Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty Chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay - Pdf 66

Mở đầu
Nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi một khối lợng vốn khổng lồ,
nhất là vốn dài hạn, mà trong giai đoạn hiện nay, thị trờng tài chính mới chỉ đáp
ứng đợc một phần nhỏ nhu cầu về vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.
Xuất phát từ đòi hỏi ấy, thị trờng chứng khoán, với t cách là kênh huy vốn
quan trọng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành một nhu cầu cấp thiết,
khách quan trong điều kiện hiện nay.
Tuy nhiên thị trờng chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải có hàng
hoá cho nó (cổ phiếu, trái phiếu...) và đồng thời phải có các công ty chứng
khoán chuyên mua bán, giao dịch các loại hàng hoá đó.
Công ty chứng khoán sẽ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và của thị trờng chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty
chứng khoán mà một lợng vốn khổng lồ đợc đa vào đầu t từ những nguồn lẻ tẻ
trong công chúng tập hợp lại.
Nh vậy, sự ra đời của các công ty chứng khoán trong giai đoạn hiện nay là
một nhu cầu khách quan. Tuy nhiên để nó đi vào hoạt động có hiệu quả cần tiếp
tục có những điều chỉnh hợp lý.
Đề xuất: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty
chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay" sẽ đa ra những kiến nghị góp
phần vào việc hoàn thiện các công ty chứng khoán và những giải pháp thúc đẩy
hình thành các công ty chứng khoán. Đề tài nghiên cứu những lí luận cơ bản về
công ty chứng khoán từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công ty chứng
khoán về cơ cấu tổ chức; đội ngũ cán bộ, nhân viên; mô hình công ty; hệ thống
tin học trong các công ty chứng khoán, đồng thời đa ra những giải pháp, kiến
nghị nhằm mở rộng và phát triển các công ty chứng khoán.
Nội dung đề tài gồm 3 phần:
1
Chơng I: Vai trò của công ty chứng khoán với hoạt động của thị trờng
chứng khoán.
Chơng II: Thực tiễn hoạt động của các công ty chứng khoán ở Việt Nam
hiện nay.

tháng hoặc 06 tháng).
Quan điểm thứ hai cho rằng: thị trờng vốn và thị trờng chứng khoán chỉ là
các tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: thị trờng t bản.
Ngày nay, ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, thị trờng chứng
khoán đợc quan niệm là một thị trờng có tổ chức và hoạt động có điều kiện, là
nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn giữa
những ngời phát hành chứng khoán và mua chứng khoán hoặc kinh doanh
chứng khoán.
3
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí là trái ngợc nhau, nhng nhìn
chung một thị trờng chứng khoán đợc đặc trng bởi các hoạt động cơ bản sau.
1.1.2. Hoạt động của thị trờng chứng khoán.
Trên thị trờng chứng khoán các hoạt động giao dịch chứng khoán đợc thực
hiện . Xét về mặt hình thức, các hoạt động trao đổi mua bán chuyển nhợng các
chứng khoán là việc thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán; xét về thực chất
đây chính là quá trình vận động t bản ở hình thái tiền tệ, tức là quá trình chuyển
từ t bản sở hữu sang t bản kinh doanh. Các quan hệ mua bán các chứng khoán
trên thị trờng chứng khoán phản ánh sự thay đổi các chủ thể sở hữu về chứng
khoán.
Xét về nội dung, thị trờng vốn thể hiện các quan hệ bản chất bên trong của
quá trình mua bán các chứng khoán. Thị trờng chứng khoán là biểu hiện bên
ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Các thị trờng này không thể phân biệt,
tách rời nhau mà nó là thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và
bên ngoài của thị trờng t bản.
Do đó hoạt động của thị trờng chứng khoán (xét về bản chất) phản ánh quan
hệ trao đổi mua bán quyền sở hữu về t liệu sản xuất, vốn, tiền mặt. Các hoạt
động này đợc thực hiện thông qua các thành viên trên thị trờng chứng khoán.
1.1.3. Các thành viên của thị trờng chứng khoán.
- Ngời đầu t chứng khoán: Là những ngời mua bán chứng khoán gồm có: các
doanh nghiệp, các công ty bảo hiểm, các quỹ hu trí và lực lợng rộng rãi nhất là

