Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý
môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công cụ có một
chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Công cụ quản lý
môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
• Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc
gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc
gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
• Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền
kinh tế thị trường.
• Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước
về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô
nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá
môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ
thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát
triển như thế nào
Quản lý chất thải không chỉ dựa vào công cụ luật pháp, công cụ kỹ thuật mà phải sử
dụng các công cụ liên quan đến kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, con người
luôn phải tìm mọi giải pháp để phục hồi môi trường ở trạng thái cân bằng và tính đến
nhu cầu về kinh tế.
I.1 Khái niệm công cụ kinh tế.
Công cụ kinh tế là những công cụ chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của
những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động đến môi trường, tăng cường ý thức
trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức…trước những tác động gây ra sự huỷ hoại môi
trường.
Công cụ kinh tế là một trong những công cụ quản lý môi trường và là một công
cụ quan trọng để điều chỉnh hành vi có tác động đến môi trường của các chủ thể.
Các loại công cụ kinh tế:
1. Thuế và phí: thuế đầu vào (thuế nguyên liệu) và thuế đầu ra (phí sản phẩm), phí
xả thải và phát thải, phí người sử dụng…
2. Chương trình thương mại: giấy phép xả thải, tiền trợ cấp tiêu thụ sản phẩm…
3. Động cơ tài chính.
4. Hệ thống đặt cọc hoàn trả.
5. Đầu tư BVMT.
Do thời gian nghiên cứu có hạn cho nên em chỉ xin đề cập đến một phần của công cụ
kinh tế đó là phí vệ sinh thuộc phí người sử dụng.
I.2 Vai trò, bản chất và mục tiêu của công cụ kinh tế
a) Bản chất
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
2
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
Công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường như thuế, phí bồi
hoàn chi phí tái tạo lại môi trường do người tiêu dùng và các nhà sản xuất gây ra ô
nhiễm. Bản chất của các công cụ kinh tế được các cơ quan tổ chức nhà nước sử dụng là
dùng kinh tế để điều chỉnh hành vi cá nhân và tổ chức gây ô nhiễm, sử dụng nguồn vốn
này để tái tạo lại hoặc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ công cộng nhất định cho cộng
đồng.
b) Mục tiêu
Điều chỉnh và khuyến khích thay đổi hành vi của người tiêu dùng và các nhà sản
xuất gây ô nhiễm môi trường. Thuế tài nguyên và phí ô nhiễm làm giá cả và hàng hoá
và dịch vụ tăng lên, làm thay đổi hành vi của nhà sản xuất và người tiêu dùng đối với
các hàng hoá và dịch vụ gây nhiều ô nhiễm. Các công cụ kinh tế như thuế, phí ở đây sẽ
khuyến khích người sản xuất giảm thiểu ô nhiễm môi trường, người tiêu dùng sử dụng
các sản phẩm ít bị ô nhiễm thông qua giá cả mà người sản xuất và người tiêu dùng giao
phạm vi kế hoạch phát triển nhà nước.
I.3 Các nguyên tắc áp dụng công cụ kinh tế
I.3.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.(Polluter pays priciple– PPP)
Nguyên tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác phát triển (OECD) đưa
ra vào năm 1972 và bổ xung vào năm 1974. Nội dung của nguyên tắc cho rằng những
tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô
nhiễm. Đến năm 1974 đưa thêm nội dung là những người gây ô nhiễm ngoài việc phải
trả tiền để khắc phục ô nhiễm thì còn phải trả thêm một khoản bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm đó gây ra. Nói tóm lại theo nguyên tắc này thì người gây ô nhiễm phải trả mọi
chi phí liên quan đến khắc phục ô nhiễm nhằm đảm bảo cho môi trường ở trạng thái có
thể chấp nhận được. [ 9]
Nguyên tắc này xuất phát từ luận điểm của Pigou về nền kinh tế phúc lợi. Trong
đó nội dung quan trọng nhất là giá cả các loại hàng hoá có bao gồm cả chi phí môi
trường trong đó, giá cả nói lên sự thật về sự tiêu dùng hàng hoá dịch vụ nếu không sẽ
dẫn đến sự tiêu dùng bừa bãi nguồn tài nguyên.Trong quản lý chất thải rắn nguyên tắc
PPP cho rằng những người thải chất thải rắn ra khu vực đô thị, thành phố phải trả mọi
khoản chi phí do sự thải bỏ chất thải của mình. Khoản phí này có thể coi là phí xả thải.
