LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập tại Khoa Môi trường - Trường Đại học Thủy Lợi Hà
Nội, em đã thực hiện luận văn với đề tài “
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản
lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
”.
Để có được thành quả như ngày hôm nay, em xin trân trọng cảm ơn sự giúp
đỡ, quan tâm của các giảng viên tại Khoa Môi trường trong suốt thời gian học tập,
nghiên cứu tại Khoa.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn
chính TS. Nguyễn Thị Minh Hằng – Giảng viên Khoa Môi trường – Trường Đại
học Thủy Lợi Hà Nội là người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn.
Em xin gửi lời cám ơn tới lãnh đạo và đồng nghiệp tại Trung tâm Kiểm
nghiệm - Sở Y tế Hải Dương, các cộng tác viên đã tạo điều kiện thuận lợi về thời
gian, cung cấp tài liệu, thu thập thông tin góp phần giúp em hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập.
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu không dài, trình độ và kinh nghiệm còn
hạn chế, vì vậy không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy cô và các bạn nhận
xét, góp ý, giúp đỡ để em từng bước hoàn thiện kiến thức chuyên ngành và tiếp cận
với công việc thực tế một cách tốt nhất.
Em xin trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Doanh
1.1. CHẤT THẢI VÀ CHẤT THẢI Y TẾ 3
1.1.1. Khái niệm về chất thải và chất thải y tế 3
1.1.2. Phân loại chất thải y tế 3
1.1.3. Phân loại chất thải y tế nguy hại 5
1.1.4. Thành phần chất thải y tế: 7
1.1.5. Lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế 7
1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI ĐẾN MÔI
TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG 9
1.2.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế nguy hại đến môi trường 9
1.2.2. Ảnh hưởng của CTRYTNH hại đến cộng đồng 10
1.3. TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI TẠI VIỆT
NAM 12
1.3.1. Tổng quan chung 12
1.3.2. Thực trạng cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của hệ thống bệnh viện 13
1.3.3. Thực trạng công tác khám, chữa bệnh nội, ngoại trú 15
1.3.4. Tổng quan công tác quản lý, xử lý chất thải y tế 16
1.4. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 24
1.4.1. Điều kiện tự nhiên 24
1.4.2. Kinh tế - Xã hội 26
1.4.3. Kết cấu hạ tầng 26
1.4.4. Văn hóa 28
1.5. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH Y TẾ HẢI DƯƠNG 28
1.5.1. Về nhân lực y tế 29
1.5.2. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế 30 CHƯƠNG 2 32
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ NGUY
HẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 32
2.2. DỰ BÁO KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI Y TẾ NGUY HẠI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẾN NĂM 2025. 68
2.3. NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ 71
2.3.1. Thông tin chung về các bệnh viện nghiên cứu 71
2.3.2. Kiến thức và thực hành về QLCTYT của NVYT 72
2.3.3. Kiến thức và thực hành về QLCTYT của VSV 76
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG 78
2.4.1. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý CTRYTNH 78
2.4.2. Những tồn tại cần giải quyết 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3 81
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 81
3.1. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÂN LOẠI, THU GOM VÀ
VẬN CHUYỂN 81
3.1.1. Quản lý nội vi 81
3.1.2. Thu gom tại các khoa phòng 81
3.1.3. Lưu chứa 84
3.2. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
86
3.2.1. Xây dựng mô hình quản lý CTRYT một cách hiệu quả tại các bệnh viện 86
3.2.2. Đề xuất mô hình quản lý phù hợp cho khối y tế dự phòng 87
3.3. CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC, TRUYỀN THÔNG. 89
3.3.1. Giáo dục cộng đồng 89
3.3.2. Nâng cao năng lực tổ chức 91
3.4. CÁC GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄM
CHẤT THẢI RẮN. 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
PHỤ LỤC
103
Bảng 2.16. Dự báo khối lượng CTRYTNH trên địa bàn Tỉnh Hải Dương đến năm 2025
70
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Thành phần chất thải rắn y tế 7
Hình 1.2. Tỷ lệ % khối lượng phát sinh chất thải y tế nguy hại theo các vùng kinh tế
năm 2011. 19
Hình 1.3. Tình hình xử lý chất thải y tế của hệ thống cơ sở y tế các cấp 23
Hình 1.4. Áp dụng vi sóng kết hợp hơi bão hòa để xử lý CTRYTNH. 24
Hình 1.5. Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 25
Hình 2.1. Giao diện bảng nhập liệu trong Epidata 40
Hình 2.2. Đánh giá số liệu bằng SPSS Data Editor 41
Hình 2.3. Nơi lưu giữ chất thải tại BVĐK huyện Tứ Kỳ 54
Hình 2.4. Lò đốt rác tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh 56
Hình 2.5: Phân bố thâm niên công tác của NVYT tại 22 BV 59
Hình 2.6: Phân bố công việc chính của VSV tại 22 Bệnh viện 60
Hình 2.7. Dự báo gia tăng khối lượng CTRYTNH đến năm 2025 tại Hải Dương. . 70
Hình 3.1: Thùng chứa rác tại các khoa phòng 83
Hình 3.2: Thùng đựng vật sắc nhọn trong bệnh viện 84
Hình 3.3: Sơ họa mô hình đề xuất nhà lưu giữ rác của bệnh viện 85
Hình 3.4: Mô hình đề xuất quản lý chất thải bệnh viện 86
Hình 3.5: Mô hình đề xuất quản lý chất thải tại các trạm y tế xã, phường 88
Hình 3.6: Sơ đồ của hệ thống xử lý rác bằng vi sóng. 94
Hình 3.7. Hệ thống xử lý vi sóng SANITEC 95 DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
BV Bệnh viện
Bên cạnh những mặt đã đạt được, công tác quản lý chất thải của các cơ sở y
tế vẫn còn nhiều tồn tại. Nhiều bệnh viện chưa phân loại đúng chất thải, phương
tiện phân loại thu gom chất thải rắn không đạt tiêu chuẩn, nhận thức của nhân viên
trong việc thu gom, phân loại chất thải ngay từ ban đầu còn nhiều hạn chế Đặc
biệt công tác xử lý chất thải rắn tại các đơn vị y tế còn quá nhiều bất cập do nhiều
nguyên nhân như: Không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, hoặc có nhưng
không chuyên dụng, cũ, không có khu vực xử lý đạt tiêu chuẩn, không có kinh phí
xây dựng, vận hành hệ thống… điều này dẫn đến nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng
ngày điều trị, tăng tỷ lệ biến chứng, tỷ lệ tử vong, tăng chi phí điều trị, làm giảm uy
tín của bệnh viện và gây ảnh hưởng tới sức khỏe cho cộng đồng, nhất là những
người tiếp xúc trực tiếp với chất thải. Đồng thời nó cũng gây ô nhiễm đối với môi
trường (đất, nước và không khí), sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái.
Nhận thức được những thách thức trong công tác QLCTYT nguy hại tại các
cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương và sự phát triển, đảm bảo đời sống sức khoẻ
cho cộng đồng xã hội, do đó đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất
thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý" nhằm đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế
nguy hại và đề xuất giải pháp quản lý đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tỉnh
Hải Dương.
2
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Đánh giá được hiện trạng công tác quản lý chất thải rẳn y tế nguy hại trên địa
bàn tỉnh Hải Dương.
Đề xuất được giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất
thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Chất thải rắn y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi
trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có
các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [8].
Chất thải nguy hại: Là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ
nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác [12].
Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có chứa một trong các thành phần như:
máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm
kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong
chất thải y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho
môi trường và sức khỏe con người [8].
