một bàn đỡ. Như vậy, trong nông nghiệp
Israel sự đoàn kết đã mang lại lợi ích cho tất cả, vì thế nó hình thành và phát
triển một cách tự nhiên, thực chất và bền vững.
Tại Israel, các trang trại luôn được cập nhật các loại giống mới, được
ứng dụng các máy móc thiết bị hiện đại. Có các trung tâm nghiên cứu, tạo ra
các loại giống mới như Công ty Hazera Genetics. Các trung tâm này thường
tạo ra các loại giống mới và thường chúng chỉ trồng cho năng suất cao nhất
chỉ trong 1 mùa vụ, nông dân không tạo ra giống mà mua tại các trung tâm
đó. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng được đổi mới thường xuyên, nhất là
công nghệ nhà kính và hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Các hoạt động gieo
trồng, chăm sóc trên cây, con hầu như dùng máy móc. Con người chỉ làm
một ít công việc như điều khiển máy, thu hoạch những loại hoa quả đòi hỏi
sự cẩn thận, nhẹ nhàng. Có như vậy, hiện nay chỉ 2% dân số làm nông
nghiệp,nhưng Israel vẫn đủ cung cấp lương thực, thực phẩm trong nước và
là nước cung cấp nông sản số 1 cho liên minh châu âu trong những năm gần
đây.
Tại Israel, các trang trại rất gắn kết với thị trường. Sản xuât và thị
thường gắn bó mật thiết với nhau như thể cây và nước, trong nhiều trường
hợp nhà nông cũng chính là doanh nghiệp. Các chủ trang trại luôn tìm hiểu
thị trường, cập nhật thông tin một cách nhanh chóng về nhu cầu của thị
trường. Các trang trại có tính chuyên môn hóa khá cao, trong một Moshav
trang trại này trồng dưa, trang trại khác trồng rau, cà chua, hành tây nên thị
trường tiêu thụ tương đối ổn định, giảm được sự cạnh tranh trên thị trường.
Còn trong một trang trại, cùng một loại nông sản, các chủ trang trại chia ra
17
thành nhiều đợt trồng, nuôi nối tiếp nhau, nhằm cung cấp cho thị trường
liên tục và không để cung vượt quá cầu. [3]
2.1.4. Một số kinh nghiệm hay từ kinh tế trang trại trên thế giới
Từ thực tiễn phát triển kinh tế trang trại trên thế giới chúng ta có thể đưa ra
một vài nhận xét như sau:
Trong thời kỳ phong kiến dân tộc (thế kỷ X - giữa thế kỷ XIX) một số triều
đại phong kiến đã có chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập đồn điền, doanh
điền, được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau: điền trang, điền doanh, thái
ấp…
Thời kỳ Lý Trần: do nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp và góp phần giải
quyết nạn phiêu tán, tập trung nhân lực xây dựng cơ sở kinh tế cho tầng lớp quí tộc
được biểu hiện qua nhiều cách thức như điền trang, thái ấp, đồn điền.
Thời Lê Nguyễn: hình thức sản xuất nông nghiệp lúc này là các trại ấp, gồm:
Trại ấp ban cấp và trại ấp khai hoang do các quan lại và các công thần cai quản.
Những trại ấp ở thời kỳ này đã có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất nông
nghiệp, mở rộng diện tích canh tác sử dụng nguồn nhân lực của địa phương và tù
binh.
Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc. Mục đích chủ yếu của kinh tế
trang trại trong thời kỳ này là nhằm vào việc khai thác những vùng lãnh thổ rộng
lớn mà chúng ta đạt được. Thiết lập ở đó các đồn điền tăng sức sản xuất ở khu vực
thuộc địa, thông qua để dễ phát triển mối quan hệ về thương mại quốc tế, chính phủ
thuộc địa đã có nhiều chính sách và biện pháp trực tiếp thúc đẩy sự ra đời đồn điền
của người Pháp ở Việt Nam như: chính sách ruộng đất, chính sách thuế, chính sách
khen thưởng…[4]
b. Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VII
(tháng 6/1993).
Thời kỳ 1945 - 1975: Trước những năm 1975 nền công nghiệp miền Bắc
mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung và có các hình thức tổ chức sản xuất chủ
19
yếu như: Các nông lâm trường quốc doanh, các HTX nông nghiệp, ruộng đất tư
liệu sản xuất được tập trung hoá, kinh tế tư nhân bị thu hẹp tuy vậy hiệu quả kinh tế
của sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này rất thấp kém. Ở miền Nam trong thời
kỳ 1945 - 1975 các hình thức tổ chức sản xuất ởvùng tạm chính chủ yếu là các đồn
điền, dinh điền, các HTX kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hoá.
Từ cuối những năm 1970 hiệu quả sản xuất thấp kém trong các HTX ở miền
Nghị quyết 04 – NQ/HNTW ngày 29/12/1997 và Hội nghị lần thứ IV Ban
chấp hành TW Đảng khóa VIII khẳng định “KTTT với các hình thức sở hữu
khác nhau được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở
những nơi có nhiều ruộng đất, khuyến khích việc khai thác đất hoang vào mục
đích này”.
