Tài liệu Đề tài "Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam" doc - Pdf 97


LUẬN VĂN

"Xây dựng một số biện pháp phi
thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam"
Mục lục
Trang
Lời nói đầu 3
Chương I: Lí luận chung về bảo hộ và kinh nghiệm áp dụng
các biện pháp phi thuế quan của một số nước trên thế giới”
I/ Xu hướng toàn cầu hóa 5
II/ Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước 7
III/ Kinh nghiệm áp dụng các biện pháp phi thuế quan
của một số nước trên thế giới
24
Chương II: Đánh giá các biện pháp phi thuế quan của Việt
Nam trong thời gian qua (1996 – 2000)
I/ Thực trạng thương mại và khả năng cạnh tranh của
Việt Nam thời kỳ 1996 – 2000
38
II/ Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu
Việt Nam đã sử dụng
50
III/ Đánh giá tác động của các biện pháp phi thuế quan
Việt Nam đã sử dụng
63
Chương III: Đề xuất các biện pháp phi thuế quan Việt
Nam có thể áp dụng trong thời gian tới
I/ Cơ sở khoa học để duy trì các biện pháp phi thuế quan
trong việc bảo hộ sản xuất.
69

vai trò quan trọng hơn rất nhiều bởi nó giúp cho chúng ta hiểu thêm về
môi trường pháp lí của các quốc gia khác từ đó có thể tìm ra hướng tiếp
cận tối ưu thị trường khu vực và quốc tế. Ngoài ra kinh nghiệm rút ra
trong quá trình nghiên cứu cũng có giá trị không nhỏ đối với quá trình
xây dựng và hoàn thiện hệ thống các công cụ bảo hộ phi thuế để chúng
thực sự hữu ích và phù hợp với các thông lệ quốc tế.
Với đề tài này ngoài việc thống kê, phân loại những biện pháp phi
quan thuế đã được sử dụng trên thế giới, kinh nghiệm áp dụng của một
số nước như Mĩ, Thái Lan và thực tiễn áp dụng của Việt Nam tôi cũng
xin đưa ra một vài ý kiến cá nhân mang tính chất tham khảo đối với vấn
đề xác định các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian
tới.
Do lần đầu tiên thực hiện một công việc nghiên cứu quy mô, đề tài
này không thể tránh khỏi những hạn chế. Kính mong các thầy cô và các
bạn góp ý để cho đề tài được toàn vẹn hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ VÀ KINH NGHIỆM ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
I/ XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA:
Toàn cầu hoá là một xu hướng vận động nổi bật hiện nay trong nền kinh
tế thế giới. Nó lôi cuốn tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ vào một nền
kinh tế toàn cầu thống nhất và duy nhất. Tất cả những quốc gia và vùng lãnh
thổ nào không hội nhập vào quá trình này tất yếu sẽ rơi vào tình trạng tụt
hậu trong phát triển.
Toàn cầu hóa kinh tế được thể hiện rõ nét thông qua hai quá tình chủ yếu
là toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu sản xuất. Toàn cầu hóa thị trường
được thể hiện ở sự loại bỏ dần các quá trình và rào cản chia cắt thị trường để
hình thành một thị trường có tính toàn cầu. Các yếu tố cơ bản như cung cầu,
giá cả được hình thành và vận động thống nhất trên toàn cầu. Toàn cầu hóa

các vấn đề cần phải xử lý, đặc biệt là chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển sang
cơ cấu kinh tế có các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành phát huy
được lợi thế so sánh và các ngành có khả năng cạnh tranh lâu dài trên thị
trường, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và những cải cách về
hệ thống quản lý kinh tế phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa cũng được đề cao.
Nói tóm lại, toàn cầu hóa diễn ra có tính gia tốc. Đây là một quá trình
khách quan và là một xu hướng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới
hiện nay. Việt Nam đang chủ động, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa để thực hiện mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Để đạt
được mục tiêu này, Việt Nam cũng đang tiến hành xây dựng lộ trình phù
hợp, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và tiếp đến là kinh tế toàn cầu.
II/ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ SẢN XUẤT
TRONG NƯỚC:
1.Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước:
1.1. Tính thiết yếu chung của bảo hộ đối với các quốc gia trên thế giới:
Bảo hộ là công cụ phổ biến được chính phủ các nước sử dụng để nâng
đỡ các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp có ảnh
hưởng đến nền kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn
nhân lực và tài chính lớn. Minh hoạ thực tế rõ ràng nhất có thể nhận thấy ở
các nước đang phát triển như các nước châu Mĩ latinh, Asean nơi tồn tại số
lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở
các quốc gia này đều là các doanh nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề cạnh
tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế mà nguyên nhân sâu xa có thể
là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực hoặc thậm chí là yếu
kém trong khâu quản lí Mặc dù vậy việc giải thể các doanh nghiệp này là
vấn đề nan giải bởi hầu hết các doanh nghiệp này thu hút một lực lượng lao
động lớn hoặc được đầu tư những nguồn tài chính không nhỏ. Hậu quả của
việc giải thể có thể là những cú sốc lớn cả về kinh tế và chính trị. Hơn nữa
nguyên nhân chính phủ không giải thể các doanh nghiệp này còn có thể là do
họ vẫn còn đặt niềm tin vào khả năng biến chuyển tình thế của đội ngũ lãnh

châu Âu. Để bảo hộ ngành công nghiệp dệt may vốn là ngành kinh tế thu hút
khá nhiều lao động EU đã đưa ra những thoả thuận về hạn chế xuất khẩu tự
nguyện với các nước khác đặc biệt là các nước có nguồn nguyên liệu phong
phú và lực lượng nhân công rẻ mạt.
Đối với các quốc gia có tiềm lực cả về kinh tế và chính trị các biện pháp
bảo hộ còn có thể được duy trì như một công cụ chính trị để đơn phương
gây sức ép với các quốc gia khác. Mặc dù đây là mục đích hết sức cá biệt
trong một thế giới ngày càng phát triển theo hướng đa cực song trên thế giới
hiện tượng này đã và đang tiếp tục xảy ra. Mĩ là quốc gia lạm dụng công cụ
bảo hộ nhiều nhất vào mục đích này. Trong luật pháp Hoa Kì có những điều
khoản đặc biệt cho phép quốc hội đưa ra những biện pháp thương mại đơn
phương đối với bất cứ quốc gia nào được coi là có thể đe doạ đến vấn đề an
ninh của nước Mĩ.
1.2. Sự cần thiết phải bảo hộ đối với Việt Nam:
Những lí do chủ yếu đối với vấn đề bảo hộ nền kinh tế Việt Nam xuất
phát từ hai yếu tố chủ quan và khách quan trong đó yếu tố chủ quan là thực
trạng nền kinh tế Việt Nam và yếu tố khách quan là bối cảnh chung của nền
kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Theo đánh giá chung thì nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế lạc
hậu, đang chuyển hoá từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường,
các yếu tố của kinh tế thị trường chưa được tạo lập một cách đồng bộ và còn
nhiều khiếm khuyết. Hệ thống các qui phạm pháp luật công cụ quan trọng để
quản lí nhà nước của Việt Nam hiện nay cũng bị đánh giá là thiếu nhất quán
và quá chồng chéo, chưa tạo ra được môi trường pháp lí bình đẳng cho các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Các chính sách tài chính tiền tệ,
xuất nhập khẩu cũng trong tình trạng tương tự. Vì vậy, trong quá trình xây
dựng một môi trường kinh tế giàu tính cạnh tranh và lành mạnh hơn nhà
nước cũng cần có sự nâng đỡ hợp lí đối với các một số lĩnh vực nhất định
để tạo thế đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh đó không thể phủ nhận một thực trạng là các doanh nghiệp

tạo được những lợi thế nhất định trong quá trình bắt kịp nhịp độ phát triển
chung và tạo điều kiện cho chúng ta tranh thủ hoàn thiện các yếu tố còn lại .
Cuối cùng cũng không thể không đề cập đến một lí do ít được đề cập đến đó
là để tạo lập một thế vững chắc trên trường quốc tế bảo hộ cũng là một công
cụ để chúng ta có thể mang ra “mặc cả” để đổi lấy những ưu đãi chính trị
nhất định.
2.Các phương thức bảo hộ sản xuất trong nước:
2.1.Thuế và thuế quan:
Ngoài mục đích chính là thu ngân sách thuế còn là một biện pháp hướng
dẫn tiêu dùng và trong một chừng mực nào đó là một biện pháp hạn chế
nhập khẩu hữu hiệu.Việc đánh thuế nội địa hay thuế quan cao vào một mặt
hàng nhập khẩu sẽ có tác động không nhỏ tới việc thu hẹp cầu trong nước từ
đó dẫn đến hạn chế nhập khẩu những mặt hàng này. Bên cạnh thuế và thuế
quan thì các biện pháp phi thuế cũng là một trong những công cụ hữu hiệu
để bảo hộ sản xuất trong nước. Đây cũng chính là nội dung mà đề tài muốn
đề cập tới.
2.2. Các biện pháp phi thuế:(NTM- non-tarrif measure)
Các biện pháp phi thuế được định nghĩa như tất cả các biện pháp khác
ngoài các biện pháp thuế quan được qui định về mặt pháp lí hay đơn thuần
tồn tại trên thực tế có ảnh hưởng đến mức độ hoặc phương hướng nhập
khẩu. Các biện pháp phi thuế quan có thể mang một hay nhiều thuộc tính
khác nhau như áp dụng ở biên giới hay nội địa, được duy trì một cách chủ
động hay bị động, nhằm mục đích bảo hộ hay không bảo hộ, phù hợp hay
không phù hợp với thông lệ quốc tế
2.2.1.Ưu điểm:
a.Phong phú về hình thức : nhiều biện pháp phi thuế khác nhau có thể đáp
ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng
Các NTM trong thực tế rất phong phú về hình thức nên tác động, khả
năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng. Do đó, nếu
sử dụng NTM để phục vụ một mục tiêu đề ra thì có thể có nhiều sự lựa chọn,

