1
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA
VIỆT NAM & ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.
I. Tổng quan về thị trường chứng khoán
1. Thị trường tài chính:
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị
trường tài chính (TTTC). Như chúng ta đã biết, TTTC là nơi diễn ra sự chuyển
vốn từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn. Trong nền kinh tế thị
trường, sự tồn tại và phát triển của TTTC là tất yếu khách quan.
TTTC được phân loại thành các thị trường bộ phận căn cứ theo nhiều tiêu
thức khác nhau.
Căn cứ theo phương thức huy động vốn: TTTC bao gồm thị trường nợ và
thị trường vốn cổ phần. Thị trường nợ là thị trường mà hàng hóa được mua bán
tại đó là các công cụ nợ. Các công cụ này có thời hạn xác định, có thể là ngắc
hạn, trung hạn hay dài hạn. Thị trường vốn cổ phần là nơi mua bán các cổ
phiếu, giấy xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông.
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, TTTC đươc chia thành thị trường
tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiện tệ là thị trường tài chính trong đó các
công cụ ngắn hạn (có kỳ hạn dưới 1 năm) được mua bán. Thị trường vốn là thị
trường giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn (gồm các công
cụ vay nợ dài hạn và cổ phiếu).
Căn cứ vào tính chất việc phát hành các công cụ tài chính, TTTC được
chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp hay còn
gọi là thị trường phát hành là thị trường trong đó các công cụ tài chính được
mua bán lần đầu tiên. Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công cụ tài
chính sau khi chúng đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thi trường thứ
cấp làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng và tính sinh lợi cao hơn và do đó
2
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trường sơ cấp. Vì vậy, có thể
nói thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp.
2. Thị trường chứng khoán:
Theo loại hàng hoá giao dịch, người ta có thể phân chia TTCK thành thị
trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn xuất. Trong
đó thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hóa được mua bán tại đó là trái
phiếu. Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch, mua bán, trao đổi các giấy tờ xác
nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Thị trường công cụ dẫn xuất là nơi các
chứng khoán phát sinh được mua và bán: như hợp đồng tương lai, hợp đồng
quyền chọn…
Theo quá trình luân chuyển vốn TTCK được phân thành thị trường sơ cấp
và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi mua bán các chứng khoán lần
đầu tiên với giá phát hành. Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi các chứng khoán
nhằm thu lời, giá cả ở thị trường này định giá các công ty.
4
Trên thực tế TTCK được tổ chức theo 2 hình thức: thị trường tập trung
(sở giao dịch) và thị trường phi tập trung (OTC). Tại Sở giao dịch, người bán và
người mua gặp nhau tại một địa điểm nhất định để giao dịch dưới sự quản lí
chặt chẽ của Uỷ ban chứng khoán quốc gia. Tại thị trường OTC, không có địa
điểm chính thức chủ yếu thông qua điện thoại hoặc mạng nhưng khối lượng
giao dịch lớn hơn nhiều so với Sở giao dịch.
b. Các chủ thể tham gia TTCK:
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK được chia làm ba nhóm chính:
chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán – hành hóa của thị
trường chứng khoán. Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các doanh
nghiệp và một số tổ chức khác như: Các Quỹ đầu tư, tổ chức tài chính trung
gian.
Chủ thể đầu tư là những người có tiền, là các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp đầu tư mua bán chứng khoán với mục đích kiếm lời.
Các tổ chức có liên quan bao gồm tổ chức giám sát- quản lí, tổ chức lưu
kí CK, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, các công ty đánh giá độ tín
nhiệm.
TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong
tương lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước chu kỳ kinh
doanh cho phép Chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng
như việc phân bổ các nguồn lực của họ. TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc
nền kinh tế.
*Vai trò tiêu cực:
Ngoài những tác động tích cực trên đây, TTCK cũng có những tác động
tiêu cực nhất định. TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo. Song ở các
thị trường mới nổi, thông tin được chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ
và không giống nhau. Việc quyết định giá cả, mua bán chứng khoán của các nhà
6
đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và sử lí thông tin. Như vậy, giá cả chứng
khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và không trở thàng cơ
sở để phân phối một cách có hiệu quả nguồn lực.