Như vậy không phải toàn bộ chất thải y tế đều là chất thải nguy hại, do đó
cần có những giải pháp phù hợp để xử lý chất thải y tế có hiệu quả nhất
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
Theo Quyết định số 43/2007/ QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc
ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học,
sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5
nhóm sau:
a. Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,
4
lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn
khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly .
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; nhau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm [8].
b. Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
TT
Mã
CTNH
[2]
Tên chất
thải [2]
Tính chất nguy hại [2]
Trạng
thái tồn
tại [2]
Ngưỡ
ng
CTNH
[2]
1.
13 01 01
Chất thải
lây nhiễm
(bao gồm
cả chất
thải sắc
nhọn)
Lây nhiễm (LN)
Rắn/lỏng **
2.
13 01 02
[2]
3.
13 01 03
Dược
phẩm gây
độc tế
bào
(cytotoxic
và
cytostatic)
thải
Độc (Đ)
Rắn/lỏng **
4.
13 01 04
Chất hàn
răng
almagam
thải
Độc (Đ)
Rắn **
5.
13 03 01
Các bình
chứa áp
suất chưa
bảo đảm
CTNH thì phải phân định luôn là CTNH.
7
- **: Là CTNH trong mọi trường hợp: Không cần áp dụng ngưỡng CTNH
mà xác định luôn là CTNH.
Qua bảng phân loại chất thải y tế nguy hại cho thấy: 5/6 danh mục chất thải y
tế nguy hại luôn là chất thải nguy hại trong mọi trường hợp mà không cần phân tích
áp dụng ngưỡng chất thải nguy hại.
1.1.4. Thành phần chất thải y tế:
CTRYT mang những đặc điểm đặc thù riêng. Đa số là các chất thải sinh học
độc hại. Các loại chất thải này nếu không được phân loại với các loại chất thải sinh
hoạt khác sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Do đó cần có những biện pháp thu
gom, xử lý riêng cho chúng.
Thành phần chủ yếu của CTRYT là các chất hữ cơ có độ ẩm tương đối cao,
ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công
nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí thải độc hại.
Rác hữu cơ
54%
Kim loại, vỏ hộp 1%
Đất đá và các loại vật
rắn khác 22%
,Thủy tinh, ống tiêm
chai lọ thuốc, bơm kim
tiêm nhựa 3%
Bông băng,
bột bó gãy
xương 9%
Chai, túi nhựa các loại
10%
Bệnh phẩm 1%
tuyến huyện có hệ số phát thải CTRYT dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng
như tỷ lệ chất thải nguy hại.
Tại các bệnh viện đa khoa thì tổng lượng phát thải tại các khoa có tính đặc
thù riêng.
Bảng 1.3: Khối lượng chất thải rắn phát sinh ở các khoa (kg/ngày/người)
Tuyến bệnh
viện
Khoa
Bệnh viện TW Bệnh viện tỉnh Bệnh viện
huyện
Tổng
lượng
chất
thải
Chất
thải y tế
nguy
hại
Tổng
lượng
chất
thải
Chất
thải
y tế
nguy
hại
Tổng
0,73
0,87
0,21
0,73
0,17
Khoa phụ sản
0,82
0,74
0,95
0,22
0,74
0,17
Khoa Mắt - Tai mũi
họng - Răng hàm mặt
0,66 0,34 0,68 0,1 0,34 0,08
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia
2011 – Chất thải rắn, Hà Nội [1].
9
1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI ĐẾN MÔI
TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG
1.2.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế nguy hại đến môi trường
a. Ảnh hưởng đối với môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh
viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh và kim loại nặng, trong đó phần
lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang. Đối với
một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải môi trường mà không xử lý có thể gây
nhiễm độc nguồn nước cấp. Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví
dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ
gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD, vi khuẩn gây bệnh.
- Bệnh nhân
- Người nhà và khách thăm nuôi bệnh nhân.
- Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển rác, giặt là;
- Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác hoặc lò
đốt), bao gồm cả những người nhặt rác.
