MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 6
5.1. Câu hỏi nghiên cứu 6
5.2. Khung lý thuyết 7
6. Phương pháp nghiên cứu 8
6.1. Phương pháp trưng cầu ý kiến 8
6.1.1. Cách thức xây dựng bảng hỏi 8
6.1.2. Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu 8
6.1.3. Quy trình khảo sát 8
6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu 8
6.3. Phương pháp phân tích tài liệu 9
6.4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 9
Chương 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1. Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng 10
1.1.Cơ sở lý luận 10
1.2.Lý thuyết áp dụng 12
1.2.1 Lý thuyết cơ cấu quỹ thời gian (budget time) 12
1.2.2. Lý thuyết bất bình đẳng giới 16
Bất bình đẳng giới đó là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và
phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận
nguồn lực và sự sử dụng các thành quả xã hội 16
F.Tonnies khi trình bày về bất bình đẳng xã hội cũng đã đề cập đến bất bình
đẳng về giới, ông mô tả các bất bình đẳng xã hội ví dụ giữa nam giới và phụ
nữ, giữa tư sản và công nhân. Phụ nữ và công nhân trở nên khốn khổ trong
1
Danh mục các bảng biểu
Bảng Nội dung Trang
Bảng 2.1
Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia
đình
40
Bảng 2.2
Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia
đình nông thôn và đô thị
42
Bảng 2.3 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian dành cho công việc gia đình
50
Bảng 2.4 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian kiếm thu nhập
60
Bảng 2.5 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian dành cho hoạt động giải trí ngày
thường
63
Bảng 2.6 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách
giới về thời gian dành cho hoạt động giải trí ngày
nghỉ
68
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân thường đảm nhiệm nhiều vị trí và vai
trò khác nhau. Mỗi vị trí, vai trò lại có những yêu cầu, đòi hỏi cá nhân phải đáp
ứng trong khi cơ cấu qũy thời gian không thay đổi chỉ giới hạn trong 24 h/ngày.
và đô thị.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Ý nghĩa lý luận
Đề tài sử dụng lý thuyết nghiên cứu cấu trúc thời gian và lý thuyết bất
bình đẳng giới với mong muốn bằng những thông tin mang tính thực nghiệm sẽ
làm rõ hơn nội dung của những lý thuyết nói trên.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu mong muốn cung cấp những thông tin thực nghiệm về cơ cấu
sử dụng thời gian của vợ và chồng trong gia đình để các nhà hoạch định chính
sách có thể đưa ra những biện pháp thiết thực để giảm sự chênh lệch thời gian
giữa vợ và chồng trong gia đình tạo điều kiện phát triển bình đẳng giữa nam giới
và phụ nữ.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- So sánh cơ cấu quỹ thời gian của vợ chồng trong gia đình nông thôn – đô thị
- Phân tích tác động của các yếu tố cá nhân và yếu tố gia đình đến cơ cấu quỹ
thời gian của vợ và chồng.
5
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia
đình nông thôn và gia đình đô thị.
Khách thể nghiên cứu:
Các cặp vợ chồng ở xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh – Hà Nội và các cặp vợ và
chồng ở phường Khương Trung - Huyện Thanh Xuân – Hà Nội.
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Khoảng cách giới trong cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng như thế
nào?
Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến khoảng cách giới trong sử dụng quỹ
thời gian.
6
6.1. Phương pháp trưng cầu ý kiến
6.1.1. Cách thức xây dựng bảng hỏi
Bảng hỏi được xây dựng dựa trên nội dung nghiên cứu gồm hai phần chính:
Phần 1: Liệt kê tất cả các hoạt động trong một ngày từ 0 – 24 h của vợ và
của chồng. Chúng tôi chia mỗi khoảng thời gian cách nhau 30 phút.
Phần 2: Là các yếu tố thuộc về cá nhân như tuổi, độ tuổi kết hôn, nghề
nghiệp,vị trí công tác, trình độ học vấn và các yếu tố thuộc về hộ gia đình như:
nơi cư trú, số thành viên, số con, các vật dụng trong gia đình v.v để phân tích sự
tác động của các yếu tố tới cơ cấu sử dụng thời gian trong gia đình.