Một số tiêu cực khác của TTCK như hiện tượng đầu cơ, hiện tượng xung
đột quyền lực làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc mua
bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư và như vậy, sẽ
tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư. Nhiệm vụ của các nhà quản lí thị
trường nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho tính hiệu quả
của thị trường.
Như vậy, vai trò của TTCK được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác
nhau. Song vai trò tích cực hay tiêu cực của TTCK có thực sự được phát huy
hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào chủ thể tham gia thị trường và quản lí của
Nhà nước.
II. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
1. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trên thế giới.
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 15 ở tại thành phố trung tâm buôn bán của
Phương Tây, các thương gia thướng tụ tập ở một số khu như quán cà phê để trao
đổi mua bán các loại hàng hóa như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các chứng
từ có giá. Điểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với nhau bằng lời
đen tối”, một lần nữa đã làm cho thị trường chứng khoán thế giới suy sụp nặng
nề. Cuộc khủng hoảng này để lại hậu quả nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng
năm 1929. Nhưng chỉ sau 2 năm, thị trường chứng khoán thế giới tiếp tục đi vào
hoạt động ổn định, phát triển và trở thành một định chế không thể thiếu trong
đời sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo định hướng
thị trường.
Hiện nay ở các quốc gia trên thế giới, thị trường chứng khoán được hình
thành theo 2 cách: TTCK được hình thành một cách tự phát phù hợp với kinh tế
thị trường; TTCK được hình thành với sự hỗ trợ của Nhà nước. Đối với các
8
quốc gia thuộc khu vực Châu á, TTCK được hình thành một cách có y thức với
sự hỗ thợ ngay từ ban đầu của Nhà nước. Để TTCK được xây dựng ổn định và
tăng trưởng nhanh, Chính phủ của mỗi nước đã có những chủ trương, chính
sách cụ thể và bước đi phù hợp để hình thành các điều kiện về kinh tế, pháp lí,
kỹ thuật, nhân lực một cách đầy đủ và đồng bộ.
Kinh nghiệm của nhiều nước Châu Á cho thấy, việc tạo môi trường pháp
lí đầy đủ và phù hợp là yếu tố rất quan trọng làm cho TTCK có thể duy trì và
phát triển. Nói chung, luật pháp ở các nước này được ban hành từng bước phù
hợp với giai đoạn phát triển của TTCK. Với quan điểm điều hành TTCK rất linh
hoạt, nhà nước Hàn Quốc đã có những thay đổi phù hợp với thực tế để điều
chỉnh trong khuôn khổ pháp lí, nhằm giải quyết được yêu cầu của TTCK, đồng
thời tránh được xu hướng cứng nhắc, bị động… ở Trung quốc, từ năm 1990
chính phủ đã soạn thảo luật và thành lập cơ quan Nhà nước về quản lí TTCK.
Ngoài ra còn đề ra nhiều chính sách khác nhau, tác động trực tiếp đến TTCK
như chính sách tín dụng ưu đãi, tư nhân hóa doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư
nước ngoài…
Về mô hình một số nước châu Á cũng đã thành công trong việc xây dựng
mô hình cho TTCK như Hàn Quốc từ năm 1998 có khoảng 95% khối lượng
giao dịch và thực hiện lệnh ở Sở Giao dịch chứng khoán, đã được tự động hóa.