hàng đa năng một phần) và công ty chuyên doanh chứng khoán.
Trong mô hình ngân hàng đa năng toàn phần, một ngân hàng có thể tham gia
tất cả các hoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm mà không cần
thông qua những pháp nhân riêng biệt.
5
Khác với mô hình trên, trong mô hình ngân hàng đa năng một phần, một
ngân hàng muốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thông qua
công ty con là pháp nhân riêng biệt.
Với mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh
chứng khoán sẽ do công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng
khoán đảm nhận, các ngân hàng không đợc tham gia kinh doanh chứng khoán.
1.2.1.2. Những nét đặc trng trong tổ chức của các công ty chứng khoán.
Do công ty chứng khoán là một hình thức định chế đặc biệt, có hoạt động
nghiệp vụ đặc thù nên về mặt tổ chức nó có nhiều điểm khác biệt so với các
công ty thông thờng. Các công ty chứng khoán ở các nớc khác nhau, thậm chí
trong cùng một quốc gia cũng có tổ chức rất khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất
công việc của mỗi công ty và mức độ phát triển của thị trờng. Tuy vậy, chúng
vẫn có một số đặc trng cơ bản:
a. Chuyên môn hoá và phân cấp quản lí.
Công ty chứng khoán có trình độ chuyên môn hoá rất cao ở từng phòng ban,
bộ phận, đơn vị kinh doanh nhỏ.
Do chuyên môn hoá cao nên các bộ phận có quyền tự quyết.
Một số bộ phận trong công ty có thể không phụ thuộc lẫn nhau (chẳng hạn
bộ phận môi giới và tự doanh hay bảo lãnh phát hành...)
b. Nhân tố con ngời.
Trong công ty chứng khoán, quan hệ với khác hàng giữ vai trò rất quan trọng,
đòi hỏi nhân tố con ngời phải luôn đợc quan tâm, chú trọng.
Khác với các công ty sản xuất, ở công ty chứng khoán việc thăng tiến cất
nhắc lên vị trí cao hơn nhiều khi không quan trọng. Các chức vụ quản lí hay
giám đốc của công ty nhiều khi có thể nhận đợc ít thù lao hơn so với một số

hơn đối với các nhà đầu t.
7
Về phơng diện huy động vốn, nó đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty
hợp danh. Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lí cũng năng động hơn, không
bị bó hẹp trong một số đối tác nh công ty hợp danh.
Nhờ những u thế đó, hiện nay rất nhiều công ty chứng khoán hoạt động dới
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
c. Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ đông.
Đại hội cổ đông có quyền bầu ra hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ định ra các
chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để
điều hành công ty.
Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiện
quyền lợi của chủ sở hữu đối với các tài sản của công ty.
* Ưu điểm của công ty cổ phần:
+ Nó tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ
đông nghỉ hu hay qua đời.
+ Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu đợc giới hạn ở mức nhất định.
Nếu công ty thua lỗ, phá sản, cổ đông chỉ chịu thiệt hại ở mức vốn đã đóng góp.
+ Quyền sở hữu đợc chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu.
+ Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo hình thức công ty
cổ phần và đợc niêm yết tại sở giao dịch thì coi nh họ đã đợc quảng cáo miễn
phí.
+ Hình thức tổ chức quản lí, chế độ báo cáo và thông tin tốt hơn hai loại hình
hợp danh và trách nhiệm hữu hạn.
Do những u điểm này, ngày nay chủ yếu các công ty chứng khoán tồn tại dới
hình thức công ty cổ phần thậm chí một số nớc (nh Hàn Quốc) còn bắt buộc các
công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần.
8
1.2.3. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán.

Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài khoản
tiền mặt hoặc tài khoản kí quĩ). Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí quĩ còn
tài khoản giao dịch dùng cho các giao dịch thông thờng.
B ớc 2 : Nhận đơn đặt hàng.
Khách hàng ra lệnh mua, bán cho công ty chứng khoán dới nhiều hình thức:
Điện thoại, telex, phiếu lệnh...
Nếu là lệnh bán, công ty chứng khoán sẽ yêu cầu khách hàng xuất trình số
chứng khoán muốn bán trớc khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải kí quĩ
một phần số chứng khoán cần bán theo một tỉ lệ do uỷ ban chứng khoán qui
định.
Nếu là lệnh mua, công ty sẽ đề nghị khách hàng mức tiền kí quĩ nhất định
trên tài khoản kí quĩ của khách hàng tại công ty. Khoản tiền này thờng bằng
40% trị giá mua theo lệnh.
B ớc 3 : Chuyển lệnh tới thị trờng phù hợp để thực hiện.
Trớc đây, ngời đại diện của công ty gửi tất cả lệnh mua, bán của khách hàng
tới bộ phận thực hiện lệnh hoặc phòng kinh doanh giao dịch của công ty. ở đây,
10
Khách hàng
Công ty chứng khoán
(4)
(1)
(2)
(3)
(5)
một ngời th kí sẽ kiểm tra xem chứng khoán đợc mua bán ở thị trờng nào (tập
trung, phi tập trung...). Sau đó, ngời th kí sẽ gửi lệnh đến thị trờng đó để thực
hiện.
Ngày nay, các công ty chứng khoán có mạng lới thông tin trực tiếp từ trụ sở
chính tới phòng giao dịch. Do vậy, các lệnh mua, bán đợc chuyển trực tiếp tới
phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán mà không cần chuyển qua

các hãng lớn cho biết tỉ suất hoa hồng rồi mới công bố tỉ suất của mình.
Thuế giao dịch chứng khoán.
Các công ty chứng khoán phải nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh của
mình. Doanh thu chịu thuế tuỳ thuộc vào các nghiệp vụ mà công ty tiến hành.
Đối với hoạt động môi giới, bảo lãnh, thuế đợc tính trên mức hoa hồng hay
chiết khấu mà công ty chứng khoán nhận đợc. Đối với hoạt động tự doanh thuế
đợc tính trên chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán. Ngoài ra, công
ty chứng khoán còn phải chịu thuế lợi tức trong trờng hợp kinh doanh chứng
khoán có lãi.
Để khuyến khích mọi ngời mua Trái phiếu Chính phủ, các nớc thờng không
đánh thuế các khoản lãi nhận đợc từ đầu t vào Trái phiếu Chính phủ.
1.2.3.2 Nghiệp vụ bảo lãnh.
Bản chất bảo lãnh.
Bảo lãnh phát hành là việc hỗ trợ đơn vị phát hành huy động vốn bằng cách
bán chứng khoán trên thị trờng. Có ba hình thức bảo lãnh phát hành mà thế giới
thờng áp dụng:
Một là, bảo lãnh chắc chắn: công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ số
chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành và sau đó sẽ bán ra
công chúng. Giá mua của công ty bảo lãnh là giá đã đợc ấn định, thờng là thấp
12
hơn giá thị trờng. Giá bán của công ty bảo lãnh là giá thị trờng. Đây là hình
thức công ty bảo lãnh hoạt động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
Hai là, bảo lãnh cố gắng tối đa: là hình thức mà công ty bảo lãnh phát hành
hứa sẽ cố gắng tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công ty phát
hành. Nếu không bán hết, công ty bảo lãnh sẽ trả lại số chứng khoán không bán
đợc cho công ty phát hành. Ngời bảo lãnh đợc hởng số hoa hồng trên số chứng
khoán bán đợc.
Ba là, bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: trờng hợp này đợc áp dụng khi
công ty phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định. Nếu huy động đợc đủ
số vốn đó thì thực hiện phát hành, còn không huy động đủ thì sẽ bị huỷ bỏ. Ví

