MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các sơ đồ iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCTC Báo cáo tài chính
CĐKT Cân đối kế toán
DN Doanh nghiệp
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASC Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế
KQHĐKD Kết quả hoạt động kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh
TK Tài khoản
TMBCTC Thuyết minh báo cáo tài chính
TLG Tổng công ty Xây Dựng Thăng Long
TCDN Tài chính doanh nghiệp
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
XDCB Xây dựng cơ bản
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 : Cơ cấu máy móc thiết bị của Tổng Thăng Long
Bảng 2.2: Tỉ trọng máy móc thiết bị và công nghệ
Bảng 2.3: Kết quả sản xuất kinh doanh trong giai đoạn trước
chuyển đổi
Bảng 2.4: Bảng tài sản bình quân
Bảng 2.5: Bảng hiệu quả sử dụng tài sản
Bảng 2.6: Bảng nguồn tài trợ tài sản
Bảng 2.7: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Bảng 2.8: Tình hình thanh toán của Công ty Thăng Long
Bảng 2.9: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Bảng 2.10: Bảng phân tích khả năng thanh toán
cho có hiệu quả nhất, ứng phó với những tình huống bất định, thích nghi với
sự thay đổi.
Là đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực xây dựng Cầu, hầm (được kiểm chứng
bằng các sản phẩm đã khai thác và đưa vào sử dụng và chiếm thị phần khá
lớn so với các đơn vị cùng ngành). Qua quá trình nhìn lại, đằng sau những
thành công và lợi nhuận của doanh nghiệp thì Tổng công ty vẫn còn rất
nhiều hạn chế, chưa tận dụng được thế mạnh của mình để vượt lên hẳn so
với doanh nghiệp cùng ngành. Các kết quả kinh doanh vẫn chưa tương xứng
với tiềm lực sẵn có cũng như ngành mũi nhọn mà Tổng công ty đang hoạt
động.
Sau khi gia nhập WTO, trong xu thế hội nhập, hợp tác và cạnh tranh với các
tổ chức, tập đoàn cùng ngành trong nước, khu vực và thế giới thì lợi thế
cạnh tranh của ngành mũi nhọn ( cầu, hầm) của tổng công ty ngày càng rút
ngắn hơn so với các đơn vị cùng ngành khác bởi các đơn vị cùng ngành kia
cũng đang được hội tụ và tích lũy đầy đủ các thế mạnh mà tổng công ty đang
có.
Trước bối cảnh trên, việc tìm kiếm và xây dựng một giải pháp ổn định, một
chiến lược quản lý tài chính cho Tổng công ty xây dựng Thăng Long thực sự
cần thiết. Quản lý tài chính hiệu quả không chỉ giúp Tổng công ty phát triển
ổn định, bền vững, mang lại lợi ích cho Doanh nghiệp mà còn nằm trong
Chiến lược phát triển của Chính Phủ về quy hoạch Tổng công ty là một tập
đoàn, một hạt nhân lớn của nền kinh tế đất nước.
Điều này đóng một vai trò hết sức quan trọng cho sự thành công của doanh
nghiệp nói chung và Tổng công ty xây dựng Thăng Long nói riêng, nó vạch
ra con đường để cho các doanh nghiệp/Tổng công ty Thăng Long phát triển.
Bản thân tổng công ty xây dựng Thăng Long hiện tại chưa tiến hành phân
tích, xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cũng như quản lý tài chính
cho mình một cách bài bản, hệ thống. Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu,
phân tích để xây dựng và lựa chọn chiến lược quản lý tài chính sao cho phù
hợp với Tổng công ty là điều hết sức cần thiết.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu tại Tổng công ty xây dựng Thăng Long.
- Chỉ tập trung vào phân tích, xây dựng và lựa chọn chiến lược quản lý tài
chính cho Tổng công ty xây dựng Thăng Long giai đoạn 2009-2011 và kế
hoạch 5 năm
• Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác quản lý tài chính theo mô hình
công ty mẹ công ty con.
- Áp dụng khung lý thuyết vào phân tích công tác quản lý tài chính và chỉ ra
các điểm hạn chế tại công ty
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài
chính tại tổng công ty.
• Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng quan
điểm, đường lối chính sách của Đảng, nghị quyết của Đảng bộ Tổng công ty
xây dựng Thăng Long, đồng thời nghiên cứu hình thức chuyển đổi tổ chức
theo mô hình Công ty mẹ - công ty con của Tổng công ty xây dựng Thăng
Long. Trong đó coi trọng phương pháp đúc kết các bài học từ việc tham
khảo kinh nghiệm về công tác quản lý tài chính theo mô hình công ty mẹ-
công ty con tại các công ty khác.
Nguồn dữ liệu chủ yếu sử dụng là Bản báo cáo thường niên của Tổng
công ty, của các Tổng công ty khác trong cùng ngành. Từ đó, sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê so sánh
- Phương pháp chuyên gia
• Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được kết cấu thành
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO MÔ
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giữa phần ba cuối thế
kỷ XVIII đến đầu nửa sau thế kỷ XIX là thời kỳ của công xưởng cơ khí công
nghiệp. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tổ chức độc quyền bắt đầu
ngự trị trên thế giới. V.I.Lênin cũng chỉ rõ chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư
bản ở giai đoạn phát triển đã diễn ra sự thống trị của các độc quyền và tư bản
tài chính. Xuất khẩu tư bản có ý nghĩa to lớn, sự phân chia thế giới của các
Tơrơt (Trust) quốc tế đã bắt đầu và đã phân chia xong toàn bộ lãnh thổ thế
giới bởi các nước tư bản phát triển nhất. Độc quyền chỉ có thể phát triển trên
cơ sở tập trung sản xuất và tư bản đạt mức độ cao, tư bản công nghiệp và tư
bản ngân hàng đã phát triển tới mức liên kết chặt chẽ với nhau, vươn rộng ra
bên ngoài thông qua xuất khẩu tư bản ngày càng nhiều. Đồng thời với sự
phát triển mạnh mẽ đó, các liên minh độc quyền và các cường quốc tư bản
đã tiến hành phân chia thế giới về kinh tế và lãnh thổ, từ đó các công ty
xuyên quốc gia với hình thức liên kết đa dạng và mô hình tổ chức Công ty
mẹ - Công ty con cũng hình thành và phát triển.
Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International
Accounting Standard):
Công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị
trực thuộc – công ty con (Subsidiary)
Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ.
Kiểm soát ở đây được hiểu là:
(1) sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu;
(2) sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50%
số phiều bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh
đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh
doanh của công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp
đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của
HĐQT, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số
phiếu bầu tại các cuộc họp HĐQT, ban lãnh đạo.
Mặc dù trên thế giới và tại Việt Nam có nhiều cách diễn giải khác nhau
những năm 1990 có tới 40 - 50% linh kiện và bán thành phẩm thông qua các
Công ty con của các công ty đa quốc gia sản xuất.
Sự phối hợp và kiểm soát hoạt động của Công ty mẹ đối với Công ty con,
công ty cháu được thực hiện rất chặt chẽ, thông qua chiến lược sản phẩm và
kế hoạch kinh doanh đồng bộ từ trên xuống dưới, Công ty mẹ tham gia góp
cổ phần, trợ giúp về mặt kỹ thuật, đào tạo cán bộ, sự phân công hợp tác
trong nội bộ tập đoàn hết sức cụ thể và khoa học.
Tuy nhiên theo mô hình liên kết nhiều tầng này, Công ty mẹ có thể không
cho phép các Công ty con thuộc tầng liên kết không chặt chẽ góp vốn để
thành lập các công ty cháu nhằm giảm thiểu rắc rối trong quản lý tài sản.
- Mô hình liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất - kinh doanh
Theo mô hình này Công ty mẹ thường là những trung tâm nghiên cứu ứng
dụng lớn, lấy việc phát triển công nghệ mới là đầu mối cho sự liên kết. Các
Công ty con là đơn vị sản xuất - kinh doanh, có chức năng ứng dụng những
kết quả nghiên cứu công nghệ mới của Công ty mẹ, biến nó thành sản phẩm
có ưu thế trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của cả tập đoàn chính là khả
năng liên kết, từ nghiên cứu đến ứng dụng. Mô hình này thường áp dụng ở
những ngành kỹ nghệ cao.