Sở GDCK Trung quốc cũng được tự động hóa khâu giao dịch và thanh toán. ở
2.1. Các điều kiện khách quan và chủ quan hình thành thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Thị trường chứng khoán có thể ra đời và hoạt động bình thường khi các hội tụ
đủ các điều kiện tất yếu về kinh tế, chính trị, xã hội. Các yếu tố đó ở Việt Nam
được thể hiện như sau:
Về mặt kinh tế: Thứ nhất, Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam vừa tạo điều kiện vừa đặt ra yêu cầu phải xây dựng thị trường chứng
10
khoán. Một loạt các cải cách quan trọng được tiến hành đã từng bước tạo điều
kiện làm xuất hiện thị trường vốn nói chung và TTCK nói riêng như: Việc cổ
phần hoá và chuyển các DNNN sang chế độ hạch toán kinh doanh làm xuất hiện
các yếu tố đầu tiên của TTCK như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu ; Quốc hội đã
thông qua nhiều bộ luật như Hiến pháp 1992, Luật Đất Đai, Luật Đầu tư nước
ngoài,Luật thuế, Luật Doanh nghiệp từng bước pháp lý hoá các quyền về tài
sản tạo điều kiện phát triển đồng bộ các thị trường trong đó có TTCK; quá trình
mở cửa nền kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã đòi hỏi phải hoàn thiện
thị trường vốn, đặc biệt là xây dựng TTCK để đáp ứng yêu cầu lưu động vốn
trong và ngoài nước. Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất tạo điều kiện thúc đẩy sự
ra đời của TTCK VN là nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế 10 năm của thập
niên 1990 luôn ở mức cao, lạm phát được kiềm chế, đó chính là điều kiện tiên
quyết để TTCK vận hành và phát triển tốt. Thứ hai, Quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoáđẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế với nhu cầu vốn khổng lồ của
nó là động lực thúc đẩy TTCK phát triển. Các kênh huy động vốn truyền thống
như Ngân hàng và các tổ chức tín dụng tỏ ra không bao quát hết các yêu cầu về
vốn. Do đó, yêu cầu thúc bách đặt ra là phải có hình thức huy động hấp dẫn các
nhà đầu tư trong và ngoài nước- đó chính là TTCK. Thứ ba, quá trình hình
thành và phát triển công ty cổ phần với tư cách là chủ thể phát hành chứng
khoán ở VN- đây là yếu tố căn bản đề duy trì và phát triển TTCK. Với số lượng
các công ty cổ phần không nhỏ (tính đến thời điểm 31/2/2001, có 1457 công ty
cổ phần) TTCK VN có thể nói đã có cơ sở ban đầu cung cấp hàng hoá cho thị
TTCK. UBCKNN tập trung xây dựng khuôn khổ pháp lý, hệ thống giao dịch
ban đầu cho Trung tâm giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (TTGDCK
Tp.HCM), Đề án thành lập CtyCK, hướng dẫn các doanh nghiệp lập hồ sơ niêm
yết, tổ chức đào tạo cán bộ Ngày 16/2/2000, Chính phủ ban hành Quyết định
số 140/CP-KTTH cho phép UBCKNN triển khai hệ thống giao dịch ban đầu,
đây được coi là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc khởi động thị trường. Đến ngày
12
20/7/2000, TTGDCK Tp.HCM khai trương, đánh dấu sự ra đời của TTCK Việt
Nam, bước đầu đi vào hoạt động chỉ với 4 CtyCK thành viên và 2 công ty niêm
yết (CtyNY) với giá trị cổ phiếu niêm yết là 270 tỷ đồng (tính theo mệnh giá).
Cho đến nay, TTCK Việt Nam đã trải qua 5 năm hoạt động và phát triển.
Theo UBCKNN, số CtyNY hiện nay là 29, tổng giá trị chứng khoán niêm yết
trên thị trường đã đạt gần 31 nghìn tỷ đồng trong đó tổng giá trị cổ phiếu của 29
CtyNY đạt 1700 tỷ đồng ( chiếm trên 6%), còn lại là trái phiếu chính phủ, trái
phiếu địa phương và trái phiếu ngân hàng. Ngoài ra sự xuất hiện của chứng chỉ
quĩ đầu tư với giá trị 300 tỷ đồng đã làm phong phú thêm hàng hoá trên TTCK.
Đáng nói là các CtyNY đã quen dần với cơ chế công bố thông tin và bước đầu
thực hiện nguyên tắc quản trị công ty theo thông lệ tốt nhất.