tuân thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan. Chẳng hạn như tiêu
chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán
phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, hỗ trợ nông nghiệp
dạng hộp xanh.
Ngoài ra, vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay
loại bỏ những NTM chưa xác định được sự phù hợp hay không phù hợp với
các quy định của WTO. Những NTM này có thể do WTO chưa có quy định
điều chỉnh hoặc có quy định nhưng rất chung chung và trên thực tế rất khó
có thể xác định được tính phù hợp hay không phù hợp với quy định đó, hoặc
chúng vẫn là một thực tế được thừa nhận chung. Chẳng hạn như yêu cầu đặt
cọc, trả thuế nhập khẩu trước, v.v
2.2.2.Nhược điểm:
a.Không rõ ràng và khó dự đoán
Các NTM trên thực tế thường được vận dụng dựa trên cơ sở dự đoán chủ
quan, thậm chí tuỳ tiện, của nhà chức trách về sản xuất và nhu cầu tiêu thụ
trong nước. Chẳng hạn để xác định hạn ngạch nhập khẩu phân bón trong
năm tới, Chính phủ phải dự kiến được công suất sản xuất trong nước có khả
năng đáp ứng được bao nhiêu phần trăm tổng nhu cầu về phân bón của toàn
ngành nông nghiệp.
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày nay rất phức tạp và thường xuyên biến
động, việc đưa ra một dự đoán tương đối chính xác là rất khó khăn. Nếu dự
đoán không chính xác sẽ có ảnh hưởng xấu đến sản xuất trong nước. Ví dụ
như gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp phân bón khi sản xuất trong
nước vào thời vụ, đẩy giá tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại, dẫn đến tình trạng
cung vượt cầu quá lớn trên thị trường làm giá sụt giảm (sốt lạnh). Điều này
đồng nghĩa với việc các quyết định sản xuất và kinh doanh sẽ chịu rủi ro cao hơn.
Sử dụng NTM cũng thường làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn quyết định của
người sản xuất và người tiêu dùng trong nước, tín hiệu chỉ dẫn việc phân bổ
nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế (chính là giá thị trường), phản ánh không
trung thực lợi thế cạnh tranh thực sự. Do đó, khả năng xây dựng kế hoạch

xuất trong nước hầu như không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho
nhà nước mà thường chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc ngành nhất
định được bảo hộ hoặc được hưởng ưu đãi, đặc quyền, như được phân bổ
hạn ngạch, được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu. Điều này còn dẫn đến sự
bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế.
2.3. Sự kết hợp giữa hai biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước.
Các biện pháp thuế quan và NTM là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan
trọng đối với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, yếu đặc thù
nên chúng thường được sử dụng bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất
trong nước. Mặc dù về lý thuyết, WTO và các định chế thương mại khu vực
thường chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất nhưng
thực tế đã chứng minh rằng các nước không ngừng sử dụng các NTM mới,
vừa đáp ứng mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông lệ quốc tế.
Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không còn phụ thuộc
vào tính linh hoạt có chọn lọc, có định hướng của chính phủ các nước trong
việc áp dụng các NTM bổ trợ cho biện pháp thuế quan. Nếu biết kết hợp hài
hòa và tinh tế hai công cụ này, sản xuất trong nước sẽ được bảo hộ, hỗ trợ có
thời hạn để nâng cao sức cạnh tranh nhằm từng bước thích nghi với các định
chế và nguyên tắc chung của môi trường thương mại quốc tế.
3. Các NTMs được sử dụng để bảo hộ:
3.1. Những căn cứ phân loại
3.1.1. Bảo hộ sản xuất trong nước:
Đây là thuộc tính quan trọng nhất của một NTM mà các nhà hoạch định
chính sách cần cân nhắc khi đưa ra quyết định có áp dụng chúng hay không.
Điều này phụ thuộc chủ yếu vào vấn đề phân tích và đánh giá thực trạng
kinh tế trong nước từ đó lựa chọn ngành bảo hộ, thời gian và mức độ bảo hộ.
3.1.2.Phù hợp với qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế:
Khi xây dựng chính sách thương mại nhằm hội nhập vào các tổ chức
thương mại quốc tế cần quan tâm đến những qui định của những tổ chức này
đặc biệt là những biện pháp đã có cam kết cắt giảm. Hiện tại Việt Nam đã