6.1.2. Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
Tổng số mẫu được chọn là 100 người thuộc 50 cặp vợ chồng ở xã Tráng
Việt - Huyện Mê Linh – Hà Nội làm đại diện cho các gia đình ở nông thôn và
100 người thuộc 50 cặp vợ chồng ở phường Khương Trung - Quận Thanh Xuân
– Hà Nội làm đại diện cho các gia đình ở đô thị. Các gia đình trong diện phỏng
vấn phải có đầy đủ cả vợ và chồng thường xuyên có mặt ở nhà, không có ai
trong vợ hoặc chồng đi vắng hoặc đi làm ăn xa. Các gia đình này được chọn một
cách ngẫu nhiên trên địa bàn xã xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh và phường
Khương Trung - Quận Thanh Xuân – Hà Nội.
6.1.3. Quy trình khảo sát
Phương pháp thu thập th ông tin bằng bảng hỏi được tiến hành theo một quy
trình như sau:
- Chúng tôi tiến hành phỏng vấn riêng người chồng và người vợ, ghi lại tất cả
các hoạt động từ 0 – 24 giờ trong một ngày làm việc bình thường và một ngày
nghỉ của người vợ và người chồng.
- Ngày chúng tôi tiến hành phỏng vấn là ngày liền kề ngày các cặp vợ chồng
thực hiện các hoạt động của mình.
- Người trả lời sẽ liệt kê tất cả các hoạt động của mình trong một ngày cụ thể,
khoảng thời gian chúng tôi phân chia cho các hoạt động là 30 phút.
6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
8
Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người phụ nữ dưới chế độ cũ bị ràng buộc khắt
khe với bao tập tục lạc hậu đã làm cho phụ nữ dốt nát, cực khổ, tối tăm. Tâm lý
trọng nam khinh nữ của Nho giáo đã cột chặt người phụ nữ vào gia đình. Hiểu
và thông cảm sâu sắc với phụ nữ, Hồ Chí Minh đã viết: “Dưới chế độ phong
kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội, phụ nữ bị xem khinh
như nô lệ. Ở gia đình họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng” (Hồ Chí Minh,
tập 10, 1996). Vì vậy, cần giải phóng phụ nữ thoát khỏi những xiềng xích trói
buộc họ, đó chính là nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nếu không giải
phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng
phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ được một nửa (Hồ Chí Minh, tập 8,
1989). Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các cấp các ngành nghiêm túc đôn đốc, kiểm tra,
theo dõi việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình. Hồ Chí Minh thường xuyên
nhắc nhở các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải làm tốt công tác vận
động phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền. Nhân dịp nói chuyện với đồng bào,
cán bộ Tỉnh Thái Bình, Hồ Chí Minh khẳng định: Đánh chửi vợ là điều đáng
10
xấu hổ, như thế còn gọi gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là dã
man. Chi bộ Đảng phải giáo dục Đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng
giữa vợ và chồng” (Hồ Chí Minh, tập 10, 1996). Hồ Chí Minh còn chỉ rõ Luật
Hôn nhân và Gia đình là Bộ luật tiến bộ và cách mạng bởi nó có vai trò lớn đối
với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, sự nghiệp xây dựng gia đình mới. “Luật lấy vợ
lấy chồng nhằm giải phóng người phụ nữ, đồng thời tiêu diệt tư tưởng phong
kiến tư sản ở người nam giới”. (Hồ Chí Minh, tập 8,1989). Trước hành động xấu
xa, phạm pháp của tệ nạn đánh vợ, chính quyền địa phương và quần chúng đều
“nhắm mắt làm ngơ”, Hồ Chí Minh đã phê phán nghiên khắc những hành vi sai
trái đó. Người giao trách nhiệm cho các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, các
đoàn thể nhân dân phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và thi hành nghiêm luật
pháp. Người khẳng định “Đảng bộ, chính quyền và đoàn thể quần chúng (trước
hết là phụ nữ và thanh niên) cần phải ra sức tuyên truyền luật Hôn nhân và Gia
đình sâu sắc, rộng hơn nữa và phải chấp hành thật nghiêm chỉnh. Những thói dã
ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng
tư ở gia đình. Điều đó chỉ có thể thực hiện được với nền đại công nghiệp hiện
đại, là nền công nghiệp không những chỉ thu nhận lao động của phụ nữ trên quy
mô lớn, mà cũng nhất thiết đòi hỏi phải có lao động phụ nữ và cũng tiến dần tới
chỗ biến công việc tư nhân trong gia đình thành một ngành sản xuất xã hội.