UBCKNN đã cấp giấy phép hoạt động cho 13 CtyCK, 4 công ty quản lý quỹ
(trong đó có 1 CTyQLQ liên doanh và 2 CtyQLQ thuộc các công ty bảo hiểm
nhân thọ nước ngoài). Các CtyCK đã có mặt tại 4 tỉnh thành phố lớn là Hà Nội,
Hải Phòng, Tp.HCM, Bình Dương và có đại diện nhận lệnh tại nhiều tỉnh, thành
phố khác. Trong thời gian đầu, các CtyCK chủ yếu làm nghiệp vụ môi giới thì
đến nay đã triển khai thêm nghiệp vụ tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý
danh mục đầu tư và tư vấn tài chính với nguồn vốn điều lệ lên tới trên 660 tỷ
đồng.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được chỉ định làm Ngân hàng
Thanh toán, đảm bảo hệ thống thanh toán thống nhất. Bên cạnh đó có 2 ngân
hàng trong nước và 3 ngân hàng nước ngoài được tham gia hoạt động của
TTCK với tư cách là ngân hàng lưu ký với cơ chế lưu ký chứng khoán tập trung
góp phần định hướng thị trường hỗ trợ quản lý vận hành các định chế trung gian
trên TTCK.
- Ngày 17/7/2003, Quyết định 146/2003/QĐ_TTg của Thủ tướng Chính phủ
được ban hành, nâng tỷ lệ nắm giữ tối đa tổng số cổ phiếu niêm yết của tổ chức
phát hành của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30%.
14
- Ngày 5/8/2003 Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt theo Quyết định số
163/2003/QĐ-TTg “Chiến lược phát triển TTCK VN đến năm 2010”.
- Ngày 28/11/2003, Ban hành Nghị định số 144/2003/NĐ-CP thay thế Nghị
định số 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK.
- Ngày 19/2/2004, UBCKNN chuyển vào Bộ Tài chính theo Nghị định
66/2004/NĐ-CP của Chính phủ, giúp việc hoạnh định và ban hành các chính
sách quản lý nhà nước về TTCK sẽ nhanh và hiệu quả hơn.
- Ngày 17/6/2004, Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB-BTC về mô hình tổ
chức và xây dựng TTCKVN, định hướng đến năm 2010, TTGDCK TpHCM sẽ
phát triển thành sở giao dịch chứng khoán còn TTGDCK Hà Nội sẽ thành thị
trường phi tập trung phù hợp với qui mô phát triển của TTCK VN.
- Ngày 7/9/2004, Ban hành Nghị định số 161/2004/NĐ-CP của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK.
- Ngày 14/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 528/QĐ-TTg
về việc phê duyệt danh sách các công ty CPH thực hiện bán đấu giá cổ phần,
niêm yết, đăng ký giao dịch tại các TTGDCKVN. Đây được coi là cơ sở pháp lý
vững chắc giúp các nhà quản lý thị trường trong công tác tạo hàng cho TTCK
VN.
- Thông tin mới nhất là ngày 29/9/2005 vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã kí
Quyết định số 283/2005/QĐ-TTg về việc nới rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài trong doanh nghiệp niêm yết từ 30% lên 49% với hy vọng TTCK sẽ
đón nhận thêm sức cầu mới từ nhà ĐTNN.
Với tình hình bối cảnh còn nhiều khó khăn thì những kết quả nói trên về
hoạt dộng của TTCKVN là đáng khích lệ, góp phần hoàn chỉnh thể chế kinh tế
Đấu thầu và bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ trên 29.000 tỷ đồng
TPCP, trái phiếu quĩ hỗ trợ đã niêm yết trên thị trường.