Tuy các dạng mô hình liên kết giữa Công ty mẹ với các Công ty con dựa
trên các nền tảng khác nhau, song suy cho cùng đều là sự chi phối bởi yếu tố
tài sản, trong đó bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Sức mạnh
chi phối của Công ty mẹ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nắm giữ các
nguồn tài sản trên và chính những tài sản vô hình như sở hữu công nghiệp,
phát minh khoa học công nghệ, uy tín sản phẩm, thị trường, thương hiệu,
lại có tác động hỗ trợ hết sức hiệu quả, tạo cơ sở vững chắc để cũng cố, tăng
cường quan hệ hợp tác và lợi ích kinh tế giữa Công ty mẹ và các Công ty
con. Công ty mẹ có thể sử dụng được các lợi thế của Công ty con về các mặt
lao động, tài nguyên, thị trường khi Công ty con đặt ở các quốc gia có ưu
thế về các mặt này. Đây chính là cơ sở để giải thích việc đẩy mạnh đầu tư ra
nước ngoài của các tập đoàn xuyên quốc gia. Ví dụ các tập đoàn kinh doanh
Syndicate có một phòng thương mại chung do một ban quản trị điều hành và
tất cả các công ty phải tiêu thụ hàng hoá qua kênh văn phòng này. Như vậy
doanh nghiệp thành viên vẫn giữ được tính độc lập về mặt sản xuất, nhưng bị
phụ thuộc về mặt tiêu thụ sản phẩm. Tính liên kết của tập đoàn chỉ ở khâu tiêu
thụ.
- Trust là một tổ chức cao hơn Syndicate ở chổ Trust không những liên kết
về mặt tiêu thụ sản phẩm mà còn liên kết về mặt sản xuất. Trust bao gồm
nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất điều hành.
Khác với hai loại trên và các thành viên của Trust đều bị mất quyền độc lập
cả về sản xuất và thương mại. Việc thành lập Trust là nhằm độc chiếm
nguồn nguyên liệu, khu vực đầu tư và thu lợi nhuận cao.
- Consrtium là một trong những hình thức của tổ chức độc quyền ngân hàng
nhằm mục đích chia nhau mua chứng khoán trong hoặc ngoài nước, hoặc
tiến hành một vụ mua bán nào đó. Nó thường do một ngân hàng lớn đứng
đầu, điều hành hoạt động của cả tập đoàn.
- Concern là một hình thức tổ chức kinh tế được áp dụng phổ biến hiện nay
dưới hình thức Công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác, lập nên mối quan hệ
Công ty mẹ - Công ty con. Công ty mẹ điều hành hoạt động của cả tập đoàn,
các Công ty con chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của
mình và độc lập về pháp lý, phụ thuộc vào tập đoàn về mục tiêu hoạt động
nhằm thực hiện mục đích chung của cả tập đoàn. Concern thường được tạo
nên bởi hai doanh nghiệp độc lập và có pháp nhân đầy đủ. Các Concern
thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhà nước thông qua hợp đồng, đơn đặt
hàng, quan hệ cá nhân tài trợ cho các thế lực chính trị. Tiền đề chính để ra
đời một Concern là tồn tại một công ty chủ chốt đủ khả năng để quản lý và
kiểm soát hoạt động, đặc biệt là kiểm tra tài chính các công ty khác. Để làm
được điều đó, Concern phải có một ngân hàng có khả năng đảm bảo phần
lớn tín dụng cho toàn Concern, thường tổng tư bản không dưới 1 tỷ USD.