Nghị quyết 05 – NQ/HNTW ngày 17/10/1998 và Hội nghị lần thứ VI (lần
1) Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII “Nhà nước có chính sách, khuyến khích
phát triển hình thức trang trại gia đình như các loại hình sản xuất khác của kinh
tế hộ gia đình…Nhà nước hoan nghênh, khuyến khích các chủ trang trại giao
khoán một phần đất hoang, vườn cây hoặc gia súc cho người lao động…, hướng
dẫn chủ trang trại ký kết các hợp đồng lao động với người lao động theo pháp
luật trên cơ sở hai bên cùng có lợi”.
Nghị quyết 03/2000/NQ –CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về KTTT:
“Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ nông
dân, phát triển KTTT đi đôi với chuyển HTX cũ, mở rộng các hình thức kinh tế
hợp tác, liên kết SXKD giữa các hộ nông dân, các trang trại, các nông, lâm
trường quốc doanh, doanh nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát
triển… Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học công nghệ, chế biến, tiêu thụ sản
phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho các trang trại phát triển bền
vững…”. [4]
Thông tư 27/2011/TT – BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp
quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận KTTT:
21
‘‘Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
thủy sản chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng
sông Hồng với 4.090 trang trại chiếm 92,3% số trang trại thủy sản; số lượng
trang trại chăn nuôi chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng
sông Hồng với 4.240 trang trại chiếm 68,3% số trang trại chăn nuôi.
23
Trang trại đã sử dụng nhiều ruộng đất và lao động. Tại thời
điểm 01/7/2011, diện tích đất nông, lâm nghiệp và diện tích mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản do các trang trại đang sử dụng là 157,6 nghìn ha, bình quân 1
trang trại sử dụng 7,9 ha. Trong tổng số nêu trên thì đất trồng cây lâu năm
chiếm tỷ trọng lớn nhất với 78 nghìn ha (49,5%); đất trồng cây hàng năm
36,7 nghìn ha (23,3% ); diện tích nuôi trồng thủy sản 34,2 nghìn ha (21,7%);
đất lâm nghiệp 8,7 nghìn ha (5,5%). Diện tích đất nông, lâm nghiệp và
thuỷ sản bình quân 1 trang trại cao nhất là ở vùng Đông Nam Bộ 10,9 ha;
Tây Nguyên 8,8 ha; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 8,7 ha; Đồng
bằng sông Cửu Long 7,3 ha; Trung du và miền núi phía Bắc 4,9 ha và Đồng
bằng sông Hồng 3,6 ha. Diện tích đất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm
2011 bình quân trang trại của cả nước và các vùng tăng cao so các năm trước
đây chủ yếu do thay đổi về tiêu chí trang trại.Kinh tế trang trại phát triển
góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn. Theo kết quả sơ bộ, tại
thời điểm 01/7/2011, các trang trại cả nước đã tạo công ăn, việc làm
thường xuyên cho gần 100 nghìn lao động và rất nhiều lao động thời vụ,
tạm thời ở các địa phương. [6]
Kinh tế trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô
ngày càng lớn, gắn với thị trường
24
Tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại
năm 2011 đạt gần 39 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 6% giá trị sản
xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), bình quân 1942,5 triệu đồng 1 trang
trại. Tổng thu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân 1 trang trại
cao nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc 2.868 triệu đồng, Đồng
và hạ giá thành sản phẩm.
Hợp tác cạnh tranh: Các trang trại muốn SXKD phát triển ổn định lâu dài
và đạt hiệu quả cao thì cùng với việc thực hiện tích lũy mở rộng sản xuất,
chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất
phải hợp tác với nhau và với các đơn vị, tổ chức kinh tế khác có liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại để giúp cho mỗi trang trại giải
quyết tốt hơn những vấn đề của SXKD mà nếu trang trại mà nếu tách rời sẽ
không giải quyết được hoặc giải quyết kém hiệu quả. Cùng với hợp tác SXKD,
mỗi trang trại đồng thời còn phải cạnh tranh với các trang trại, những đơn vị, tổ
chức kinh tế khác cùng sản xuất kinh doanh những sản phẩm như của trang trại
mình để có thể tiêu thụ nông, sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý, đảm bảo có lãi,
thực hiện tích lũy và mở rộng thị trường…
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lý luận
3.1.1. Những lý luận chung về trang trại và kinh tế trang trại
3.1.1.1. Khái niệm
Khái niệm về trang trại: “Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ:
Ferme (Tiếng pháp), Farm (Tiếng Anh)…v.v., được hiểu chung là nông dân - chủ
trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung”.
Theo Mac: Trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của
trang trại
là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay ở nước Anh với nền công
nghiệp phát triển,
hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn,
mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê”.