Từ những số liệu này ta thấy được sự có mặt của TTCK đã có những tác
động tích cực đến sự phát triển của kinh tế bởi nó đã và đang thực hiện vai trò
16
phân phối và tái phân phối vốn. Về phía Chính phủ, với hình thức phát hành trái
phiếu, CP đã tăng nguồn thu ngân sách của mình để đầu tư vào các công trình
phúc lợi, các công trình công cộng là nền tảng để kinh tế phát triển hoặc giải
ngân cho các ngành mũi nhọn ưu tiên phát triển trong chiến lược của NN. Trái
phiếu là một công cụ nợ, một hình thức đi vay mới, huy động được vốn nhàn rỗi
trong dân và các nhà đầu tư nước ngoài. Hình thức này buộc CP phải quan tâm
nhiều hơn tới hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn. Về phía doanh nghiệp, tham
gia TTCK là một cách thức mới để huy động vốn bên cạnh việc đi vay ngân
hàng như trước. Đi vay ngân hàng, doanh nghiệp phải chịu nhiều ràng buộc chặt
chẽ để được vay và phải trả vốn vay gốc và lãi trong một thời hạn nhất định,
thường là ngắn và trung hạn. Thêm vào đó là việc phải giải trình kế hoạch đầu
tư của mình trước khi vay được vốn, khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian và
công sức. Ngược lại, khi tham gia vào TTCK, doanh nghiệp chuyển từ vị trí là
người nợ sang người đồng sở hữu vốn với các cổ đông nên sức ép trả nợ đã
giảm đi, bên cạnh đó doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong việc sử dụng vốn.
Muốn có được uy tín trên TTCK, bản thân các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện
mình và công khai tình hình sử dụng tài chính cũng như các thông tin khác có
liên quan. Việc làm ăn của doanh nghiệp sẽ trở nên minh bạch hơn, đồng vốn
được sử dụng hiệu quả nhất. Tham gia TTCK phần nào tách rời chủ sở hữu và
người quản lý trong doanh nghiệp. Đối với các DNNN, hoạt động của TTCK
góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN và áp dụng những thông lệ tốt
nhất trong quản trị công ty: thực hiện công khai thông tin về hoạt động sản xuất
kinh doanh và quản trị DN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho sự phát triển bền
vững của DN. Hơn nữa khi tham gia TT này DNNN đã giảm được gánh nặng
vốn cho NN bởi đã phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên TT. Từ những thuận lợi
Và có 2 NH trong nước và 3 NH nước ngoài được tham gia vào hoạt động
TTCK với tư cách là NH lưu ký, với cơ chế lưu ký chứng khoán tập trung tại
TT GDCK, tuy công nghệ chưa hiện đại song đã đảm nhận được vai trò đăng ký
sở hữu, chuyển giao chứng khoán an toàn, chính xác qua các phiên giao dịch.
18
Các trung gian tài chính đã làm tốt vai trò môi giới mua bán chứng khoán
trên thị trường tập trung, tích cực tham gia bảo lãnh phát hành và tư vấn cho
công ty trong việc niêm yết và cung cấp thông tin cho nhà đầu tư, thực hiện tốt
thanh toán, bù trừ các giao dịch chứng khoán trên thị trường.
Năm là, Chính phủ cùng Bộ Tài chính thực hiện nhiều điều chỉnh về khung
pháp lý nhằm khuyến khích TTCK phát triển.
Sự kiện đầu tiên phải kể đến là UBCK Nhà nước từ vị trí là cơ quan thuộc
Chính phủ (Nghị định số 75CP ngày 28/11/1996) chuyển sang là cơ quan thuộc
Bộ Tài chính (Nghị định 66/2004/NĐ-CP). Sự kiện này khiến cho việc quản lý,
kiểm soát và phát triển TTCK trở nên có hệ thống hơn, đặc biệt là gắn kết được
TTCK với thị trường tài chính, thị trường tiền tệ.