- Conglomrate là tập đoàn đa ngành, các công ty thành viên không có mối
quan hệ về công nghệ sản xuất nhưng có mối liên hệ chặt chẽ về tài chính.
từng bước chuyển sang tay tư bản chức năng và tập trung vào tay các
nhà quản trị cao cấp. Tuy nhiên quyền lực thực tế nằm trong tay các tập
đoàn sở hữu lớn. Giới chủ điều chỉnh hoạt động của tập đoàn gián tiếp
bằng hoạt động mua bán cổ phiếu của các công ty, chi nhánh trên thi
trường chứng khoán. Điều hành của Conglomerate linh hoạt và mềm
dẻo. Hệ thống điều hành gọn nhẹ, hiệu quả kinh tế cao do phát huy
được tính chủ động sáng tạo của các Công ty con và kịp thời chuyển rủi
ro trong hoạt động công ty ra ngoài thị trường.
* Về lĩnh vực hoạt động:
Nhờ hoạt động trên thị trường chứng khoán thông qua mua bán cổ phiếu
của các chi nhánh đã giúp cho Conglomerate thay đổi lĩnh vực hoạt động
nhanh chóng và luôn thu hút được các công ty thuộc các ngành có công nghệ
mũi nhọn, hàm lượng khoa học kết tinh trong sản phẩm cao và có tỷ suất lợi
nhuận lớn. Lợi nhuận của Conglomerate chủ yếu được tạo ra trên thị trường
chứng khoán thông qua việc mua bán và đầu cơ cổ phiếu nhờ kinh nghiệm
và biện pháp hoạt động trên thị trường vốn.
Còn Concern do phải duy trì một ngành nghề chủ chốt buộc Concern có cơ
cấu sản xuất kinh doanh ổn định và biến đổi ở một phạm vi nhỏ bé và chậm
chạp hơn. Việc mở rộng công ty của Concern chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất.
Concern chỉ thu hút các công ty thuộc các ngành dịch vụ ở mức độ cần thiết
cho hoạt động bình thường của tập đoàn. Khối lượng lợi nhuận chủ yếu mà
các Concern thu được là từ lĩnh vực sản xuất.
1.1.3 Đặc điểm mối quan hệ mô hình công ty mẹ- công ty con:
Thứ nhất, công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản
nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ)
Thứ hai, công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của
công ty con
Thứ ba, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động
của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối
với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT,
D31
B33
B32
B31
E 4
Mô hình tổng công ty và đơn vị thành viên hiện nay có một số điểm
tương đồng với mô hình công ty mẹ – công ty con là:
(1) tổng công ty là cổ đông
(2) có quyền quyết định đến hoạt động của công ty thành viên bằng
nhiều cơ chế khác nhau.
Tuy nhiên, giữa hai mô hình có những khác biệt quan trọng.
“Thứ nhất, với mô hình tổng công ty thì cơ cấu tổ chức của tổng công
ty (một nhóm các công ty) bị giới hạn có 3 cấp – tổng công ty, công ty và xí
nghiệp hạch toán phụ thuộc (hoặc tương đương). Trong khi đó, theo mô hình
công ty mẹ - công ty con thì tầng nấc trong cơ cấu tổ chức, về mặt lý thuyết,
là không giới hạn – công ty mẹ, công ty con, công ty cháu
Thứ hai về nguyên tắc, quan hệ công ty mẹ đối với công ty con là trách
nhiệm hữu hạn, còn quan hệ giữa tổng công ty và đơn vị thành viên là trách
nhiệm vô hạn.
Thứ ba về mặt pháp lý, các đơn vị thành viên của tổng công ty và công
ty là những pháp nhân độc lập chưa đầy đủ, vì đối với một số hoạt động của
đơn vị thành viên, luật pháp yêu cầu phải có ủy quyền chính thức của doanh
nghiệp chủ quản như lĩnh vực đầu tư, tài chính, tổ chức cán bộ ; trong khi
đó, theo mô hình công ty mẹ - công ty con, các doanh nghiệp là những pháp
nhân đầy đủ.
Thứ tư, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trong mô hình tổng
công ty không phải do tổng công ty quyết định thành lập mặc dù về mặt
pháp lý tổng công ty là chủ sở hữu. Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ –
công ty con thì công ty mẹ là người sáng lập (hoặc tham gia sáng lập).