lúc chào bán...
Đối với trái phiếu, việc định giá đơn giản hơn vì trên thị trờng đã có sẵn lãi
suất chuẩn và yết giá của những ngời mua, bán chứng khoán cho những loại trái
phiếu tơng tự.
+ Ký hợp đồng bảo lãnh.
Sau khi thành lập nghiệp đoàn và tiến hành một số công việc nh phân tích
định giá chứng khoán, chuẩn bị cho đợt phân phối chứng khoán ..., nghiệp đoàn
bảo lãnh sẽ ký một số hợp đồng với công ty phát hành trong đó xác định:
Phơng thức bảo lãnh.
Phơng thức thanh toán.
Khối lợng bảo lãnh phát hành.
+ Đăng kí phát hành chứng khoán.
Sau khi ký hợp đồng bảo lãnh, nghiệp đoàn bảo lãnh phải trình lên cơ quan
quản lý đơn xin đăng kí phát hành cùng một bản cáo bạch thị trờng có đầy đủ
chữ kí của công ty phát hành, công ty luật, công ty bảo lãnh. Bản cáo bạch của
công ty phát hành trình bày tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và kế
14
hoạch sử dụng tiền thu đợc từ việc phát hành nhằm giúp công chúng đánh giá và
đa ra quyết định mua chứng khoán.
+ Phân phối chứng khoán trên cơ sở phiếu đăng kí.
Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết nh phân phát bản cáo bạch và phiếu
đăng kí mua chứng khoán và đợi khi đăng kí phát hành chứng khoán có hiệu
lực, công ty chứng khoán hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh sẽ tiến hành phân phối
chứng khoán.
Phân phối chứng khoán ra công chúng có thể đợc thực hiện dới các hình
thức:
Bán riêng cho các tổ chức đầu t tập thể (nh các quĩ đầu t, quĩ bảo hiểm, quĩ h-
u trí...).
Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu t có quan hệ với
tổ chức phát hành.

hoạt động bình ổn thị trờng (ở Mỹ luật qui định là 60%). Các công ty có nghĩa
vụ mua vào (khi giá chứng khoán giảm) để giữ giá và phải bán ra khi giá chứng
khoán lên để kìm giá chứng khoán.
Ngoài các hoạt động kinh doanh chính: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
hành, công ty chứng khoán còn tiến hành các nghiệp vụ phụ trợ.
1.2.3.4. Các nghiệp vụ phụ trợ.
a. Nghiệp vụ tín dụng.
ở các thị trờng phát triển thì đây là một hoạt động thông dụng. Còn ở những
thị trờng cha phát triển thì hoạt động này bị hạn chế, chỉ các định chế tài chính
đặc biệt mới đợc phép cấp vốn vay. Một số nớc còn qui định không đợc phép
cho vay kí quỹ.
16
Cho vay kí quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho khách
hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật
thế chấp cho khoản vay.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải dàn xếp với ngân
hàng và phải chịu trách nhiệm về khoản vay đó.
Trong tài khoản kí quỹ, tài sản thực của khách hàng chỉ chiếm một tỉ lệ nhất
định (50%-60% tuỳ từng nớc), số còn lại là tiền vay của công ty chứng khoán.
Đến hạn, khách hàng phải trả vốn vay và lãi cho công ty chứng khoán. Nếu
không trả đợc nợ, công ty chứng khoán sẽ bán chứng khoán trên tài sản kí quỹ
để thu hồi khoản vay.
Rủi ro đối với công ty chứng khoán xảy ra khi chứng khoán thế chấp giảm
giá và giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản vay kí quỹ. Vì vậy, công ty
chứng khoán không nên tập trung quá mức vào một khách hàng hay một loại
chứng khoán.
b. T vấn đầu t và t vấn tài chính công ty.
Đây là việc cung cấp các thông tin về đối tợng chứng khoán, thời hạn, các
vấn đề mang tính quy luật của hoạt động đầu t chứng khoán...Nó đòi hỏi nhiều
kiến thức, chuyên môn kỹ năng và yêu cầu vốn không cao. Tính trung thực của

