1
ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ GIÁO KHOA ĐIỆN TỬ TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Việc khai thác, sử dụng các hình ảnh trực quan trong dạy học lịch sử ở nhà trường
phổ thông là một yêu cầu cần thiết trong dạy học bộ môn. Bởi vì kiến thức lịch sử là những
sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, người học không thể trực tiếp quan sát sự kiện, vì vậy trong
giảng dạy để dựng lại bức tranh của lịch sử đòi hỏi giáo viên phải vận dụng nhiều biện pháp
khác nhau như tạo biểu tượng, sơ đồ hoá, trực quan…. Đặc biệt đối với những sự kiện là
một cuộc chiến tranh, một cuộc khởi nghĩa hay một trận đánh thì vấn đề tạo dựng lại bức
tranh thực của sự kiện là một vấn đề khó và giáo viên phải sử dụng đến phương pháp trực
quan trong dạy học, thông thường là khai thác các bản đồ dạy học để có thể truyền đạt đầy
đủ nội dung sự kiện, điều đó cũng có nghĩa là nếu dạy về các cuộc chiến tranh, khởi nghĩa
mà không sử dụng đến bản đồ để trình bày về diễn biến của sự kiện thì hiệu quả tiết học sẽ
không cao, dễ gây cho học sinh sự “nhàm chán”, “hiểu nhầm” sự kiện lịch sử.
Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn không ít giáo viên lên
lớp “chay”, chỉ cung cấp kiến thức bài học mà không chú trọng đến vấn đề khai thác các
tranh, ảnh, bản đồ, đồ dùng dạy học khác. Nguyên nhân của vấn đề trên là do sự hạn chế về
các loại tranh ảnh, các loại bản đồ, đồ dùng dạy học ở các trường học, do nhận thức về vị trí
vai trò của các loại đồ dùng trực quan trong dạy học của giáo viên chưa cao, một phần là ở
“sự nhiệt tình” của người dạy còn hạn chế.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, nhiều
thành tựu mới đã được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, trong đó có ngành giáo dục.
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều chủ trương đẩy mạnh việc ứng dụng
công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy nhằm đổi mới PPDH. Chiến lược phát triển
giáo dục 2001-2010, được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001, nhấn mạnh:
phải “Hiện đại hoá trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành.
Nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục
giả Quách Tuấn Ngọc;
- Sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông của
tác giả Nguyễn Thị Côi, Đoàn Văn Hưng;
- Bài giảng điện tử và quy trình thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học, của tác giả Lê
Công Triêm;
3
- Thiết kế bài giảng lịch sử ở trường THPT với phần mềm Microsoft Powerpoint. Minh Họa
qua thiết kế 01 tiết giảng: "Cuộc tiến công chiến lựơc Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến
dịch lịch sử Điện Biên Phủ" ở lớp 12 của tác giả Đoàn Văn Hưng.
Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT mà cụ thể là sử dụng phầm mềm Powerpoint để xây
dựng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử đến nay vẫn chưa được nghiên cứu. Vì vậy việc
nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử là một
vấn đề vừa có ý nghĩa về lý luận dạy học, vừa có ý nghĩa thực tiễn phục vụ công tác dạy và
học của bộ môn ở trường phổ thông hiện nay.
1.3. Nhiệm vụ của đề tài
- Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trước hết là
nhằm thực hiện chủ trương của Bộ GD-ĐT về việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi
mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học, trong đó có bộ môn lịch sử.
- Một thực tế hiện nay ở các trường phổ thông nói chung, trường THPT Nguyễn Diêu nói
riêng là hệ thống các loại bản đồ để phục vụ giảng dạy bộ môn còn ít, thậm chí một số loại
bản đồ trong sách giáo khoa có trình bày nhưng ở phòng thiết bị của trường không có. Hoặc
chất lượng màu sắc của bản đồ chưa đẹp. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào
việc giải quyết những khó khăn, thiếu hụt về nguồn bản đồ phục vụ trong dạy học, bổ sung
vào nguồn tư liệu giảng dạy bộ môn lịch sử ở nhà trường phổ thông.
- Mặc khác, việc xây dựng hệ thống BĐGKĐT giúp giáo viên, học sinh rèn luyện kỹ năng
thực hành, tự xây dựng đồ dùng để phục vụ dạy học bộ môn, và có thể được xem là một tiêu
chí đánh giá giáo viên về công tác giảng dạy bộ môn.
- Đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo để giáo viên giảng dạy lịch sử tìm hiểu, nghiên
cứu và ứng dụng trong dạy học.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phần I: Mở đầu
- Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Phần III: Kết luận và kiến nghị 5
PHẦN II
NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Những lý luận chung về bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông.
2.1.1. Bản đồ giáo khoa lịch sử là gì?
Trong dạy học lịch sử, yếu tố trực quan sinh động có vai trò khá quan trọng trong
việc khôi phục, tạo dựng lại bức tranh của quá khứ lịch sử vì “hình ảnh được giữ lại đặc
biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bằng trực
quan.” Tính trực quan trong dạy học lịch sử có tính gián tiếp, nhưng việc bảo đảm yếu tố
này là một yêu cầu có tính nguyên tắc, bởi vì nó góp phần tái tạo lại hiện thực của sự kiện
lịch sử mà con người ngày nay không thể trực tiếp quan sát được. Do đó, nhiệm vụ của GV
là phải đảm bảo thực hiện phương pháp trực quan trong dạy học thông qua việc tổ chức,
hướng dẫn HS quan sát những dấu vết của quá khứ (di tích lịch sử, di tích cách mạng, các di
vật trong bảo tàng,…) hay tìm hiểu lịch sử qua các phương tiện trực quan tạo hình (tranh,
ảnh, vật phục chế, phim tư liệu lịch sử ), trực quan qui ước (bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, niên
biểu, bảng so sánh ) và các phương tiện kỹ thuật dạy học khác.
Trực quan sinh động có thể khai thác ở nhiều góc độ khác nhau: hình ảnh, chân dung,
bản đồ các trận đánh, những cuộc khởi nghĩa,… trong đó việc khai thác có hiệu quả các bản
đồ trong dạy học sẽ góp phần thành công của tiết học vì bản đồ là một mô hình thu nhỏ
những diễn biến của sự kiện lịch sử cả về không gian và thời gian.
Vậy Bản đồ giáo khoa là gì?
Theo U.C.Bilích và A.C.Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là những bản đồ
sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các
cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp
biểu tượng (hình ảnh) cụ thể trong óc học sinh. Hình ảnh càng đậm nét, được khắc sâu, thì
việc nhận thức khái niệm càng chắc chắn, bền vững. Do đó, bản đồ lịch sử khi đem lại cho
học sinh những biểu tượng về không gian, hoàn cảnh địa lý của sự kiện lịch sử sẽ làm chỗ
dựa vững chắc cho học sinh dần dần nắm được những nét khái quát, điển hình từ đó làm cơ
sở để hình thành khái niệm lịch sử. Vì vậy bản đồ lịch sử không dừng lại ở nhận thức cảm
tính mà còn ở lĩnh vực tư duy, làm cho học sinh tốn ít thời gian mà thu được hiệu quả trong
việc hiểu biết quá khứ lịch sử.
- Bản đồ lịch sử tham gia tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường
phổ thông. Bản đồ lịch sử là chiếc “cầu nối” giữa hiện thực khách quan quá khứ với những
con người hiện tại, giúp học sinh xích gần lại với quá khứ, làm cho các em hiểu biết và
thông cảm với dĩ vãng, suy nghĩ đúng đắn về công lao của ông cha ta ngày trước, xác định
trách nhiệm của mình đối với hiện tại.
7
- Bản đồ giáo khoa lịch sử thể hiện hoàn cảnh tự nhiên và xã hội xảy ra sự kiện, giúp học
sinh hình thành biểu tượng về không gian và thời gian xảy ra sự kiện lịch sử một cách dễ
dàng. Đọc bản đồ lịch sử các em có thể trả lời một cách chắc chắn sự kiện xảy ra ở đâu?
Vào thời gian nào?
- Bản đồ lịch sử góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy lịch sử. Nhìn trên bản đồ
học sinh nhận rõ sự phân bố nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và thị trường thế
giới. Đó là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh giành giật thị trường, thu mua nguyên
liệu, thuê mướn nhân công rẻ mạt của các nước đế quốc. Bản đồ giáo khoa lịch sử không chỉ
là đồ dùng trực quan minh hoạ, cụ thể hoá sự kiện được trình bày, mà còn dùng để phân
tích, khái quát, giải thích các hiện tượng lịch sử, hình thành các mối liên hệ lịch sử nói
chung và mối liên hệ nhân quả nói riêng.