- Hạn ngạch toàn cầu (6210)
1
 Không xác định (6211)
 Xác định đối với các thành phần xuất khẩu (6212)
 Hạn ngạch song phương (6220)
 Hạn ngạch theo mùa (6230)
1
_
Các ch s trong ngo c n l mã s theo th ng kê c a UNCTAD.ữ ố ặ đơ à ố ố ủ
 Hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu (6250)
 Hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá nội địa (6250)
 Hạn ngạch của các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6270)
Ngăn cấm (6300). Bao gồm:
 Cấm hoàn toàn (6310):trừ trường hợp đối với lí do môi trường, sức
khoẻ, thuần phong mĩ tục,an ninh quốc phòng.
 Ngừng cấp giấy phép (6320)
 Cấm theo mùa (6330)
 Cấm tạm thời (6340)
 Đa dạng nhập khẩu (6350)
 Cấm trên cơ sở nguồn gốc (cấm vận) (6360)
 Cấm đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6370)
Các thoả thuận hạn chế xuất khẩu (6600): các hạn chế được đặt ra bởi
nước nhập khẩu nhưng được nước xuất khẩu quản lí.
 Các thoả thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện (6610)
 Các thoả thuận tiếp thị có trật tự (6620)
 Thoả thuận đa dạng (6630)
 Thoả thuận hạn ngạch (6631)
 Thoả thuận tư vấn (6632)
 Thoả thuận hợp tác hành chính (6633)
 Thoả thuận hạn chế xuất khẩu hàng dệt may ngoài MFA(6640)

 Thuế đối với các phương tiện giao thông (2260)
 Thuế và phụ phí đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (2270),
và những loại thuế khác (2280)
Thuế và chi phí nội địa đánh vào nhập khẩu (2300)
 Thuế hàng hoá chung (2310)
 Thuế hàng hoá (2320)
 Thuế và phí tổn đối với hàng hoá thuộc hạng mục sản phẩm nhạy
cảm (2370)
Đánh giá hải quan theo qui định (2400)
Thuế hải quan và các chi phí khác đối với nhập khẩu chọn lọc có được
áp dụng trên cơ sở đánh giá theo qui định về hàng hoá. Biện pháp này được
đưa ra như một phương tiện để tránh gian lận hoặc bảo vệ công nghiệp trong
nước. Đánh giá hải quan theo qui định làm biến đổi thuế theo gía hàng thành
một dạng thuế đặc biệt.
Các biện pháp tượng đương thuế quan khác (2900).
c.Các biện pháp tài chính (4000)
Các biện pháp qui định sự tham gia và chi phí của việc chuyển đổi ngoại
tệ đối với việc nhập khẩu và xác định các điều kiện thanh toán.
Các yêu cầu thanh toán trước (4100)
Thanh toán trước các giá trị giao dịch nhập khẩu trong một thời gian
cho phép trước khi nhập khẩu và\ hoặc thuế nhập khẩu liên quan được yêu
cầu tại thời điểm giao dịch hoặc cấp giấy phép nhập khẩu.
 Yêu cầu giới hạn tiền mặt (4120)
Nghĩa vụ gửi toàn bộ số tiền liên quan đến giá trị giao dịch hoặc một
phần được xác định của số tiền đó trong ngân hàng ngoại thương trước khi
mở thư tín dụng; việc thanh toán có thể được yêu cầu bằng ngoại tệ.
 Tiền gửi có thể trả lại đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm
(4170): Việc gửi lại tiền gửi là chi phí được trả lại khi các thùng hàng hoặc
các sản phẩm đã sử dụng được trả lại hệ thống giao nhận.
Tỷ giá hối đoái đa dạng (4200)