1.2.4. Nguyên tắc đạo đức và tài chính đối với công ty chứng khoán.
1.2.4.1. Nguyên tắc đạo đức.
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ảnh hởng nhiều tới lợi ích
công chúng và biến động của thị trờng tài chính. Vì vậy, luật pháp các nớc qui
định rất chặt chẽ đối với hoạt động của công ty chứng khoán. Nhìn chung có
một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, chỉ đợc tiết lộ
thông tin khi cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cho phép.
18
+ Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không đợc
tiến hành bất cứ hoạt động lừa đảo phi pháp nào.
+ Công ty chứng khoán không đợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài
chính để kinh doanh.
+ Công ty chứng khoán phải tách biệt tài sản của mình với tài sản của khách
hàng và tài sản của khách hàng với nhau; không đợc dùng tài sản của khách
hàng làm vật thế chấp, trừ trờng hợp đợc khách hàng đồng ý bằng văn bản.
+ Công ty chứng khoán khi thực hiện t vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin
cho khách hàng, đảm bảo thông tin chính xác, tin cậy.
+ Công ty chứng khoán không đợc nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các
khoản thù lao thông thờng cho hoạt động dịch vụ của mình.
+ ở nhiều nớc, công ty chứng khoán phải đóng tiền vào quĩ bảo vệ nhà đầu t
chứng khoán để bảo vệ lợi ích cho khách hàng trong trờng hợp công ty chứng
khoán bị mất khả năng thanh toán.
+ Ngoài ra, các nớc còn có qui định chặt chẽ nhằm chống thao túng thị trờng;
cấm mua bán khớp lệnh giả tạo với mục đích tạo ra trạng thái "tích cực bề
ngoài"; cấm đa ra lời đồn đại, xúi dục hoặc lừa đảo trong giao dịch chứng
khoán; cấm giao dịch nội gián sử dụng thông tin nội bộ mua bán chứng khoán
cho chính mình làm thiệt hại tới khách hàng.
1.2.4.2. Nguyên tắc tài chính.
a. Vốn.

* Quản lí hạn mức kinh doanh: hạn mức kinh doanh đợc qui định khác nhau
tuỳ từng quốc gia. Thông thờng nó tuân theo một số qui định sau:
Hạn chế mua sắm tài sản cố định theo tỉ lệ % trên vốn điều lệ.
20
Đặt ra hạn mức đầu t vào mỗi loại chứng khoán.
Qui định hạn mức đầu t vào một số tài sản rủi ro cao.
d. Chế độ báo cáo.
Các thông tin tài chính đợc thể hiện qua các báo cáo. Các báo cáo này, theo
qui định một số nớc, phải nộp cho Uỷ ban chứng khoán (hoặc cơ quan quản lý
tơng đơng) và một tổ chức tự quản làm cơ quan kiểm tra các báo cáo tài chính
thờng niên đã đợc kiểm toán. Báo cáo tài chính đợc kiểm toán bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo lỗ lãi.
- Báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Ngoài báo cáo thờng niên, công ty chứng khoán phải gửi một báo cáo quản lý
toàn diện về tình hình tài chính theo quý nh quy định của Uỷ ban chứng khoán.
Ngoài ra công ty phải gửi báo cáo hàng tháng cho tổ chức tự quản có thẩm
quyền để kiểm tra tình hình tài chính và việc tuân thủ các trách nhiệm tài chính.
Nếu công ty chứng khoán không đáp ứng đợc một số tiêu chuẩn kinh doanh
và tài chính thì có thể phải gửi nhiều báo cáo hơn (báo cáo tuần).
1.2.5. Điều kiện thành lập công ty chứng khoán.
Hoạt động của công ty chứng khoán có ảnh hởng nhiều tới lợi ích của công
chúng nên nó phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Nhìn chung, qui định về
điều kiện thành lập, cấp phép hoạt động cho công ty chứng khoán đợc thể hiện
ở hai khía cạnh sau:
Điều kiện về vốn: Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng
vốn pháp định. Vốn pháp định đợc qui định cụ thể cho từng loại nghiệp vụ. Một
công ty càng tham gia vào nhiều loại hoạt động nghiệp vụ thì yêu cầu về vốn
càng nhiều. Mức vốn qui định cho hoạt động môi giới, t vấn thờng không nhiều.
Trong khi đó, nghiệp vụ tự doanh hay bảo lãnh phát hành đòi hỏi mức vốn pháp

22
hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình đợc áp dụng ở CHLB
Đức, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, các nớc Bắc Âu.
Thứ hai: là mô hình đa năng một phần (đa năng kiểu Anh), đợc áp dụng ở
Anh và một số nớc có quan hệ gần gũi với Anh nh Canada, australia. Ngân
hàng khi tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có t
cách pháp nhân độc lập. Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần của ngân hàng
và thờng không có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng.
Thứ ba: là mô hình chuyên doanh. Nó đợc áp dụng ở nhiều nớc nh Mỹ,
Nhật.v.v. Theo mô hình này các công ty chứng khoán là các công ty chuyên
doanh độc lập. Các ngân hàng không đợc phép tham gia vào kinh doanh chứng
khoán.
Dới đây là mô hình công ty chứng khoán ở một số nớc trên thế giới.
1.3.1. Mô hình Mỹ.
Nét nổi bật của mô hình này là sự tách rời hoạt động của ngành ngân hàng và
ngành chứng khoán. Đạo luật Glass-Steagall chỉ cho phép ngân hàng thơng mại
tiến hành chào bán các loại chứng khoán Chính phủ mới phát hành lần đầu nhng
cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham
gia vào hoạt động môi giới.
Do thị phần các ngân hàng thơng mại giảm xuống, năm 1997 Cục Dự trữ
Liên bang đã áp dụng điều luật 20 của Đạo luật Glass-Steagall cho phép các
công ty mẹ thuộc ngân hàng bảo lãnh phát hành một số chứng khoán nhất
định.Và tới tháng 7/1988 Cục Dự trữ Liên bang tiến hành thí điểm công ty mẹ
thuộc ngân hàng thơng mại J.P Morgan đợc bảo lãnh phát hành trái phiếu công
ty và bảo lãnh phát hành cổ phiếu, dần dần mở rộng cho phép đối với các ngân
hàng thơng mại khác.
Các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán tại Mỹ bao gồm các
ngân hàng đầu t và các công ty môi giới. Việc thành lập các công ty chứng
khoán đợc thực hiện theo chế độ đăng kí. Các công ty môi giới và tự doanh
23

Vốn điều lệ tối thiểu đối với công ty chứng khoán thay đổi tuỳ theo loại hình
kinh doanh mà công ty đó tham gia:
Đối với các công ty không phải là thành viên của Sở giao dịch chứng
khoán:
+ Tokyo hoặc Osaka SE : 300 triệu Yên.
+ Nagoya SE : 150 triệu Yên.
+ Các Sở khác : 100 triệu Yên.
Đối với các công ty không phải là thành viên: 100 triệu Yên.
Đối với công ty bảo lãnh phát hành:
+ Công ty tham gia 3 loại hình môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành: 10 tỷ
Yên.
+ Công ty chuyên bảo lãnh phát hành hoặc là ngời quản lí cho tổ hợp bảo
lãnh phát hành: 3 tỷ Yên.
+ Các loại hình khác: 500 triệu Yên.
Cho tới năm 1972 Nhật Bản mới cho phép công ty chứng khoán nớc ngoài
mở chi nhánh tại Nhật Bản. Theo luật hiện hành, các công ty chứng khoán nớc
ngoài khi mở chi nhánh tại Nhật Bản phải đợc sự cho phép của Bộ tài chính
Nhật.
1.3.3. Mô hình Đức.
Các ngân hàng đa năng đợc tham gia vào tất cả các loại hình kinh doanh
chứng khoán mà không phải chịu sự ràng buộc nào. Các ngân hàng thờng tiến
hành các nghiệp vụ tự doanh và môi giới các chứng khoán đợc phép giao dịch
tại Sở giao dịch chứng khoán. Các thành viên của Sở giao dịch chứng khoán,
ngoài các ngân hàng và tổ chức tín dụng, còn bao gồm những ngời đợc Nhà nớc
25

Trích đoạn Sự tham gia kinh doanh chứng khoán của các tổ chức tín dụng, công Hoạt động lu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán Tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của các công ty chứng Giải pháp hoàn thiện mô hình công ty chứng khoán Giải pháp hoàn thiện nguồn nhân lực trong các công ty chứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status