- Bản đồ giáo khoa lịch sử có khả năng khôi phục quá khứ một cách chân thực. Nó tàng trữ
một khối lượng nội dung kiến thức lịch sử phong phú và đa dạng, giúp thầy và trò giảng dạy
và học tập có kết quả. Bản đồ giáo khoa lịch sử là đồ dùng trực quan không thể thay thế
trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Như vậy việc sử dụng bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử có ý nghĩa lớn trong
việc tái tạo lại sự kiện kiến thức lịch sử cho học sinh, đặc biệt là đối với những kiến thức về
bằng GAĐT ngay trên lớp học, và đây được xem là một tiêu chí để đánh giá, xếp loại thi
đua của giáo viên vào cuối năm học. Chính vì thế mà việc thực hiện đổi mới PPDH với sự
hỗ trợ của CNTT, sử dụng GAĐT (chủ yếu được thiết kế trên phần mềm Powerpoint) của
giáo viên nhà trường ngày có sự chuyển biến tích cực.
Đối với bộ môn Lịch sử của nhà trường, hiện nay có 06 giáo viên tham gia giảng
dạy, hầu hết giáo viên đều có thể ứng dụng phần mềm Powerpoint vào trong việc soạn giảng
bài giảng trên lớp (Bài cung cấp kiến thức mới).
Tuy nhiên việc soạn giảng bằng GAĐT của giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ khai thác
những hiệu ứng thông thường, những chức năng đơn giản của phần mềm để truyền tải nội
dung bài giảng theo một chiều: giáo viên tự thiết kế, trình bày bài giảng trên Powerpoint
theo kiểu “thầy enter, trò chép”… Còn đối với một số tiết học có sử dụng đến bản đồ thì hầu
như giáo viên chưa khai thác được những tiện dụng của phần mềm Powerpoint để thiết kế,
xây dựng BĐGKĐT. Một số giáo viên có cố gắng thì tạo thêm vài mũi tên động nói về diễn
biến sự kiện hoặc khoanh tròn một số địa danh trên bản đồ rồi tạo hiệu ứng lặp lại vài lần để
nhấn mạnh nội dung kiến thức bài học, nhưng lại không thẩm mỹ và thiếu tính khoa học vì
GV vẫn giữ nguyên các kí hiệu của bản đồ giáo khoa mà chưa qua xử lý, thiết kế lại, hoặc
có một số GV Scan bản đồ đưa lên màn hình giống như một ảnh, rồi trình bày diễn biến của
sự kiện lịch sử, điều này đã làm phản tác dụng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, gây
mất hứng thú trong học tập của học sinh đối với bài giảng, học sinh sẽ khó có thể khắc sâu
những trận đánh, những địa danh, sự kiện có liên quan. Nếu có chăng thì chỉ là học thuộc
9
lòng mà không hình dung chính xác được địa danh, sự kiện đó… vì thế cũng không thể phát
triển được năng lực tư duy, thực hành của người học.
Như vậy, trên thực tế việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học lịch
sử nói riêng đã được giáo viên sử dụng ở những mức độ khác nhau trong bài học, còn vấn
đề sử dụng CNTT để xây dựng các BĐGKĐT phục vụ việc dạy học bộ môn thì ít được quan
tâm, hoặc có xây dựng và sử dụng nhưng còn hạn chế về mặt kỹ thuật và những tính năng
của CNTT.
Qua tìm hiểu, chia sẻ với nhau trong quá trình giảng dạy thì nguyên nhân của những
tồn tại trên là do việc xây dựng, thiết kế BĐGKĐT trong dạy học bộ môn liên quan đến
những tỉnh biên giới giáp với Trung Quốc có trong chiến dịch, xác định vị trí của “Hành
lang Đông – Tây” do Pháp-Mĩ thiết lập và địa danh diễn ra những trận đánh lớn trong chiến
dịch.
- “Lược đồ hình thái chiến trường Đông – Xuân 1953-1954”
xác định rõ vị trí, địa danh
của 5 hướng tiến công của quân đội ta trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953-1954, xác định
chiến trường Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống TD Pháp.
- “Lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ 1954”
xác định vị trí, địa hình của Điện
Biên Phủ là một lòng chảo, có sân bay Mường Thanh, cách bố trí các phân khu và cứ điểm
của địch ở Điện Biên Phủ, làm rõ những địa thế hiểm yếu của Điện Biên Phủ.
- “Lược đồ phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam” chủ yếu xác định những địa danh diễn ra
phong trào “Đồng khởi” diễn ra rộng khắp các tỉnh miền Nam.
- “Lược đồ trận Vạn Tường-Quảng Ngãi (8-1965)”
xác định vị trí của thôn Vạn Tường-
Quảng Ngãi, các điểm tấn công của địch ở Vạn Tường.
- “Lược đồ diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975”
phản ánh phạm vi và quy
mô của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây
Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, trên cơ sở sưu tầm ở nhiều nguồn khác nhau, giáo viên có thể khai thác và
xây dựng một số BĐGKĐT khác rất cần thiết để phục vụ việc dạy học bộ môn mà trong
chương trình SGK không trình bày, như Lược đồ Hành trình tìm đường cứu nước của
Nguyễn Ái Quốc; Lược đồ Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của TD Pháp; Lược
đồ diễn biến cách mạng Tháng Tám 1945,…
2.3.2. Đặc điểm của BĐGKĐT trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
Từ những cơ sở lý luận chung về bản đồ giáo khoa lịch sử được trình bày ở nội dung
mục 2.1, chúng ta có thể hiểu BĐGKĐT là những bản đồ được sử dụng trong dạy học lịch
sử, gắn liền với một sự kiện lịch sử nhất định (về không gian và thời gian), đã được chương
trình hoá, số hoá, sơ đồ hoá, tự động hoá và có tính tương thích với sự hỗ trợ của yếu tố
đồng thời trên các loại bản đồ in hoặc vẽ trên giấy).
- BĐGKĐT phải được thiết kế khoa học, dễ sử dụng và tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS
trong việc kết hợp với các phương tiện dạy học khác nhằm tổ chức tốt các hoạt động trên
lớp theo kế hoạch dạy học đã định trước (giáo án).
12
- Ở những trường có điều kiện thuận lợi, nhằm phát huy tính tích cực học tập của người học,
GV yêu cầu HS tìm hiểu trước SGK và tài liệu tham khảo để hướng dẫn các em sử dụng
BĐGKĐT ở trên lớp trước khi lược thuật về những nét chính của diễn biến các sự kiện (các
diễn biến chính thường được thiết kế sẵn theo một trình tự nhất định trên phần mềm nên HS
chỉ cần nhấn phím Enter để trình chiếu kết hợp trình bày).
Ngoài ra, cần tránh những biểu hiện lạm dụng kỹ thuật hoặc đơn giản hoá trong khâu
thiết kế BĐGKĐT khi sử dụng các ứng dụng CNTT (sao chép bản đồ của nước ngoài ở trên
Internet hay scan lại bản đồ trắng đen trong SGK để sử dụng trực tiếp dưới dạng ảnh tĩnh
mà ít chú ý chất lượng hình ảnh và không xử lý cho phù hợp với yêu cầu cụ thể của bài học)
2.3.4. Quy trình xây dựng BĐGKĐT trong dạy học lịch sử
Để đảm bảo về mặt khoa học, có tính sư phạm và đảm bảo sự thống nhất trong việc
xây dựng BĐGKĐT thì cần tuân thủ theo quy trình thiết kế sau:
- Nắm vững mục đích, yêu cầu của tiết học về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh
(điều này đã được xác định trong giáo án lên lớp).
- Dựa vào chương trình sách giáo khoa để xác định bản đồ cần trình bày hoặc sưu tầm qua
Internet, sách báo đối với những bản đồ không có trong sách giáo khoa nhưng rất cần thiết
đối với tiết học.
- Xác định những kiến thức cơ bản của diễn biến sự kiện cần thể hiện trên bản đồ; sưu tầm,
chọn lọc các nguồn tư liệu liên quan đến diễn biến của sự kiện được trình bày trên bản đồ:
văn bản, số liệu, tranh ảnh, phim tư liệu
- Tiến hành xử lý bản đồ từ dạng tĩnh sang dạng động tương ứng với diễn biến của những sự
kiện lịch sử được trình bày trên bản đồ sang dạng kỹ thuật số nhờ vào một số phần mềm hỗ
trợ: ACD.See, Photoshop, Hero
- Dự kiến số slide thích hợp với số lượng đối tượng được lựa chọn để trình diễn trên bản đồ.
Nếu diễn biến sự kiện với nhiều chi tiết, có nhiều tư liệu phim, hình ảnh minh họa thì nên
- Bản đồ thế giới ở dạng bản đồ câm đã được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm: ACDSee,
Hero, công cụ Drawing để trực tiếp vẽ lên Slide về hành trình cứu nước của Nguyễn Ái
Quốc theo kiến thức lịch sử, theo từng giai đoạn gắn với từng điểm đến của Người.
- Một số hình ảnh, đoạn phim ngắn (khoảng 1 phút) để mở rộng kiến thức, hỗ trợ cho bài
học:
+ Hình ảnh Bến cảng Nhà Rồng; Tàu Đô đốc Latouche Tréville, ảnh Nguyễn Ái Quốc phát
biểu tại Đại hội đại biểu lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, bìa sách Bản án chế độ thực dân
Pháp, bìa sách Đường Kách mệnh, tranh vẽ Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam….
+ Một số đoạn phim ngắn (khoảng 1 phút): Bối cảnh đất nước, quê hương và buổi đầu ra đi
tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, phim hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên đất
Pháp 1919, phim hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc,…
14
- Ý tưởng xây dựng và sử dụng các Slide có thể hiện BĐGKĐT trong bài học:
+ Slide 1, phản ánh giai đoạn đầu tiên Nguyễn Ái
Quốc rời bến Cảng Nhà rồng ra đi tìm đường cứu
nước. GV nhấp chuột vào biểu tượng hoa văn chữ
Sài Gòn để chiếu đoạn phim nói về quê hương, gia
đình và hành trình trong buổi đầu ra đi tìm đường
cứu nước của Người (phim được tạo bởi liên kết
Trigger). Đồng thời GV có thể mở rộng kiến thức Slide 1
bài học cho học sinh bằng cách click chuột vào ô Sài Gòn để giới thiệu cho học sinh hình
ảnh con Tàu Đô đốc Latouche Tréville mà Người đã đi (hình ảnh được tạo bởi liên kết
Trigger). Trên bản đồ thế giới bỏ trống, GV sử dụng công cụ Drawing để vẽ đường mũi tên
thể hiện hướng đi của Người từ Sài Gòn sang phương Tây, kết hợp với tạo hiệu ứng động
(chế độ Wipe), và chế độ Zoom để thể hiện những điểm đến của Người.
+ Từ slide 1 GV copy để tạo slide 2, và cũng tương tự như thao tác ở slide 1, GV sử dụng
công cụ Drawing để vẽ lên lược đồ những hướng đi tiếp theo của Người nối tiếp ở slide 1,
kết hợp tạo hiệu ứng động ở chế độ Wipe và chế độ Zoom để thể hiện điểm đến của Người.
Để mở rộng thêm kiến thức, hỗ trợ cho bài giảng, GV nhấp chuột vào biểu tượng hình tròn,
màu đỏ ở điểm Pari để chiếu cho học sinh xem ảnh Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội
những điểm đến của Nguyễn Ái Quốc tại Trung
Quốc (sử dụng hiệu ứng ở chế độ Zoom). Để mở
rộng kiến thức bài học, GV nhấp chuột vào biểu
tượng hình tròn, màu đỏ ở Quảng Châu để giới
thiệu cho học sinh về tác phẩm Đường Kách
mệnh. Nếu có thời gian GV tiếp tục nhấp chuột lần
nữa vào biểu tượng hình tròn, màu đỏ với chữ
Quảng Châu để chiếu cho học sinh xem thước phim về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trên
đất Trung Quốc năm 1925. GV nêu câu hỏi: “Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1921
đến 1925 đã chuẩn bị những nhân tố gì cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?”
+ Tương tự, GV tạo slide 5 bằng cách copy slide 4,
rồi tạo biểu tượng hình tròn, màu đỏ và ghi thời
gian, cho hiệu ứng động với chế độ Zoom thể hiện
những điểm đến của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn
sau 1924 đến 1928 (hoạt động ở Liên Xô, Italia,
Thái Lan) và sự kiện năm 1930, GV tạo biểu tượng tròn, màu đỏ, kết hợp với cờ Đảng, địa
điểm Cửu Long cho hiệu ứng Zoom lặp lại nhiều
lần để thể hiện một nội dung quan trọng của bài học. GV nhấp chuột vào biểu tượng Cửu
Long để chiếu cho học sinh xem ảnh vẽ Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, giúp
học sinh mở rộng kiến thức.
+ Slide 6 trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1935 đến khi về nước
1941, tương tự, GV copy slide 5, rồi sử dụng công cụ Drawing vẽ tiếp hướng đi của Người
từ Liên Xô qua các nước và trở về Việt Nam vào
Slide 4
Slide 5
16
năm 1941. GV sử dụng hiệu ứng Wipe để thể hiện
khác có thể kết hợp đưa vào để làm rõ những nội dung mà bản đồ thể hiện:
Slide 6
17
+ Bản đồ Việt Nam thể hiện: phạm vi diễn ra các Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-
Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh (kết hợp với bản đồ chuyên đề)
+ Các bản đồ chuyên đề phản ánh về các Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng
và Chiến dịch Hồ Chí Minh (Các nội dung trên được thể hiện trên nền bản đồ trống có thể
lấy từ các phần mềm địa lý hoặc sử dụng công cụ Drawing của PowerPoint để trực tiếp vẽ
lên các slide trên cơ sở dựa theo các tài liệu bản đồ có trong SGK hay các tài liệu tham
khảo)
+ Một số hình ảnh về cuộc tiến công giải phóng Phước Long, Buôn Ma Thuột, Huế, Đà
Nẵng, Xuân Lộc, Sài Gòn; hình ảnh về Bộ chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch
Huế-Đà Nẵng, Chiến dịch Hồ Chí Minh; địch tháo chạy ở đường số 7, Sài Gòn…
+ Một vài đoạn phim ngắn (không quá 1 phút) phản ánh về các trận đánh giải phóng Buôn
Ma Thuột, Huế, Sài Gòn và niềm vui của cả nước khi Sài Gòn giải phóng…
- Ý tưởng của việc thiết kế và sử dụng các slide có thể hiện BĐGKĐT
+ Trong slide 1 minh hoạ những nội dung được lần lượt thể hiện trên cùng một slide phản
ánh về diễn biến Chiến dịch Tây Nguyên. Việc kết hợp sử dụng bản đồ tổng hợp và bản đồ
chuyên đề giúp học sinh dễ dàng xác định phạm vi diễn ra của từng chiến dịch, và giúp các
em có cơ sở trả lời câu hỏi “Vì sao ta chọn Tây Nguyên làm điểm mở màn cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Xuân 1975, mà trước hết là Buôn Ma Thuột?” Ở đây, giáo viên sử dụng
chuột cho hiển thị lần lượt các kí hiệu (lá cờ-nơi đặt Bộ chỉ huy chiến dịch, các mũi tiến
công…) phù hợp với việc tường thuật diễn biến của chiến dịch. Nếu thời gian cho phép, GV
có thể kích chuột vào một số điểm có tạo liên kết (bằng Trigger) để trình chiếu những hình
ảnh hay đoạn phim mang nội dung tương ứng giúp cho việc lược thuật của GV cụ thể, sinh
động hơn và giúp HS được mở rộng thông tin, ghi nhớ tốt về sự kiện (chẳng hạn như hình
ảnh về Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên, về cuộc tiến công của ta vào Thị xã Buôn Ma
Thuột) hay cuộc tháo chạy tán loạn của quân đội Sài Gòn trên đường số 7… (Sử dụng công
cụ Drawing để vẽ các ký hiệu cờ, mũi tiến công và tạo hiệu ứng Entrance/Wipe rồi sau đó
+ Tương tự trên slide 3 thể hiện diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh, GV cũng sử dụng kết
hợp bản đồ tổng hợp với bản đồ chuyên đề để yêu cầu HS quan sát và rút ra nhận xét về thế
và lực của quân đội chính quyền Sài Gòn sau khi mất Quân khu 1, Quân khu 2, cũng như
thế và lực của ta và khả năng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam (giải phóng miền
Nam trước mùa mưa năm 1975). Trong quá trình lược thuật về diễn biến chiến dịch, GV có
thể kích chuột vào ký hiệu cờ các quân đoàn của ta để giới thiệu về người chỉ huy và lực
lượng tham chiến của 5 cánh quân giải phóng tiến vào Sài Gòn hay kích vào các ký hiệu
điểm ở Xuân Lộc, Sài Gòn để mở những hình ảnh, đoạn phim tài liệu phản ánh về cuộc tiến
Slide 2 (Chiến dịch Huế - Đà Nẵng)
19
công giải phóng các vị trí quan trọng này, nhất là những hình ảnh sinh động về ngày giải
phóng Sài Gòn 30-4-1975 (kích chuột một lần nữa để đóng các thông tin vừa mở). Trước
khi chiếu đoạn phim, GV yêu cầu HS lưu ý một số nội dung để sau đó trả lời như: thực
trạng của chính quyền Sài Gòn và lực lượng cố vấn Mỹ trong những ngày cuối cùng của
tháng 4-1975?, khí thế của các lực lượng quân giải phóng và sự hưởng ứng của nhân dân Sài
Gòn? (Tổng tiến công và nổi dậy), quang cảnh Sài Gòn giải phóng và tinh thần của nhân
dân cả nước như thế nào?