UBCK Nhà nước với tư cách cơ quan quản lý trực tiếp điều hành TTCK đã
có nhiều nỗ lực trong việc hoạch định chính sách, xây dựng cơ sở vật chất đào
tạo cán bộ và tuyên truyền phổ cập kiến thức ra công chúng: chính sách về thuế,
quản lý ngoại hối, kiểm toán, kế toán…Năm 2004 đánh dấu một bước chuyển
mình mới của TTCK mà một trong những điẻm đáng chú ý là sự bổ sung và
thay đổi một loạt các “luật chơi”. Trước tiên là việc ban hành thông tư hướng
dẫn Nghị định 144/2003/NĐ-CP_khung pháp lý cao nhất và quan trọng nhất về
chứng khoán và TTCK. Tiếp đến là việc ban hành Nghị đinh 187/2004/NĐ-CP
thay thế Nghị định 64/2002/NĐ-CP về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Những thay đổi và bổ sung này góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy TTCK phát
triển.Năm 2005, UBCK Nhà nước đã đề ra chương trình hành động tương đối
cụ thể và thiết thực. Trong đó nổi bật nhất là: rà soát, chỉnh sửa các chế độ,
chính sách để phát triển thị trường, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho thị
trường, tăng chất lượng hàng hóa cho thị trường
tác quản lý TTCK, tổ chức các cuộc gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm với các
chuyên gia cao cấp của các cơ quan có uy tín như: cơ quan phát triển quốc tế
Hoa Kỳ, Ngân hàng phát triển Châu á
3.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân tồn tại hạn chế.
20
TTCK là một kênh huy động vốn hiệu quả, đảm bảo cho hệ thống tài chính
phát triển một cách vững chắc và đầy đủ nhất, góp phần tăng cao tốc độ phát
triển của nền kinh tế. Nhưng nếu TTCK không được phát triển và hoạt động
trong những điều kiện tốt nhất thì ngược lại, nó sẽ làm cản trở sự phát triển kinh
tế và gây xáo trộn trong hệ thống tài chính. Sau 5 năm hoạt động, TTCK Việt
Nam vừa xây dựng vừa hoàn thiện từng bước nên khó tránh khỏi những hạn
chế, vì vậy đóng góp của nó vào GDP còn khiêm tốn, chỉ tương đương 0,6%.
Việc tìm ra giải pháp để khắc phục những hạn chế sau đây đòi hỏi cả thời gian,
công sức của các nhà hoạch định chính sách vĩ mô.
3.2.1 Hệ thống pháp luật còn hạn chế.
Trước hết là cơ chế hoạt động của TTCK chưa thực sự hoàn chỉnh, các văn
bản pháp quy ở mức thấp vì vậy không bao trùm được hết phạm vi hoạt động
của thị trường, việc phân định trách nhiệm quản lý, giám sát hoạt động thị
trường giữa UBCKNN và các tổ chức tự quản chưa rõ ràng. Đảng và Chính phủ
chủ trương phát triển hệ thống thị trường tài chính, trong đó có thị trường vốn,
TTCK; tuy nhiên trong điều hành thực tiễn thì hệ thống thị trường bị chia cắt:
thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước quản lý, thị trường bảo hiểm do Bộ
Tài chính điều hành, TTCK do UBCKNN giám sát. Các Bộ ngành đều xây
dựng chiến lược phát triển của ngành mình, song chưa có sự tổng hợp thống
nhất chiến lược phát triển thị trường tài chính nói chung. Vì vậy, định hướng và
các giải pháp thực hiện thiếu đồng bộ; chưa coi việc phát triển thị trường vốn,
TTCK là khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Thêm vào đó, một nguyên nhân căn bản gây ra sự cản trở cho sự phát triển
TTCK Việt Nam là do những hạn chế trong hệ thống pháp luật và thực hiện
bình. Sự sống còn của TTCK phụ thuộc vào các nhà đầu tư mất niềm tin từ họ
TTCK sẽ còn gì?
Khác với các TTCK của các nước khác, ở Việt Nam còn đưa ra mức giá trần
đối với mỗi loại cổ phiếu đã được niêm yết. Chính vì thế dẫn đến tình trạng
22
“Chợ đen” xuất hiện và giá trên sàn giao dịch thấp hơn giá của chính cổ phiếu
đó ở “chợ đen”.