I.3.2 Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả phí (Benefit pays priciple– BPP )
Nguyên tắc này chủ trương nhằm tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu
về môi trường. Đối lập với việc người gây ô nhiễm phải trả tiền thì người được hưởng
một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả phí cho việc cải tạo đó.
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
4
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
Nguyên tắc này đưa ra chủ trương rằng việc việc phòng ngừa ô nhiễm cần được
sự hỗ trợ từ những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho
những chất thải gây ra ô nhiễm môi trường. Thực hiện nguyên tắc này sẽ tạo ra một
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
5
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
6. Pháp lệnh phí và lệ phí do Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày
28/8/2001.
Thuận lợi về mặt nhân thức của người dân:
Nhận thức của người dân về môi trường ngày càng nâng cao do mức sống của họ
được nâng lên nên họ mong muốn được hưởng một môi trường trong lành. Như vậy rất
thuận tiện cho công tác tuyên truyền, vận động về các biện pháp BVMT cũng như mức
bằng lòng chi trả của họ là cao.
Nước ta áp dụng công cụ kinh tế sau các nước phát triển do vậy có điều kiện rút
kinh nghiệm trong việc áp dụng chúng.
I.4.2.Điều kiện khó khăn
Tuy hệ thống văn bản của ta đang dần được hoàn thiện nhưng khả năng áp dụng
chúng trong thực tế còn gặp khó khăn do một mặt chưa có cán bộ quản lý có năng lực,
quản lý chưa tốt mặt khác điều kiện áp dụng các văn bản chưa tốt. Bên cạnh đó mặc dù
nhân thức của người dân được nâng cao nhưng đó chỉ là một số ít những hộ, cá nhân có
mức sống cao còn những hộ có thu nhập thấp thì sự bằng lòng chi trả của họ là thấp do
vậy khả năng áp dụng công cụ kinh tế không khả thi.
I.5 Hệ thống phí vệ sinh.
Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức hay cá nhân
khác cung cấp dịch vụ. Trong hệ thống phí có rất nhiều loại phí như phí sản phẩm môi
trường, phí đổ bỏ, phí người sử dụng…nhưng trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
chỉ xin đề cập đến phí vệ sinh thuộc phí người sử dụng.
I.5.1 Khái niệm phí vệ sinh
Phí vệ sinh là khoản thu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đầu tư cho
hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn thành phố như chi phí cho
hoạt động của đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải theo quy trình kỹ thuật của
định dựa trên sự bằng lòng chi trả của người dân.
Phí vệ sinh thể hiện rõ nguyên tắc BPP vì phí này vừa là việc thu hồi một phần
chi phí đầu tư cung cấp cho các dịch vụ công cộng hữu hình, một mặt nó là khoản chi
phí mà người dân phải nộp khi hưởng các dịch vụ công cộng đó. Tóm lại phí vệ sinh là
loại phí mang bản chất của các hoạt động dịch vụ công cộng hữu hình, thông qua hoạt
động sự nghiệp là công tác quản lý chất thải rắn của thành phố và sau khi thu sẽ được
tập trung toàn bộ vào ngân sách nhà nước.
b) Vai trò của phí vệ sinh.
Phí vệ sinh là một trong những công cụ kinh tế được áp dụng một cách mềm dẻo
và đem lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng môi trường. Nếu thực hiện một
cách hợp lý thì phí vệ sinh sẽ đem lại những hiệu quả rất thiết thực đối với kinh tế, xã
hội bên cạnh những lợi ích về mặt môi trường.
Đối với khía cạnh kinh tế:
Do đây là một khoản thu nhằm bù đắp lại những chi phí đầu tư ban đầu nên một
phần phí này được nộp vào ngân sách nhà nước. Phần phí mà công ty thu được có thể
được xem là một phần thu nhập của công ty và phần phí này có thể giúp công ty thực
hiện các công tác quản lý của mình giúp giảm ngân sách cho nhà nước. Khoản tiền thu
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
7
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
được đã tạo ra thu nhập để tài trợ và nâng cao hiệu quả các hoạt động bảo vệ môi
trường và bù đắp ít nhất một phần cho những chi phí không được thanh toán của các
hoạt động xã hội.
Đối với khía cạnh xã hội:
Khoản chi phí mà người dân phải nộp cho cơ quan quản lý khi được hưởng các
hoạt động dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải và nhằm thực hiện nguyên tắc
BPP và cũng thực hiện tính công bằng xã hội. Việc trả một khoản phí nhất định như
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
khoản thanh toán. Để có thể đảm bảo được hiệu quản quản lý chất thải và không tạo
gánh nặng kinh tế cho bất kỳ đối tượng nào thì mức chi phí cho công tác quản lý được
xác định dựa trên tỉ lệ: phí vệ sinh không chiếm quá 1% thu nhập của người dân và chi
phí quản lý chất thải thì chiếm không quá 1% tổng sản phẩm quốc nội.
Tính chất và khối lượng chất thải.
Việc tính phí vệ sinh thông thường trong đó có cả chi phí xử lý và vận chuyển
chất thải do vậy nó chịu ảnh hưởng của tính chất và khối lượng chất thải. Đối với chất
thải nguy hại thì thông thường có một bảng thống kê các loại chất thải độc hại và chi
phí cho từng loại đó, với một khối lượng nhỏ thì người dân không mất tiền xử lý nhưng
với một khối lượng lớn thì mức phí đối với loại chất thải này là rất cao do tính chất độc
hại của chúng. Hiện nay ở nước ta đối với rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp do
thành phần và tính chất của các chất có trong rác thải cho nên giá phí đối với các loại
này là khác nhau còn với chất thải xây dựng thì biện pháp xử lý hiệu quả nhất là đem
san lấp mặt bằng do vậy giá phí chỉ tính đến chi phí nhân công thu gom, san lấp. Tính
phí theo tính chất và thành phần rác thải nhằm khuyến khích người dân tiêu dùng các
loại sản phẩm dễ phân huỷ, ít độc hại và có thể tái sử dụng nhằm làm giảm khoản phí
phải nộp.
Bên cạnh yếu tố tính chất chất thải thì yếu tố khối lượng rác thải cũng ảnh hưởng
đến giá phí vệ sinh. Thực tế cho thấy giá phí có thể tính theo khối lượng hay tính theo
thể tích trên đầu người trong một ngày đêm. Giá phí có thể qui định theo một mức nhất
định khi lượng rác thải ở một giới hạn là A tấn/ngày đêm còn nếu vượt quá giới hạn
này thì mức phí lại cao hơn. Thực tế tại các nước phát triển đã áp dụng thu phí vệ sinh
theo túi rác hay phát tem, túi đựng rác với một thể tích nhất định vượt ra ngoài phần
được phát thì các hộ phải trả thêm tiền. Việc tính phí theo khối lượng rác nhằm khuyến
khích người dân giảm khối lượng rác thải phát sinh bên cạnh việc giảm gánh nặng kinh
tế thì môi trường cũng ít bị tác động.
Tại một số nước trên thế giới, người dân phải trả tiền thu phí thu gom và xử lý rác
tuỳ theo tính chất và kích cỡ của rác. Nếu như một người thải nhiều rác, hay rác thải ra
nước, không chú trọng nhiều đến việc điều chỉnh hành vi của các đối tượng gây
ô nhiễm môi trường.
• Thứ hai, bản thân các nước đang phát triển cũng đã và đang áp dụng thử nghiệm
các công cụ kinh tế, những kinh nghiệm cho đến nay chưa được tổng kết, đánh
giá và trên thực tế có rất ít tư liệu về vấn đề này. Các nước đang phát triển cũng
không đồng nhất cả về mức độ phát triển kinh tế- xã hội, hệ thống chính trị và
các điều kiện sinh thái.
• Thứ ba, hiện nay, ở nhiều nước đang phát triển đã và đang áp dụng các công cụ
kiểm soát nhằm cưỡng chế tuân thủ đối với các hành vi có tác động xấu đến môi
trường. Việc từ bỏ và thay thế dần dần các công cụ này bằng các công cụ kinh tế
là vấn đề đang được quan tâm do các công cụ “kiểm soát- mệnh lệnh” tỏ ra
thiếu hiệu quả, thiếu linh hoạt, do nhu cầu về tăng nguồn thu cho ngân sách nhà
nước và do đòi hỏi khách quan cần tìm ra các công cụ hài hoà chính sách kinh tế
và chính sách môi trường.
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
10
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
Sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã dẫn đến sự tăng nhanh tiêu thụ tài
nguyên thiên nhiên và tác động xấu đến môi trường. Tốc độ tăng trưởng dân số nhanh
cũng đã và đang đặt nhiều áp lực hơn lên môi trường tự nhiên, 70% dân số phụ thuộc
trực tiếp vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Rõ ràng thách thức lớn hiện nay là làm
sao bảo đảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng một cách khôn khéo, bền
vững và sự phát triển không làm tổn hại tới môi trường.Nghị quyết Trung ương Đảng
lần V khoá IX một lần nữa khẳng định phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và kinh tế
tư nhân như là một thành phần kinh tế quan trọng góp phần vào nỗ lực phát triển quốc
gia. Việc áp dụng đúng đắn và kịp thời các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở
nước ta là cần thiết và là một đòi hỏi khách quan vì những lý do sau:
môi trường tiếp tục gia tăng. Các báo cáo cho thấy một bức tranh không như mong
muốn về các hoạt động khai thác khoáng sản, xói mòn đất, ô nhiễm các nguồn nước, ô
nhiễm môi trường công nghiệp, đô thị và nông thôn, cũng như thiên tai thường xuyên
xảy ra với tần suất cao và diễn biến phức tạp, sự suy giảm các nguồn tài nguyên đa
dạng sinh học và vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới. Những xu hướng này sẽ tiếp tục diễn
ra trong những năm tới. Trong các giải pháp nhằm đảo ngược các xu thế này, chắc
chắn việc áp dụng đúng đắn và kịp thời các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
sẽ đóng vai trò quan trọng.
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN
II.1 Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt
động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và
duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v…). Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải
sinh ra từ các hoạt động sản xuất và các hoạt động sống.
Chất thải rắn đô thị được định nghĩa là vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi
trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào
đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một
thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ.
II.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, có thể ở nơi này hay ở
nơi khác, chúng khác nhau về số lượng, kích thước, phân bố về không gian. Việc phân
loại các nguồn phát sinh chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý
chất thải rắn. Một cách tổng quát chất thải rắn sinh hoạt được phát sinh từ các nguồn
sau :
• Khu dân cư
• Khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ…)
• Cơ quan, công sở (trường học, trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện…)
• Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng.
• Nhà máy xử lý chất thải.
• Hoạt động công nghiệp.
- Các túi giấy, các mảnh bìa,
giấy vệ sinh,…
- Vải, len…
- Đồ dùng bằng gỗ như bàn
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
Nông nghiệp,
hoạt động xử
lý rác thải
Chất thải rắn
Nơi vui chơi,
giải trí
Bệnh viện, cơ
sở y tế
Khu công
nghiệp, nhà
máy, xí nghiệp
Nhà dân, khu
dân cư.
Chợ, bến xe,
nhà ga
Giao thông,
xây dựng.
Cơ quan
trường học
13
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
- Chất dẻo
- Vỏ hộp nhuôm, đồ đựng
bằng kim loại
- Chai lọ, đồ dùng bằng thuỷ
tinh, bóng đèn,…
- Vỏ ốc, gạch đá, gốm sứ,…
3 . Các chất hỗn hợp - Tất cả các vật liệu khác
không phân loại ở phần 1
và 2 đều thuộc loại này
- Đá, đất, cát,…
• Phân loại theo quan điểm thông thường:
Chất thải thực phẩm: Là loại chất thải mang hàm lượng chất hữu cơ cao như
những nông sản hư thối hoặc dư thừa: thịt cá, rau, trái cây và các thực phẩm khác.
Nguồn thải từ các chợ, các khu thương mại, nhà ăn vv… Do có hàm lượng chủ yếu là
chất hữu cơ nên chúng có khả năng thối rữa cao cũng như bị phân hủy nhanh khi có
điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao. Khả năng ô nhiễm môi trường khá lớn do sự phân rã
của chất hữu cơ trong thành phần của chất thải.
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
14
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
Rác rưởi: Nguồn chất thải rắn này rất đa dạng thường sinh ra ở các khu dân cư,
khu văn phòng, công sở, khu thương mại, nhà hàng, chợ, các khu vui chơi giải trí vv…
Thành phần của chúng chủ yếu là các loại giấy, bao bì, giấy carton, plastic, nilon vv…
Với thành phần hóa học chủ yếu là các chất vô cơ, cellolose, và các loại nhựa có thể
đốt cháy được. Ngoài ra trong loại chất thải này còn có chứa các loại chất thải là các
kim loại như sắt, thép, kẽm, đồng, nhôm vv… là các loại chất thải không có thành phần
hữu cơ và chúng không có khả năng tự phân hủy. Tuy nhiên loại chất thải này hoàn
toàn có thể tái chế lại mà không phải thải vào môi trường.
Chất thải rắn sinh ra từ các cống thoát nước, trạm xử lý nước:Trong loại chất
thải này thì thành phần chủ yếu của chúng là bùn đất chiếm tới 90 - 95%. Nguồn gốc
sinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất cát đường phố, xác động vật chết, lá cây, dầu mỡ
rơi vãi, kim loại nặng… trên đường được thu vào ống cống. Nhìn chung loại chất thải
này cũng rất đa dạng và phức tạp và có tính độc hại khá cao. Ngoài ra còn một loại chất
thải rắn khác cũng được phân loại chung vào là bùn thải sinh ra từ các nhà máy xử lý
nước thải, trạm xử lý nước thải, phân rút từ hầm cầu, bể tự hoại. Các loại chất thải rắn
này cũng chiếm một lượng nước khá lớn ( từ 25 – 95%) và thành phần chủ yếu cũng là
bùn đất, chất hữu cơ chưa hoại.
II.4 Thành phần và tính chất của chất thải rắn
Thành phần chất thải rắn được định nghĩa là những thành phần riêng biệt tạo nên
rác thải và thường được tính theo phần trăm khối lượng. Các thông tin liên quan đến
thành phần chất thải rắn cần thiết để tính toán nhu cầu trang thiết bị, hệ thống xử lý,
vận chuyển và quản lý rác.
Thành phần lý, hoá học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từng
địa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.
Bảng II.2 Thành phần phân loại của chất thải rắn đô thị [1]
Hợp phần % Trọng lượng Độ ẩm (%) Trọng lượng riêng
(kg/m
3
)
Khoảng
giá trị
(KGT)
Trung
bình
KGT TB KGT TB
Chất thải
thực phẩm
6-25 15 50-80 70 128-80 228
nhập cao, sản xuất công nghiệp nhiều hơn và nghành thương mại và dịch vụ càng lớn
thì mức độ tiêu thụ và bao gói sản phẩm càng cao.
Thành phần chất thải của các nước có thu nhập thấp và các nước có thu nhập cao
cũng có sự khác biệt. Ở những nước có thu nhập cao, tỷ lệ chất thải hữu cơ thấp hơn ở
các nước có thu nhập thấp vì trong chất thải của các nước có thu nhập cao có nhiều bao
gói và giấy lộn hơn. Điển hình như: khối lượng chất thải hữu cơ trung bình trên toàn
quốc ở khu vực thành thị là 55% và ở khu vực nông thôn là 60-75% [13]
Bảng II.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt ở một số nước [1]
Thành
phần(%khối
lượng)
Quốc gia có thu
nhập
thấp(<750USD)
Quốc gia có thu
nhập trung
bình(750USD-
5000USD)
Quốc gia có thu
nhập
cao(>5000USD)
Các chất hữu cơ
Thức ăn thừa 40-85 20-65 6-30
Giấy 1-10 8-30 20-45
Catton 5-15
Placstics 1-5 2-6 2-8
Vair 1-5 2-10 2-6
Cao su 1-5 1-4 0-2
Da 0-2
Rác sân vườn 1-5 1-10 10-20
Độ ẩm = a- b/ a * 100%
Trong đó:
a : Trọng lượng ban đầu của mẫu (kg)
b : Trọng lượng của mẫu sau khi sấy khô ở nhiệt độ 105
0
C (kg)
Độ ẩm của rác phụ thuộc vào mùa mưa hay nắng. Chất thải rắn đô thị ở Việt Nam
thường có độ ẩm từ 50 - 70%.
Tỷ trọng: Tỷ trọng của rác được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng để
xác định tỉ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vị là kg/m
3
( hoặc
lb/yd
3
). Tỷ trọng được dùng để đánh giá khối lượng tổng cộng và thể tích chất thải rắn.
Tỷ trọng rác phụ thuộc vào các mùa trong năm, thành phần riêng biệt, độ ẩm không
khí. Đối với nước ta do khí hậu nóng ẩm nên độ ẩm của chất thải rắn rất cao, thành
phần rất phức tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân huỷ do đó tỷ trọng của rác khá
cao, khoảng 1100 - 1300 kg/m
3
.
Tỷ trọng = khối lượng cân CTR/ thể tích chứa khối lượng CTR cân bằng (kg/m
3
)
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
18
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
Trong đó: C : Carbon (%)
H : Hydro (%)
O : Oxy (%)
S : Lưu huỳnh (%)
II.5 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
Tùy theo yêu cầu xử lý và đặc điểm của rác thu gom mà lựa chọn phương pháp xử lý thích
hợp. Khi lựa chọn phương pháp xử lý chất thải rắn cần xem xét các yếu tố như :Thành
phần tính chất của chất thải rắn, tổng lượng chất thải rắn cần xử lý, hả năng phân loại
rác để tái sử dụng và yêu cầu bảo vệ môi trường. Tuy nhiên về cơ bản có 3 phương pháp
thường hay sử dụng nhất là:
• Phương pháp chôn lấp
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
19
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
• Phương pháp thiêu hủy
• Phương pháp sinh học
II.5.1 Phương pháp đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại rác nhất định mà
không thể xử lý bằng các biện pháp khác. Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao
với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển thành khí
và các chất thải rắn không cháy. Các chất thải rắn được làm sạch hoặc không làm sạch
thốt ra ngồi không khí, còn chất thải rắn thì được chôn lấp
Ứng dụng của phương pháp đốt được sử dụng để xử lý các loại chất thải sau:
• Rác độc hại về mặt sinh học như rác thải y tế, rác thải từ thuốc bảo vệ thực vật
• Rác không phân huỷ sinh học như: như nilong, nhựa, …
• Chất thải có thể bốc hơi và do đó dễ phân tán, chất thải có thể đốt với nhiệt độ
dưới 40
2
O
Việc sử dụng các lò thiêu đốt hiện nay không dừng lại ở mục đích giảm thể tích ban
đầu của rác ( giảm khoảng 90% ), mà còn thu hồi nhiệt lượng phục vụ các nhu cầu
khác như: tận dụng cho lò hơi, lò sưởi, cấp điện,….
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
20
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
Khi thiết kế lò đốt, có 4 yếu tố cần thiết cho sự đốt cháy hoàn toàn của rác thải là:
lượng oxy cung cấp, nhiệt độ cháy phải đảm bảo từ 900 – 1300
0
C (hoặc cao hơn nữa
tuỳ loại chất thải) thời gian đốt chất thải và mức độ xáo trộn bên trong lò. Ngoài ra còn
phải chú ý thêm vật liệu chế tạo lò đốt để đảm bảo chịu nhiệt cao.Khí thải sau khi làm
nguội có thể được xử lý bằng dung dịch kiềm để trung hòa các chất độc hại tạo thành
sau khi nung.
Ưu điểm: của phương pháp thiêu đốt là xử lý triệt để rác thải, tiêu diệt các vi sinh vật
gây bệnh và các chất ô nhiễm, xử lý tốt các chất ô nhiễm, diện tích xây dựng nhỏ, vận
hành đơn giản, ít tốn nhiên liệu, có thể xử lý chất thải rắn có chu kỳ phân huỷ lâu dài.
Nhược điểm: vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực và kỹ thuật tay nghề cao,
giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao, sinh khói bụi và
một số khí ô nhiễm khác như:SO
2
, HCl, NO
x
, CO, … cho nên khi thiết kế xây dựng lò
đốt phải xây dựng kèm theo hệ thống xử lý khí thải. Chi phí đầu tư ban ban đầu cao,
trong một bãi đất và có lớp phủ lên trên bề mặt chất thải.
Chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp kiểm soát sự phân huỷ chất thải rắn khi chúng
được chôn nén và được phủ lên bề mặt một lớp vật liệu. Chất thải rắn trong bãi chôn
lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối
cùng là các chất dinh dưỡng như acid hữu cơ, nitơ, các hợp chất amoni và một số khí
như CO
2
, CH
4
. Như vậy, về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh là phương pháp tiêu huỷ
sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá
trình phân huỷ chất thải khi chôn lấp.
Ưu điểm của phương pháp như sau:
• Ở những đô thị có quỹ đất dự trữ rộng, bãi rác vệ sinh thường là giải pháp kinh
tế nhất cho việc đổ bỏ chất thải;
• Chi phí ban đầu và chi phí hoạt động của bãi rác hợp vệ sinh thấp so với các
phương pháp khác;
• Bãi rác hợp vệ sinh có thể tiếp nhận tất cả các loại chất thải rắn mà không cần
thu gom riêng lẻ hay phân loại từng loại;
• Bãi rác vệ sinh rất linh hoạt trong khi sử dụng, khi khối lượng rác tăng ta có thể
tăng cường thêm công nhân và thiết bị cơ giới, trong khi các phương pháp khác
phải mở rộng quy mô công nghệ để tăng công suất;
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
22
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
• Do chất thải được nén chặt và có một lớp đất phủ lên trên mỗi ngày nên các loài
côn trùng, chuột bọ, ruồi muỗi khó có cơ hội sinh sôi nảy nở;
được 50% lượng rác sinh hoạt bao gồm các chất hữu cơ là thành phần gây ô nhiễm môi
trường đất, nước và không khí; Sử dụng lại được các chất hữu cơ đó chế biến làm phân
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
23
Ứng dụng công cụ kinh tế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác quản lý chất thải
rắn của Thành phố Quy Nhơn Tỉnh Bình Định –Đỗ Thị Minh Thi - Lớp CNMT K49_QN .
bón phục vụ nông nghiệp theo hướng cân bằng sinh thái, hạn chế việc sử dụng phân
bón hóa học để bảo vệ đất; Tiết kiệm cho chôn lấp chất thải , tăng khả năng chống ô
nhiễm môi trường.