4. Bản thân chưa lần nào thực hiện bài học có sử dụng
BĐGKĐT
2GV
33,3%
5. Đã thực hiện bài học có sử dụng BĐGKĐT một vài lần 4GV
66.7%
6. Tính thiết thực và khả thi của việc sử dụng BĐGKĐT
trong dạy học bộ môn
5GV
83,3%
7. Thiết kế và sử dụng BĐGKĐT sẽ góp phần cải thiện
tình trạng thiếu đồ dùng dạy học ở nhà trường (bản đồ)
6GV
100%
8. Sử dụng BĐGKĐT trong dạy học bộ môn góp phần
vào việc đổi mới PPDH theo hướng hiện đại
6GV
100%
9. Sử dụng BĐGKĐT trong dạy học bộ môn góp phần
phát huy tính tích cực học tập của học sinh
6GV
100%
Qua bảng thống kê ta thấy hầu hết giáo viên đang tham gia giảng dạy bộ môn lịch sử
đều đã ứng dụng CNTT vào bài giảng, trong số đó có hơn 2/3 số giáo viên dạy lịch sử của
nhà trường bước đầu đã sử dụng BĐGKĐT trong dạy học. Đặc biệt đối với một số GV Lịch
sử sau khi đã được sử dụng BĐGKĐT trong dạy học thì cho rằng các ứng dụng của
Nội dung của BĐGKĐT tích hợp nhiều dạng thông tin phong phú: ký hiệu chữ, đồ
hoạ, hoạt hình, màu sắc, hình ảnh, phim… qua đó, giúp học sinh nhận thức lịch sử một cách
sâu sắc và hứng thú hơn.
Đồng thời việc thiết kế và sử dụng các loại BĐGKĐT trong dạy học bộ môn còn góp
phần bổ sung vào hệ thống danh mục các loại đồ dùng dạy học hiện nay ở nhà trường vẫn
còn thiếu, hoặc không có, nhất là các loại bản đồ.
2.5.2. Đối với học sinh
Để làm cơ sở đánh giá từ phía người tiếp nhận thông tin, trong năm học 2009-2010,
chúng tôi đã tiến hành giảng dạy thực nghiệm ở lớp 12A7 bài học có sử dụng BĐGKĐT và
giảng dạy lớp 12A8 làm lớp đối chứng với bài học chỉ sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường.
Trong năm học 2010-2011, chúng tôi tiến hành giảng dạy thực nghiệm ở lớp 12A1,
12A4 bài học có sử dụng BĐGKĐT và giảng dạy lớp 12A5, 12A9 làm lớp đối chứng với
bài học chỉ sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường.
Sau khi học bài học, chúng tôi đã phát phiếu điều tra về những thông tin liên quan
đến bài học có sử dụng BĐGKĐT so với bài học sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường ở lớp
12A7 (năm học 2009-2010); lớp 12A1 và lớp 12A4 (năm học 2010-2011).
Nội dung phiếu thăm dò dành cho các lớp thực nghiệm có 6 nội dung như nhau để
học sinh so sánh hiệu quả giữa bài học lịch sử được giảng dạy có sử dụng BĐGKĐT (chủ
22
yếu là sử dụng phần mềm Powerpoint) với bài học được giảng dạy theo kiểu truyền thống
với việc sử dụng bản đồ treo tường truyền thống.
Mức độ so sánh được đánh số tăng dần từ 1 đến 3 để HS lựa chọn (số 1 tương ứng
mức yếu hơn; số 2: gần như nhau; số 3: tốt hơn) (nội dung ở bảng 2).
Bảng 2: Thống kê số liệu điều tra HS về việc học tập LS có sử dụng BĐGKĐT
Lớp Sỉ số Mức độ so sánh
Nội dung thăm dò
1 2 3
Năm học 2009-2010
6
(11,3%)
11
(20,8%)
36
(67,9%)
4. Việc phát triển năng lực tư duy, thực hành
của ngư
ời học (Số HS / % )
7
(13,2%)
15
(28,3%)
31
(58,5%)
5. Việc ghi nhớ kiến thức của bài học (Số HS /
%)
4
(7,5%)
10
(18,9%)
39
(73,6%)
(96%)
2.Việc theo dõi bài của ngư
ời học (Số HS / %)
3
(6%)
12
(24%)
35
(70%)
3. Việc nâng cao hiểu biết của người học về sự
ki
ện lịch sử (Số HS / % )
4
(8%)
9
(16%)
37
(74%)
4. Việc phát triển năng lực tư duy, thực hành
của người học (Số HS / % )
01
(2%)
10
(20%)
39
(78%)
5. Việc ghi nhớ kiến thức của bài học (Số HS /
%)
02
(7,4%)
50
(92,6%)
2.Việc theo dõi bài của ngư
ời học (Số HS / %)
6
(11,1%)
15
(27,8%)
33
(61,1%)
3. Việc nâng cao hiểu biết của người học về sự
kiện lịch sử (S
ố HS / % )
7
(13%)
11
(20,4%)
36
(66,6%)
4. Việc phát triển năng lực tư duy, thực hành
của ngư
ời học (Số HS / % )
5
địa danh, các sự kiện thì với bài học có sử dụng BĐGKĐT giúp HS ghi nhớ sự kiện, nắm
tiến trình lịch sử vững chắc và hiểu lịch sử một cách sâu sắc hơn, tránh sự “nhầm lẫn” về
kiến thức nhất là các địa danh, sự kiện của một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa.
Ngoài ra, các nội dung 2, 3, 4 đều có tỷ lệ trên 50%, như vậy cũng có nghĩa là BĐGKĐT
còn có tác dụng tốt trong việc tạo điều kiện cho người học phát huy tính tích cực, chủ động
tham gia xây dựng bài, hoạt động nhóm, qua đó phát triển các năng lực tư duy, thực hành và
hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm đúng đắn đối với LS.
Nhìn chung, đa số HS đều tỏ ra rất hứng thú và có nguyện vọng được học thường xuyên
hơn với những tiết học có sử dụng BĐGKĐT để các em có cơ hội tiếp cập nhiều nguồn
thông tin phong phú, sinh động ngoài SGK và các tài liệu viết khác, đồng thời có điều kiện
thuận lợi để trao đổi, thảo luận, giải quyết các dạng bài tập nhận thức và còn có thể được
trực tiếp trình bày những bài tập nhỏ mà HS (hoặc nhóm) đã chuẩn bị trước trên máy tính.
24
Mặt khác, để đánh giá về hiệu quả giữa giờ học có sử dụng BĐGKĐT với giờ học không
sử dụng BĐGKĐT, sau khi học xong nội dung bài học, chúng tôi đã tiến hành cho học sinh
các lớp làm bài kiểm tra 15’. Các lớp TN và ĐC được chia nhóm như sau:
Nhóm I: lớp 12A7 (TN) và lớp 12A8 (ĐC). (năm học 2009-2010)
Nhóm II: lớp 12A4 (TN) và lớp 12A5 (ĐC). (năm học 2010-2011)
Nhóm III: lớp 12A1 (TN) và lớp 12A9 (ĐC) (năm học 2010-2011)
Nội dung bài kiểm tra ở hai lớp trong cùng một nhóm giống như nhau (xem phần phụ
lục). Qua xử lý số liệu, kết quả cho thấy:
Bảng 3: Thống kê kết quả thực nghiệm về chất lượng dạy học LS có sử dụng BĐGKĐT
Nhóm
Lớp / Số bài Kết quả thực nghiệm
Yếu, kém
(điểm <5)
Tr. Bình
(điểm 5;6)
Khá
Chênh lệch
15,09% 22,64% 28,3% 9,43% II
Đối chứng
54
09
16,67%
28
51,85%
15
27,78%
02
3,70%
Thực nghiệm
54
02
3,70%
19
35,19%
26
48,15%
07
12,96%
Mức
Chênh lệch
12,97% 16,66% 20,37% 9,26%
- Tỉ lệ HS có điểm yếu, kém của lớp TN giảm so với lớp ĐC: 15,09% (nhóm I), 12,97%
(nhóm II), 14% (nhóm III); điểm trung bình cũng giảm 22,64% (nhóm I), 16,66% (nhóm
II), 20% (nhóm III).
Đặc biệt với những câu hỏi mở rộng kiến thức và liên quan đến kỹ năng thực hành thì đa số
học sinh các lớp thực nghiệm (được học với BĐGKĐT) làm tốt hơn so với các lớp đối
chứng (không sử dụng BĐGKĐT)
- Như vậy, xét cả về mặt định tính và định lượng, việc sử dụng BĐGKĐT trong dạy học lịch
sử nhằm đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng bộ môn là khả thi và hiệu quả, đồng thời
những kết quả trên là cơ sở để chứng minh giả thuyết khoa học của đề tài là: Xây dựng và sử
dụng BĐGKĐT sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bộ môn
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.