Thứ năm, trong mô hình tổng công ty, phần lớn bộ máy của tổng công
Mặt khác, quản lý tài chính là những hoạt động tổng hợp, phân tích,
đánh giá thực trạng về tài chính và đưa ra những quyết định về mặt tài chính
ngắn hạn cũng như dài hạn của công ty.
Quản lý tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản lý
doanh nghiệp. Chức năng quản lý tài chính có mối liên hệ mật thiết với các
chức năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức
năng quản trị marketing, chức năng quản lý nguồn nhân lực.
Quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến
đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty. Vì vậy,
chức năng quyết định của quản trị tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết
định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết
định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị
cho các cổ đông.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng theo Giáo trình TCDN- Học
viện tài chính: “Quản lý tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối
hợp và bố trí các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu
của doanh nghiệp. Quản lý tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng
tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch” 7, 8, 9.
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp(TCDN)
Quản lý tài chính doanh nghiệp( TCDN) tập trung vào 3 quyết định:
- Quyết định đầu tư: Trong quyết định đầu tư nhà quản lý tài chính quan
tâm đến:
• Đầu tư tài sản cố định
• Ra quyết định về dự án đầu tư
• Tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán
- Quyết định tài trợ- quyết định về nguồn vốn
Để tài trợ cho tài sản, các nhà quản trị tài chính phải tìm kiếm các
nguồn vốn thích hợp thông qua các quyết định tài trợ. Các nguồn vốn để tài
trợ cho tài sản bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, vốn
chủ sở hữu Họ có thể nghiên cứu xem còn hình thức tài trợ nào khác
trình quản lý TCDN như các doanh nghiệp bình thường.
Hoạt động đầu tư và sở hữu các công ty con: Ngoài họat động kinh doanh
thông thường nêu trên công ty mẹ còn thực hiện họat động đầu tư và sở hữu
các công ty con điều này ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức quản lý tài chính
của doanh nghiệp và mang tính đặc thù so với các doanh nghiệp thông
thường khác. Việc thực hiện mô hình mẹ- con giúp doanh nghiệp hướng tới
các mục đích trong dài hạn như :
Thứ nhất, theo mô hình công ty mẹ- công ty con khi kinh doanh đa ngành,
nếu nằm trong một chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và các công ty con khi ấy
cần chuyên môn hóa vào từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh phù hợp với
chuỗi liên kết, ngành, nghề của công ty mẹ. Để có tiếng nói chung hỗ trợ lẫn
nhau về chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần tăng cường hiệu quả kinh doanh
tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau trên
cơ sở lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác
thuộc mọi thành phần kinh tế (hạn chế các công ty con cùng lĩnh vực).
Thí dụ đối với lĩnh vực xây dựng điều quan trọng là doanh nghiệp phải
có sức mạnh, tiềm lực để có khả năng tổng thầu EPC (từ giám sát, xây
dựng theo một quy trình khép kín). Chính vì vậy, tổng công ty cần phải
nhắm vào các DN nòng cốt, xây dựng tốt về thương hiệu và làm ăn có hiệu
quả giúp doanh nghiệp dễ nội hóa được chi phí, từ đó giảm được chi phí. Từ
đó chiếm ưu thế hoàn toàn trên thị trường nhờ định giá thấp. Xét ở phương
diện nào đó, quyền tự chủ của các đơn vị thành viên bị hạn chế do Công ty
mẹ, Công ty con không thể cùng tham gia đấu thầu cùng một công trình
hoặc dự án đầu tư nhưng với những dự án lớn nêu trên chỉ có tập hợp sức
mạnh tại công ty mẹ mới đảm bảo khả năng tổng thầu.
Như vậy việc tập hợp được sức mạnh tổng hợp là vô cùng quan trọng, không
nhận được tổng thầu các dự án lớn đồng nghĩa với việc chúng ta phải làm
thuê cho các DN nước ngoài ngay trên sân nhà. Sức mạnh của các TCty này
nếu không được hội tụ lại sẽ khó có sức mạnh tổng hợp mà sẽ vẫn chỉ manh
mún, nhỏ lẻ so với các DN nước ngoài.