3.2.3 Về phía các công ty cổ phần tham gia TTCK.
DN hiện nay vẫn còn e ngại khi tham gia vào TTCK một nguyên nhân tưởng
chừng rất “vô lý” nhưng lại hết sức quan trọng là “sức ì” của DN. Việc coi
TTCK là một kênh huy động vốn vẫn là khá mới mẻ khi DN
p�������������������������������
��������������������������������
��������������������������������
��������������������������������
��������������������������������
��������������������������������
��������������������������������
��������������������������������
�hấp nếu “ lên sàn” khác nào “vạch áo cho người xem lưng”. Cuối cùng thủ
tục để các DN có thể lên sàn và được niêm yết khá phức tạp và chặt chẽ, chỉ có
số ít đáp ứng được.
Việc huy động hàng cho TTCK khó khăn, có rất nhiều công ty đã cổ phần
hoá xong nhưng chưa đủ điều kiện để ra nhập thị trường( niêm yết) trên TTCK.
Nguyên nhân do các điều kiện niêm yết “Quá cao” mà doanh nghiệp phải đối
mặt vd mức vốn điều lệ để ra nhập là 10 tỷ đồng trở lên, điều này không phải
doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.
Về minh bạch thông tin, theo đánh giá của World Bank, nếu thang điểm
đánh giá mức độ công khai thông tin qua điều tra về môi trường kinh doanh tại
157 quốc gia là từ 1 đến 6 (càng cao thì càng minh bạch) thì Việt Nam được xếp
Hiện nay hiểu biết về TTCK của người dân còn hạn chế, thiếu xót hoặc
không đầy đủ nên chỉ có một nhóm nhỏ các nhà đầu tư thực sự am hiều, quan
tâm, hứng thú và tham gia thị trường này. Tỷ lệ đầu tư vào chứng khoán còn
quá nhỏ bế, tổng giá trị thị trường mới chiếm khoảng 1,6% GDP.
Hầu hết các nhà đầu tư TTCK ở VN hiện nay chủ yếu là các nhà đầu tư cá
nhân mà thiếu đi các nhà đầu tư có tư cách pháp nhân và do đó không tạo ra một
nền tảng đủ mạnh để làm tăng đáng kể số lượng các công ty được niêm yết và
giá trị luỹ kế của các cổ phiếu lưu hành trên TTCK. Thêm vào đó nhà đầu tư là
cá nhân có xu hướng đầu tư mang tính đầu cơ ngắn hạn và ít quan tâm đến
chiến lược đầu tư dài hạn hơn trên cơ sở những hiểu biết căn bản về hoạt động
kinh doanh của công ty. Điều này giải thích một phần cho sự biến động thường
xuyên của chỉ số VN-Index trong hai năm đầu hoạt động cũng như tình trạng sụt
giảm tiếp theo.
TTCK trong những năm qua chưa thật sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam ở nước ngoài. Nguyên nhân là TTCK còn
nhiều bất cập về hệ thống pháp luật và đặc biệt là vấn đề minh bạch hóa thông
tin.
Nói tóm lại, sau 5 năm đi vào hoạt động, những mặt TTCK Việt Nam đạt
được còn rất khiêm tốn. Chính vì vậy nó chưa phát huy hết vai trò và tác dụng
trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế còn nhỏ bé (tổng giá trị thị
trường tương đương 0,6% GDP). Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng TTCK,
nhóm nghiên cứu sin đưa ra một số giải pháp cơ bản sau.
IV. Giải pháp khắc phục những hạn chế của thị trường chứng khoán.
Nhằm khắc phục những hạn chế của TTCK, nhằm đạt được những mục
tiêu đề ra cho TTCK trong tương lai như phấn đấu đến năm 2010 tổng giá trị TT
chiếm 10-15% GDP, phát triển TTCK Việt Nam theo hướng hiện đại hóa,
chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:
4.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức thị trường
25
TTCK Việt Nam hiện nay hoạt động dưới sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp