PHÂN TÍCH NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN VĂN LANG SO SÁNH VỚI ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN Ở TRUNG QUỐC - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
---------------
BÀI GIỮA KỲ
MÔN: TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ TRUNG ĐẠI
ĐỀ BÀI :
PHÂN TÍCH NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN VĂN
LANG SO SÁNH VỚI ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN Ở
TRUNG QUỐC

Sự ra đời của Nhà Nước là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài, đánh
dấu sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người.Điều kiện quan trọng nhất dẫn
đến sự ra đời của một Nhà Nước đó chính là sức sản xuất phát triển đến đỉnh cao
xuất hiện sự phân hóa xã hội. Nhà nước là sản phẩm tất yếu của một xã hội mà
mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Đó cũng là điều kiện chung của sự
ra đời tất cả các nhà nước trên thế giới này. Song bên cạnh đó sự ra đời của mỗi
nhà nước còn mang những đặc trưng riêng tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế xã
hội của quốc gia đó. Tiền đề ra đời của nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên
của Việt Nam cũng thể hiện rõ điều đó, đặc biệt là trong sự đối chiếu với lịch sử
nhà nước đầu tiên ở Trung Quốc.
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có vị trí địa lý tương đối giống
nhau. Trong lịch sử cổ đại đều nằm trong khu vực văn hóa văn minh phương
Đông. Do vậy mà xét trên những phương diện cơ bản tiền đề ra đời của nhà
nước đầu tiên ở hai quốc gia hầu như là tương đồng.
Điều kiện đầu tiên thúc đẩy sự ra đời của một Nhà nước ở mọi quốc gia
nói chung cũng như Việt Nam nói riêng là sự phân hóa xã hội đạt đến mức cao.
Nhân loại dải những bước dài trên chặng đường phát triển của lịch sử. Cùng với
sự ra đời của kim khí mà cụ thể là đồ sắt đã đưa nền sản xuất lên một trình độ
mới, của cải làm ra nhiều hơn. Nó không chỉ đủ cho nhu cầu hàng ngày mà còn
dư thừa. Quá trình này dẫn đến sự tư hữu, song do địa vị xã hội khác nhau mà sự

bước chuyển biến này như Truyện Chử Đồng Tử- Tiên Dung, Sơn Tinh-Thủy
Tinh, Truyện Trầu Cau….đề cao vai trò của người đàn ông. Đồng thời thông
qua các câu chuyện cổ tích dân gian này cũng cho thấy sự ra đời của các gia
đình hạt nhân là quá trình tan rã của công xã thị tộc với chế độ quần hôn. Thay
vào đó là hôn nhân đối ngẫu hay là cặp đôi về hôn nhân.
Thứ hai là công xã thị tộc phát triển thành công xã nông thôn. Công xã
thị tộc sinh sống trong một phạm vi không gian xác định giữa các thành viên
trong công xã đó được xác định theo quan hệ huyết thống. Sản xuất phát triển,
diện tích ở một nơi cố định không còn đủ cho nhân dân phát triển. họ phải đi đến

những miền đất xa hơn. Những cộng đồng người tụ tập quây quần bên các dòng
sông không chỉ đơn thuần là quan hệ huyết thống mà còn quan hệ ngoài huyết
thống. Đó chính là tiền thân của làng. Nhà Nước được xem là một tập hợp của
nhiều phần tử làng.
Do vậy mà có thể nói, sự chuyển biến về kinh tế xã hội của văn hóa Đông
Sơn đã tạo nền móng cho sự ra đời của nhà nước Văn Lang về sau.
Ngược dòng chảy của lịch sử, đi qua sự ngăn trở của không gian, chúng ta
cùng tìm hiểu lịch sử Trung Quốc với quá trình xây dựng những tiền đề đầu tiên
cho sự ra đời của nhà nước. Cũng giống như nước ta, điều kiện quan trọng bao
trùm lên tất cả là sự phân hóa xã hội, phản ánh mâu thuẫn giai cấp không điều
hòa được. Giai cấp ra đời là dấu hiệu của xã hội mà kinh tế đã có những tiến bộ
vượt bậc Thời kỳ văn hóa Đại Vấn Khẩu (cách ngày nay 4000-5000 năm) là thời
kỳ mà Trung Quốc có sự chuyển biến lớn trong kinh tế- xã hội. Với sự tiến bộ
trong công cụ sản xuất đã đưa lại những bước phát triển cho nông nghiệp.Sản
xuất nâng cao tạo điều kiện cho của cải dư thừa và nguồn gốc tạo nên phân hóa
xã hội. Các di chỉ mộ táng ở Đại Vấn Khẩu minh chứng rất rõ cho những kết
luận này. Có một số ngôi mộ có rất nhiều đồ tùy táng, mộ táng càng nhiều thì
chứng tỏ lúc còn sống người chết rất giàu. Ngôi mộ nhiều đồ tùy táng nhất có tới
180 món, không chỉ có vậy mà họ cũng phát hiện rằng trong một số ngôi mộ chỉ
có một vài đồ tùy táng sơ sài hoặc là không có. Cũng thông qua các di chỉ khảo

có độ dốc cao thì sông Hồng lại trở thành con sông khá “nguy hiểm”. Do vậy
mặc dù lượng phù sa ở đây rất cao song để chinh phục được nó cũng là một quá
trình khó khăn, gian khổ. Để có thể chủ động tưới tiêu vào mùa khô và chống lũ
lụt vào mùa mưa, cư dân Việt cổ không chỉ “trông trời trông đất hay là thần Sấm
thần Sét” mà cần có những công trình trị thủy. Theo nghiên cứu của các nhà
khảo cổ thời kỳ Hùng Vương, cư dân đồng bằng sông Hồng đã biết đắp đê, xây
dựng một số công trình nhân tạo như kênh, phai, đập…Song điều đáng nói ở đây
là công việc chống ngập lụt chưa bao giờ là công việc của một cá nhân, một gia
đình cụ thể nào mà đó là công việc đòi hỏi nhiều người, nhiều khu vực với sự cố
kết của cộng đồng rất cao. Ban đầu thì nhu cầu trị thủy này chỉ là xuất phát từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status