Vận hành và bảo dưỡng kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí thải chứa nhiều
chất ô nhiễm như các kim loại nặng (chì, thủy ngân, cat-min), bụi, axid HCl, SO
2
,
CO, NO
x
và cả dioxin/furan. Hai khảo sát do Viện Y học lao động và vệ sinh môi
trường thực hiện năm 2003 và 2008 thấy rằng nồng độ dioxin trong khí thải lò đốt
rác y tế cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép, và hầu hết các lò đốt đang thải ra
khói đen gây ô nhiễm không khí trong quá trình vận hành. Tiêu hủy an toàn tro lò
đốt cũng là một vấn đề bởi vì các chất gây ô nhiễm trong tro có thể gây ra ô nhiễm
đất và nguồn nước
.
b. Nguy cơ của chất thải lây nhiễm
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể thông
qua nhiều đường: qua vết thương, vết cắt trên da; qua niêm mạc; qua đường hô hấp;
11
qua đường tiêu hóa. Sự xuất hiện của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh và kháng hóa
chất khử khuẩn có thể liên quan đến thực trạng QLCTYT không an toàn. Vật sắc nhọn
không chỉ gây ra vết thương trên da, mà còn gây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị
nhiễm bẫn. Thương tích do vật sắc nhọn là tai nạn thường gặp nhất trong cơ sở y tế.
Một khảo sát của Viện Y học lao động và môi trường năm 2006 cho thấy 35% số nhân
viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng qua, và 70% trong số họ bị
thương tích do vật sắc nhọn trong sự nghiệp. Tổn thương do vật sắc nhọn có khả năng
1.3. TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI TẠI VIỆT
NAM
1.3.1. Tổng quan chung
Hệ thống bệnh viện Việt Nam được sắp xếp trên cơ sở phân bố rộng khắp,
thuận tiện cho khả năng tiếp cận rộng rãi của các bộ phận dân số khác nhau trong
toàn xã hội. Hệ thống bệnh viện hiện nay phần lớn là các bệnh viện do Nhà nước
quản lý. Tính đến cuối năm 2011, cả nước có 1.162 bệnh viện, chưa kể các bệnh
viện quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý [6].
Bảng 1.4. Tổng số bệnh viện và giường bệnh (năm 2011)
Tuyến bệnh viện
Tổng số Bệnh viện Tổng số giường bệnh
Số lượng % Số lượng %
Bệnh viện tuyến trung ương 39 3,4 20,924 11.3
Bệnh viện tuyến tỉnh 382 32,9 92,857 50.1
Bệnh viện tuyến huyện 561 48,3 57,048 30.8
Bệnh viên ngành 48 4,1 7,572 4.1
Bệnh viện tư nhân 132 11,4 6,941 3.7
Tổng 1162 100 185,342 100
Nguồn: Bộ Y tế (2012), Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2012 – 2020,
Quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm
2030, Hà Nội
13
Các bệnh viện công lập của ngành y tế chiếm chủ yếu, khoảng 87% tổng số
bệnh viện, được chia thành 3 tuyến gồm tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến
huyện. Tuyến trung ương dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Y tế, tuyến tỉnh và tuyến
huyện do Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý. Số lượng bệnh viện
ở 3 tuyến có tỷ lệ tương ứng 1:9:18.
Tổng số giường bệnh của toàn hệ thống bệnh viện năm 2011 là 185.342
giường bệnh, tương ứng với tỷ lệ 21,1 giường bệnh trên 1 vạn dân.
hạng 4 và chưa xếp hạng có 13,8%;
- Bệnh viện Trường đại học: Hạng 2 có 16,6%, Hạng 4 và chưa xếp hạng có
83,4%;
- Bệnh viện tư nhân: 100% xếp hạng 4 và chưa xếp hạng.