công ty từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến mức độ và thành phần xuất nhập
khẩu.
3.2.2. Nhóm 2 : PH và KBH
Các NTM thuộc nhóm này là các biện pháp hạn chế nhập khẩu dựa
trên những tiêu chuẩn rõ ràng được thừa nhận chung không mang tính chất
bảo hộ.
Các biện pháp kĩ thuật (8000)
Là các biện pháp đề cập đến sản phẩm có đặc trưng liên quan đến vấn đề
kĩ thuật như chất lượng, an toàn, kích cỡ, trong đó bao gồm các điều khoản
hành chính có thể được yêu cầu áp dụng cho một sản phẩm như thuật ngữ, kí
hiệu, thử nghiệm, đóng gói, đóng dấu và các yêu cầu dán nhãn.
Các qui định kĩ thuật (8100)
Các qui định đưa ra các yêu cầu kĩ thuật, trực tiếp hoặc bằng việc đề cập
đến hoặc kết hợp nội dung của việc định rõ kĩ thuật, tiêu chuẩn hoặc mã số
thực hiện để bảo vệ sức khoẻ con người (qui định vệ sinh); bảo vệ sức khoẻ
thực vật (qui định về vệ sinh thực vật); bảo vệ môi trường và bảo vệ cuộc
sống hoang dã; bảo đảm an toàn con người; bảo đảm an ninh quốc gia, ngăn
ngừa các hoạt động gian lận .
 Các yêu cầu đậc trưng của sản phẩm (8110)
 Yêu cầu đánh dấu (8120): các biện pháp xác định thông tin qui
định việc đóng gói hàng hoá phải được thực hiện cho việc vận
chuyển; hải quan (nước xuất xứ, cân nặng, kí hiệu đối với nội dung
nguy hiểm, )
 Yêu cầu nhãn mác (8130): Các biện pháp qui định loại hình kích
cỡ của việc in gói hàng hoặc/ và xác định thông tin nên được cung
cấp cho khách hàng.
 Yêu cầu đóng gói (8140).: Các biện pháp qui định cách thức về
hàng hoá phù hợp với nước nhập khẩu về việc điều khiển thiết bị
hoặc vì các lí do khác và xác định nguyên liệu đóng gói được sử
dụng.

Các NTMs thuộc nhóm này là những biện pháp rất khó xác định được
chúng có phù hợp hay không phù hợp với các qui định của các tổ chức
thương mại quốc tế. Mặt khác chúng có thể đã được qui định song còn khá
chung chung. Có thể chia các NTMs này thành hai nhóm nhỏ sau:
a. Các biện pháp nhằm mục tiêu bảo hộ rõ ràng có tác dụng nhất định
trong từng hoàn cảnh cụ thể, đây là các biện pháp tài chính chưa bị ràng
buộc bởi bất cứ tổ chức nào:
Tiền gửi nhập khẩu trước (4110): Nghĩa vụ gửi trước phần trăm giá trị
của các giao dịch nhập khẩu trong một thời gian cho phép trước khi nhập
khẩu, các khoản tiền gửi này không được tính lãi xuất.
Trả trước thuế hải quan (4130): Thanh toán trước toàn bộ hoặc một phần
không cho phép sinh lãi xuất.
b. Các biện pháp dẫn đến hạn chế nhập khẩu nhưng phát sinh một cách
ngẫu nhiên chứ không do các nhà hoạch định chính sách chủ động vạch ra.
Các biện pháp này có tác động xấu đến thương mại nhưng chưa bị các tổ
chức thương mại yêu cầu loại bỏ.
Các thủ tục đặc biệt (8310): Các thủ tục không rõ ràng liên quan đến
việc quản lí hành chính của bất cứ biện pháp nào được nước nhập khẩu áp
dụng như nghĩa vụ nộp thông tin sản phẩm chi tiết hơn yêu cầu thông
thường trên cơ sở yêu cầu khai hải quan, yêu cầu sử dụng các địa điểm nhập
cảnh cụ thể,
Năng lực yếu kém của hải quan (8320): thể hiện qua khả năng về chuyên
môn trong quá trình kiểm tra hàng hoá, làm thủ tục thông quan.
Tham nhũng (8350): là một trong những yếu tố phát sinh ngoài tầm kiểm
soát của các nhà hoạch định chính sách, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
thương mại cần phải loại bỏ.
Biểu thuế hay thay đổi và thông tin về biểu thuế khó tiếp cận
Các văn bản liên quan đến thương mại không được công bố kịp thời,
công khai
III.KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC NTM CỦA MỘT SỐ NƯỚC:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status