[1;507]. Áp dụng quan điểm này của Enggel vào đề tài nghiên cứu về mặt
phương pháp luận ở những khía cạnh sau: đó là phụ nữ cần phải dành thời gian
nhiều hơn vào công việc sản xuất đồng thời cần phải giảm bớt thời gian dành
cho công việc gia đình cho họ để phụ nữ có cơ hội học tập, nâng cao tay nghề,
trình độ chuyên môn và có thời gian nghỉ ngơi. Hơn nữa, công việc gia đình cần
phải được lượng hoá, nghĩa là phải coi đó là một loại hình công việc được trả
công để nâng cao vai trò của công việc này trong xã hội và xoá bỏ đi định kiến
cho rằng đó là trách nhiệm của riêng phụ nữ.
1.2. Lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết cơ cấu quỹ thời gian (budget time)
Trong công trình nghiên cứu, Time and Social Theory, nhà xã hội học
Barbara Adam đã chỉ ra những chỉ ra những quan điểm lý thuyết về phân tích
12
cấu trúc quỹ thời gian. Bà cho rằng, phân tích các khía cạnh phức tạp của thời
gian phải là một phần quan trọng của học thuyết xã hội đặc biệt là khi các cá
nhân phải chịu trách nhiệm về hành động của họ trong quá khứ, hiện tại và một
thời gian dài trong tương lai. "Trong cuộc sống hàng ngày thời gian có thể có
nhiều ý nghĩa. Chúng ta có thể có một thời gian thú vị tại một bữa tiệc, có thời
gian cho công việc, có thể lãng phí thời gian do bệnh tật, hay chọn đúng thời
điểm để trồng khoai tây và thậm chí sống vào thời gian vay mượn.Thời gian có
thể là một vòng tuần hoàn hoặc là một đường thẳng, nó có thể được kết hợp với
giờ giấc hoặc nhịp điệu của tự nhiên, hoặc là chuỗi các hoạt động được tổ chức
theo nhịp điệu. Tuy nhiên, thời gian không chỉ là một phạm trù thuộc tự nhiên,
thông qua thời gian chúng ta thấy được chuỗi hoạt động của con người và bộ
mặt xã hội, tiếng nói,vị trí vai trò của cá nhân.
cộng đồng trong một quốc gia hoặc một nhóm xã hội cụ thể là một yếu tố có tính
phương pháp luận trong việc tính toán các các tiêu chuẩn về văn hóa và các công
ty dịch vụ và trường học yều cầu về dân số. Nghiên cứu quỹ thời gian cũng là
một cách để phát triển phương pháp học và phương thức tính toán lực lương lao
động không chỉ đối với đơn vị về vật chất mà còn trong cả đơn vị về thời gian.
Việc phân tích quỹ thời gian được sử dụng để phát triển quy trình năng cao
nguồn lưc lao động hiệu quả và các tổ chức dành cho dịch vụ và giải trí cho
cộng đồng. Các nghiên cứu so sánh việc sử dụng quỹ thời gian của dân cư ở
nông thôn và thành thị giúp giải quyết các vấn đề xã hội trong việc xóa bỏ sự
khác nhau chính giữa thị trấn và làng quê
Về lý thuyết thời gian rỗi, Chris Rojek (2005) đã nhấn mạnh đến những
khái niệm then chốt về loại hình thời gian này. Ông đưa ra một khung khái niệm
rõ ràng nhằm mô tả hoạt động định hình hành vi giải trí thông qua cuộc sống
thực tế, bao hàm quan niệm thực tế về thời gian rỗi như ý nghĩa của sự tự do,
việc lựa chọn, quyền tự quyết và nhấn mạnh vào đặc điểm của nó trong những
tình huống cụ thể. Đồng thời ông giải thích vai trò của các yếu tố giai cấp, giới,
dân tộc và địa vị trong mô hình thời gian rỗi [18]. Các luận cứ về hoạt động
trong thời gian rỗi luôn luôn có quan hệ đến sự phân bố nguồn lực kinh tế, văn
hoá …để xác định rõ cơ cấu chi phối sự lựa chọn và thực hiện các hoạt động giải
14
trí của con người. Theo Iwasaka và cộng sự (2005), chủ đề thời gian rỗi hay giải
trí trong gia đình ngày nay càng thu hút mối quan tâm của các học giả. Các
nghiên cứu về vấn đề giải trí và gia đình thường tập trung nhấn mạnh vai trò
tiềm năng của thời gian rỗi đối với các thành viên gia đình, qua đó thể hiện sự
hài lòng và quan hệ tình cảm lạc quan trong gia đình, trong khi sự quan tâm đến
vai trò giới trong các hoạt động giải trí vẫn còn hạn chế. Để bổ sung vào khía
cạnh này, Iwasaki và cộng sự đã xem xét việc sử dụng thời gian rỗi của phụ nữ
và nam giới trong lĩnh vực quản lý, nhằm tìm hiểu xem vấn đề giới đóng vai trò
như thế nào khi họ sử dụng thời gian rỗi để đối phó với những căng thẳng trong
cuộc sống [21]. Kết luận đưa ra là hoạt động giải trí là một biện pháp quan
Bất bình đẳng giới đó là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam
giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp
cận nguồn lực và sự sử dụng các thành quả xã hội.