Phương pháp này phù hợp với đặc điểm rác thải và khí hâu của nước ta với những
ưu điểm như xử lý chất thải triệt để không gây ô nhiễm môi trường nên có thể đặt gần
thành phố để giảm chi phí vận chuyển. Do đó, đây được xem là phương pháp có nhiều
ưu điểm nhất. Tuy nhiên, phương pháp này có một vài nhược điểm như: mức độ tự
động hóa của công nghệ chưa cao, việc phân loại và nạp liệu phải tiến hành thủ công
nên công nhân phải làm việc trong điều kiện độc hại, năng suất thấp.
Ưu điềm của phuơng pháp:
• Phương pháp vận hành đơn giản, dễ kiểm soát sản phẩm tạo thành.
• Loại trừ được 50% lượng rác thải sinh hoạt gồm các chất hữu cơ là thành phần gây
ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí.
• Sử dụng lại 50% rác thải để sản xuất phân bón phục vụ nông nghiệp theo hướng
cân bằng sinh thái.
• Hạn chế lượng phân bón hóa học dùng cho đất.
• Giảm lượng rác đem chôn lấp, tiết kiệm được diện tích đất làm bãi chôn lấp.
• Thu hồi lại một số loại rác có thể tận dụng để tái chế phục vụ cho công nghiệp.
• Tránh lãng phí tài nguyên.
• Cách thực hiện đơn giản.
• Tạo ra sản phẩm là phân bón sạch.
• Tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động.
với nền văn hoá Sa Huỳnh, hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa thế kỷ
11, triều đại Tây Sơn và Cảng Thị Nại thế kỷ 18. Năm 1998, Thành phố Quy Nhơn
được công nhận là đô thị loại II. Với ưu thế về vị trí địa lý , có cảng biển và có cơ sở hạ
tầng đô thị phát triển. Quy Nhơn được Thủ Tướng Chính phủ Xác định là trong ba
trung tâm thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
Khu vực thành phố Quy Nhơn có địa hình và cảnh quan địa lý đa dạng như núi
rừng, gò đồi, đồng ruộng, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, đảo và bán đảo.Quy Nhơn có
dải bờ biển dài 42km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong
phú, có nhiều loài đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao. Khí hậu thành phố Quy Nhơn có
tính chất nhiệt đới gió mùa, nói chung tương đối thuận lợi, lượng mưa không quá
nhiều, mùa Đông có nhiệt độ không quá thấp, nhiều nắng, tương đối thích hợp cho việc
xây dựng đô thị, tuy nhiên khô hạn cũng thường kéo dài gây nên cạn kiệt nguồn nước
mặt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất, chế độ mưa lũ không đều cũng gây nên
những tác động khó khăn cho việc xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước
Hiện nay thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa
học của tỉnh Bình Định, là thành phố Cảng, đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng của
vùng Nam Trung Bộ, cửa ngõ quan trọng của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc
Campuchia, Thái Lan, ra biển Đông, là một trong những đô thị hạt nhân của vùng Nam
Trung Bộ.
III.1.1.2 Điều kiện khí hậu :
Thành phố Quy Nhơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang đặc tính khí hậu
của vùng Trung-Trung Bộ, bị chi phối bởi gió Đông Bắc trong mùa mưa và gió Tây
vào mùa khô. Mùa Đông ít lạnh, thịnh hành gió Tây Bắc đến Bắc. Mùa hè có nhiệt độ
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (INEST) ĐHBKHN - Tel: (84.4)8681686 – Fax: (84.4)8693551
25