Cơ sở hạ tầng bệnh viện, theo tiêu chuẩn của Việt Nam đề ra diện tích sử
dụng bình quân trên một giường bệnh là 50-70 m
2
đối với bệnh viện nội đô và 50-
100 m
2
đối với bệnh viện ngoại thành. Tuy nhiên, trên thực tế tại các thành phố lớn
và bệnh viện trung ương diện tích sàn bình quân chỉ đạt dưới 40 m
2
thậm chí có
bệnh viện chưa đạt mức 20 m
2
như bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh
(12m
2
/giường bệnh), bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình (10m
2
/giường bệnh). Cơ
sở bệnh viện cũng xuống cấp nghiêm trọng, ngay tại thành phố Hà nội trên 60%
bệnh viện bị xuống cấp.
Theo số liệu chung về nhân lực của hệ thống y tế năm 2010, cả nước có
344.876 nhân viên y tế, trong đó số lượng bác sĩ là 55.618 người tương đương với
tỷ lệ 16,1% tổng số nhân viên y tế và tương ứng với tỷ lệ 7,2 bác sĩ/ 1 vạn dân. Nhìn
chung tỷ lệ nhân viên y tế trên vạn dân của Việt Nam cũng được xếp vào nhóm có
tỷ lệ cao trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực như
Thái Lan, Singapore, Malaysia, Phillippines và tương đương với Indonesia.
đối, 10,3 ngày ở tuyến trung ương so với 7,4 ngày ở bệnh viện tuyến tỉnh và 5,7
ngày ở tuyến huyện. Điều này khẳng định rằng bệnh viện ở tuyến càng cao thì tiếp
16
nhận và điều trị người bệnh có mức độ bệnh trầm trọng lớn hơn và cần thời gian
điều trị dài hơn.
Tuy nhiên, khoảng 60-80% tỷ lệ người bệnh đến khám bệnh tại bệnh viện
tuyến trên chỉ cần khám bệnh tại bệnh viện tuyến dưới. Số lượt người bệnh phẫu
thuật chiếm 1/3 tổng số lượt người bệnh điều trị nội trú, nhưng chiếm tới 40% loại
phẫu thuật không thuộc loại đặc biệt và loại I, mà có thể thực hiện được ở tuyến
dưới.
1.3.4. Tổng quan công tác quản lý, xử lý chất thải y tế
Xã hội phát triển, dân số ngày càng tăng, nhu cầu khám chữa bệnh của người
dân không ngừng nâng cao. Để đáp ứng yêu cầu các cơ sở y tế được thành lập nhiều
hơn, các kỹ thuật mới đa số sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế,… là
những nguyên nhân làm gia tăng lượng CTRYTNH ở hầu hết các địa phương. Nhìn
chung việc quản lý CTYT đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa
phương.
Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế
Tại các cơ sở tuyến Trung ương CTYT phát sinh phần lớn được thu gom và
vận chuyển đến các khu vực lưu giữ, sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm
ngay trong các cơ sở hoặc ký hợp đồng với các đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép
hoạt động xử lý.
Tại các địa phương trong quá trình hoạt động các cơ sở y tế đã bộc lộ những
tồn tại trong công tác quản lý rác thải y tế. Sự đầu tư quan tâm đến công tác này còn
chưa cao, đặc biệt là công tác phân loại tại nguồn các chất thải y tế nguy hại.
Mức độ phân loại, thu gom chất thải trong các cơ sở y tế được thể hiện[1]:
- Tuy các loại chất thải y tế đều được đựng trong các thùng chứa, nhưng đa
phần các thùng, túi chứa đều không đáp ứng yêu cầu. Chỉ một số bênh viện đạt
được các tiêu chí đề ra, chủ yếu là các bệnh viện lớn ở trung ương.
Thành
phố
Số
lượng
điều
tra
Dụng cụ thu gom Khu vực lưu trữ chất thải
Xe
tay
Thùng
có
bánh
xe
Khác
Điều hòa,
thông gió
Phòng
chung
Không
có khu
lưu
trữ
Có Không