F.Tonnies khi trình bày về bất bình đẳng xã hội cũng đã đề cập đến bất
bình đẳng về giới, ông mô tả các bất bình đẳng xã hội ví dụ giữa nam giới và
phụ nữ, giữa tư sản và công nhân. Phụ nữ và công nhân trở nên khốn khổ trong
quá trình văn minh hoá thời hiện đại và điều đó đem lại những hậu quả xã hội
tương ứng [ 6,119]
Bất bình đẳng giới là kết quả của vô số những sự bất bình đẳng về kinh tế,
xã hội, văn hoá và chính trị chồng chéo lên nhau và chúng củng cố lẫn cho nhau.
Chúng khiến cho phụ nữ ít có khả năng tiếp cận đến quyền về tài sản, của cải và
giáo dục và hạn chế khả năng tiếp cận của họ đến thị trường lao động và các lĩnh
vực hoạt động bên ngoài gia đình. Đến lượt nó, điều này lại ngăn cản khả năng
phụ nữ có thể tác động đến các quyết định trong gia đình (WB, 2006: 80 – 81)
Marx Weber lý giải sự bất bình đẳng giới từ góc độ xung đột văn hoá.
Theo ông, ở những nền văn hoá khác nhau thì các hành vi của con người bị chi
phối bởi các hệ giá trị khác nhau. Các ví dụ về phụ nữ đạo Hồi che mặt, bị đối
xử như nô lệ với phụ nữ tự do ở các nước phương Tây và các nước khác là do
sự khác biệt về văn hoá. Chính nguyên nhân văn hoá đã dẫn đến bất bình đẳng
xã hội. Janet Chafetz lại tiếp cận vấn đề giới theo hướng coi nó như là hệ quả
của sự phân tầng về văn hoá mà bà gọi là “văn hoá chéo và diễn dịch lịch sử”.
16
Đưa quan điểm giới vào phân tích những khuôn mẫu xã hội đặc thù cụ thể là bất
bình đẳng giới, bà cho rằng các cấu trúc và điều kiện xã hội đã ảnh hưởng các
cấp độ của phân tầng giới. Đó chính là sự phân biệt vai trò giới, ý thức hệ gia
trưởng, gia đình, tổ chức lao động, khuôn mẫu sinh sản…Người phụ nữ chịu
đựng sự bất lợi ở mức thấp nhất khi họ có thể cân bằng giữa các trách nhiệm nội
trợ với vai trò sản xuất.
Quan điểm của các nhà “nữ quyền Macxit” là phụ nữ không bình đẳng
với nam giới không phải vì bất kỳ xung đột cơ bản và trực tiếp nào về mối quan
Phụ nữ ít đi lại bởi vì họ phải làm các công việc gia đình, chăm sóc con cái.
Việc kiếm ăn của phụ nữ cũng nên ở gần nhà vì họ là người chăm sóc tốt nhất
cho gia đình. Nam giới được tự do hơn và tìm kiếm thức ăn ở xa hơn. Chính sự
khác biệt sinh học giữa nam và nữ đã quyết định phương thức kiếm sống và
hình thức phân công lao động của họ. Như vậy, nam giới nắm giữ vai trò công
cụ (instrumental roles), giao tiếp với bên ngoài và kiếm sống, còn phụ nữ nắm
vai trò biểu cảm (expressive roles), chăm sóc con cái và các công việc nội trợ.
Hai vai trò này bổ sung và bổ trợ cho nhau và được gọi là vai trò giới truyền
thống.
Chúng ta có thể thấy, có khá nhiều quan điểm về lý thuyết của các nhà xã
hội học trong lĩnh vực bất bình đẳng giới nhưng tựu trung lại bất bình đẳng giới
biểu hiện sâu sắc trong việc thực hiện vai trò. Lý thuyết bất bình đẳng giới luôn
cho rằng, người phụ nữ kém cỏi, không thông minh bằng nam giới, chỉ đảm
nhiệm những công việc nội trợ, gia đình, chịu sự thống trị của nam giới trong
gia đình. Người phụ nữ đảm nhiệm nhiều vai trò những lại đạt được những vị trí
không tương xứng so với nam giới. Vì sự ổn định xã hội và tránh sự rối loạn xã
hội, một số nhà xã hội học mong muốn duy trì và ổn định trong việc thực hiện
vai trò giữa nam giới và nữ giới.
Áp dụng lý thuyết vào đề tài: Dựa trên những quan điểm lý thuyết về bất
bình đẳng giới vào đề tài để chúng tôi đưa ra những phân tích, đánh giá sự chênh
lệch thời gian dành cho các hoạt động giữa vợ và chồng trong gia đình. Theo đó
những chỉ báo về cơ cấu quỹ thời gian cho thấy người chồng dành thời gian
nhiều hơn người vợ ở những hoạt động như ngủ, giải trí trong khi các hoạt động
18
như chăm sóc gia đình thì lại ngược lại. Những phân tích lý thuyết về bất bình
đẳng giới trên là cơ sở để chúng ta giải thích về những chỉ báo sử dụng thời gian
cho các hoạt động trên không chỉ là vấn đề thuộc phạm trù sinh học mà là một
biểu hiện về bất bình đẳng giới.
2. Các khái niệm công cụ
2.1. Khoảng cách giới (gender gap)
những đứa trẻ còn phụ thuộc”.
Trong khi đó, sinh học của nam giới thích hợp với vai trò “ công cụ”
trong gia đình, liên quan đến sự hỗ trợ, cung cấp kinh tế và liên hệ với thế giới
bên ngoài gia đình. Nếu một đứa trẻ được phát triển ổn định khi trưởng thành có
khả năng thực hiện điều đó trong xã hội thì theo Parsons – nó phải được xã hội
hóa trong một gia đình mà ở đó những người trưởng thành thực hiện vai trò này.
Một sự phân công lao động trong gia đình, do vậy được xem như là quan trọng
để đảm bảo sự phát triển “bình thường”. Parsons cho rằng chức năng xã hội hóa
của gia đình là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự ổn định xã hội và
không có một thiết chế xã hội nào có thể thực hiện chức năng này tốt như gia
đình. Trong những tác phẩm của các nhà tâm lý học như Bowlby (1953) và
Winnicott (1944) đều tranh luận rằng sự hiện diện vĩnh hằng của một phụ nữ
trong vai trò làm mẹ là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên những thanh
niên ổn định, không lơ là nhiệm vụ, đã ủng hộ cho khái niệm về một sự phân
công lao động trong gia đình và trong xã hội nói chung. Bất cứ một hành động
nào mà đem phụ nữ ra khỏi gia đình và xa con cái của họ đều ngấm ngầm bị lên
án là “phản tự nhiên”.
Các nhà chính trị cũng như các nhà xã hội học có giới thiệu một sự phân
công lao động trong gia đình và trong xã hội như là “tự nhiên” và đáng mong
muốn. Năm 1979, Patrick Jenkin, bộ trưởng thuộc đảng Bảo thủ (Anh) đã phát
biểu trong một trương trình của đài BBC có tên gọi “Man Alive” rằng “Nếu
Thượng đế có ý định cho tất cả chúng ta quyền bình đẳng, bạn biết Thượng đế
sẽ không tạo ra nam giới và phụ nữ… những cái này thuộc về dữ kiện sinh học
của cuộc sống, mà một đứa trẻ phải phụ thuộc vào mẹ của chúng” (Garrentt,
1987:6).
20
Quan điểm cho rằng, bản năng làm mẹ được dựa trên cơ sở sinh học là
một quan điểm được hình thành bởi nhiều “chuyên gia” trong lĩnh vực chăm sóc
trẻ em, như Spork, Leach và Jolly, tất cả họ đều không tán thành về việc phụ nữ
xuất hiện mà lại không ứng xử theo cách đó. Quan điểm này đồng thời cũng là
việc tương ứng. Ví dụ, thời gian làm việc trung bình một ngày của chồng là 8h,
của vợ là 8,5 thì khoảng cách giới ở đây sẽ là 0,5 h.
22
2.2. Vai trò giới
Có những quan điểm khác nhau về vai trò giới ví dụ:
Vai trò giới bao gồm các quyền, những trách nhiệm, những mong đợi và
các quan hệ của phụ nữ và nam giới trong một xã hội cụ thể (Benokraitis và
Feagin, 1995)
Trong từ điển xã hội học của G. Endrweit và G.Trommsdorff (2002) lại sử
dụng khái niệm vai trò giới tính (sexual roles) như sau: khái niệm vai trò giới
tính chỉ những kỳ vọng văn hoá chủ đạo và chuẩn mực xã hội về phương diện
năng lực, đặc điểm nhân cách, thái độ, động cơ và phương thức hành vi đặc
trưng và thích hợp đối với nam giới và nữ giới (2002: 544). Cũng theo tác giả
này, việc tiếp nhận vai trò cá nhân mang bốn thành phần sau:
1. Tự cảm nhận như là nam tính hay nữ tính (sự đồng nhất vai trò giới tính)
2. Quan niệm về phân biệt giới tính trong môi trường xã hội (quan niệm
về vai trò giới tính)
3. Đánh giá và tính ưu việt về các đặc điểm và hoạt động giới tính đặc
trưng (thái độ về vai trò giới tính)
4. Phương thức hành vi có đặc trưng giới tính (hành vi vai trò giới tính)
(2002: 544)
Vai trò giới là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền
văn hoá xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới. Các vai trò giới cơ bản
bao gồm: vai trò sinh sản, vai trò sản xuất và vai trò quản lý cộng đồng. Những
vai trò giới này được học thông quá trình xã hội hoá. Vai trò giới va mối quan hệ
về giới có thể biến đổi qua các thời kỳ xã hội và khác nhau giữa các nền văn
hoá.
Các vai trò giới được định nghĩa là các hành vi và những quan điểm thái
độ được trông đợi trong một xã hội tạo nên với mỗi giới tính. Những vai trò này
bao gồm các quyền và trách nhiệm được chuẩn hoá đối với từng giới tính trong
- Tính chất và mức độ tham gia của nam và nữ không như nhau trong mọi
công việc. Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi
dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người gọi đó là “thiên chức” của phụ nữ thì
24
nam giới không được trông đợi làm việc đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ
mà thôi.
- Công việc của nam giới thường được xem trọng hơn công việc của phụ
nữ. Thật không công bằng nếu như cho rằng, việc sinh đẻ của phụ nữ tạo ra một
sản phẩm cao quý, đó là con người là việc không quan trọng nó là công việc
mang tính bản năng bấy lâu của động vật
- Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ
Vai trò giới hiện nay không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã
hội bất bình đẳng giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá và thể
chế chính trị. Vai trò giới đã và đang có nhều thay đổi, nhưng khi thay đổi người
ta còn chịu ảnh hưởng của các định kiến giới, điều này lý giải vì sao nhiều người
không dám công khai thực hiện thay đổi vai trò giới mặc dù đây là công việc rất
đáng khích lệ.
Việc phân công vai trò giới trong xã hội phụ quyền tạo nên sự bất bình
đẳng trong công việc cũng như lợi ích mà họ được hưởng. Ví dụ, phụ nữ tham
gia 60% công việc nông nghiệp, nam giới tham gia 40% công việc còn lại nhưng
thu nhập bình quân của phụ nữ nông thôn là 62%, còn nam giới lại hưởng 100%
thu nhập. Vai trò giới và gánh nặng 3 vai đặt ra yêu cầu phụ nữ đồng thời phải
thực hiện tốt cả 3 vai trò. Đây thực sự là một gánh nặng quá sức đối với phụ nữ.
Khi nói tới vai trò giới của phụ nữ là muốn đề cập tới những công việc mà phụ
nữ làm vớ tư cách họ là phụ nữ. Chẳng hạn, công việc nội trợ được xem là thích
hợp với phụ nữ hơn nam giới, việc lãnh đạo được coi là thích hợp với nam giới
hơn phụ nữ. Trên thực tế, vai trò giới có thể thay đổi giữa nam và nữ (trừ chức
năng sinh đẻ) [10,25]
Sự thay đổi định kiến, giá trị và vai trò giới có thể xóa bỏ khoảng cách
giới đẹm lại bình đẳng giữa nam và nữ. Ngày nay, quan niệm về vai trò giới đã