Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Lời nói đầu
Chất lợng sản phẩm, háng hoá là một điểm yếu kém, nâu dài ở nớc ta trong nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung trớc đây. Trong những năm gần đây với sự chuyển đổi
nền kinh tế từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc thì vấn đề về chất lợng sản phẩm đợc quan tâm đền ở vị trí quan trọng.
Các nhà quản lý cũng nh ngời tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn về vấn đề chất lợng
sản phẩm.Trong các cơ sở kinh doanh, và trong đời sống xã hội không ai phủ nhận vai
trò quan trọng của chất lợng sản phẩm. Chất lợng là mục tiêu chính mà các doanh
nghiệp phấn đấu liên tục để đạt tới, là chìa khoá trong sản xuất kinh doanh của họ.
Bởi ngày nay lợi nhuận thơng nghiệp không phải là những sản phẩm gì đợc làm gia
mà là các sản phẩm đó có đợc sản xuất tốt hay không và có hiệu quả cạnh tranh hay
không. Chất lợng đã trở thành yếu tố sống còn của sự tồn tại doanh nghiệp. Nh chúng
ta biết khách hàng là ngời nuôi sống doanh nghiệp bằng việc tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá do doanh nghiệp sản xuất ra. Mà sản phẩm ,hàng hoá của doanh nghiệp muốn đ-
ợc khách hàng chấp nhận thì phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng, phải đáp ứng đ-
ợc nhu cầu của thị trờng, hay chính là phải đảm bảo chất lợng. Không những thế chất
lợng còn quết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng ,đặc biệt
là sự cạnh thanh gay gắt của môi trờng hội nhập toàn cầu hiện nay. Sự cạnh tranh
không chỉ dễn ra ở mỗi quốc gia mà giữa các quốc gia với nhau và trên quy mô toàn
cầu. Do đó để bảo vệ đợc nền kinh tế của mình, có mức tăng trởng cao, có nhiều hàng
hoá trong nớc và xuất khẩu thì các doanh nghiệp Việt nam phải đổi mới hệ thống
quản lý cũ của mình, nhất là hệ thống quản lý chất lợng.
Do đó để thấy rõ tầm quan trọng của xu hớng đổi mới trong các doanh nghiệp
Việt nam về hệ thống quản lý chất lợng, em đã chọn đề tài Các biện pháp cơ bản
trong quá trình đổi mới hệ thống quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000".
Nội dung của đề tài gồm 4 phần sau :
I. Đặt vấn đề trong đổi mới chất lợng
II. Một số tồn tại chủ yếu trong quản lý chất lợng ở doanh nghiệp Việt nam
hiện nay
khách hàng đều mong đợi ngời cung ứng cấp cho những SP, HH và DV đáp ứng cho
các nhu cầu, mong muốn ngày càng cao của họ. Bên cạnh đó, với sự phát triển nh vũ
bão về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ về công nghệ thông tin, các công ty
và các quốc gia ngày càng có điều kiện thuận lợi hơn để thoả mãn nhu cầu của khách
hàng. Điều đó làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Muốn phát triển
trong môi trờng cạnh tranh này các công ty buộc phải không nhừng cải tiến, hoàn
thiện và nâng cao chất lợng SP, HH và DV đồng thời phải không ngừng nghiên cứu,
thiết kế sản phẩm mới, tạo ra những đặc trng khác biệt của SP, HH và DV để thoả mãn
tốt nhất nhu cầu khách hàng, nhằm duy trì và mở rộng thị trờng.
Nếu trớc đây ,cac quốc gia còn dựa vào hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật
để bảo vệ nền sản xuất trong nớc thì trong bối cảnh quốc tế hoá mạnh mẽ hiện nay,
với sự gia đời của tổ chức thơng mại thế giới ( WTO ) và thoả ớc về hàng rào kỹ thuật
đối với thơng mại ( TBT ), các SP, HH và DV ngài càng tự do vợt ra khỏi biên giới
quốc gia. Sự phát triển mang tính toàn cầu đã tạo điều kiện để hình thành nên thị
trừơng tự do khu vự và quốc tế ; tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ các phơng tiện
chuyên chở với giá rẻ, đáp ứng nhanh ; hệ thống thông tin trở nên kịp thời, rộng
khắp. Trong bối cảnh nh vậy, các công ty và các nhà quản lý trở nên năng động hơn,
thông minh hơn, dẫn đến sự boã hoà của nhiều thị trờng, tạo ra sự suy thoái kinh tế
phổ biến trong khi các đòi hỏi về chất luợng ngày càng trở nên cao hơn.
Các đặc điểm trên đã làm cho chất lợng trở thành một yếu tố cạnh tranh hàng
đầu. Các công ty đã chuyển vốn đầu t vào các khu vực có khả năng thoả mãn khách
hàng và đem lại lợi nhuận cao hơn. Sản phẩm có thể đợc thiết kế tại một nớc, sản xuất
tại một số nớc và bán ở mọi nơi trên thế giớ. Các nhà sản xuất phân phối và khách
hàng ngày nay có quyền lựa chọn sản phẩm có chất lợng cao, giá cả phù hợp, phơng
thức giao nhận hàng thuận tiện ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Cuộc đua tranh đối với
công ty thực sự mang tính toàn cầu.
Thực tế đã chứng minh rằng, những công ty thành công trên thơng trờng đều là
những công ty đã nhận thức và giải quyết tốt bài toán chất lợng. Họ đã thoả mãn tốt
nhu cầu khách hàng trong nớc và quốc tế. Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã và sẽ trở nên
mạnh mẽ hơn với quy mô và pham vi ngày càng rộng lớn. Sự phát triển của khoa học,
Trong cuộc cách mạng khoa học thì cuộc cạch mạng khoa học lần thứ nhất ( từ
khoảng thế kỷ XV đến khóảng thế kỷ XVIII ), mở đầu bằng lĩnh vực vũ trụ. Về bản
chất, cuộc cách mạng khoa họ thứ nhất này đã chuyển nhận thức của nhân loại lên
trình độ t duy trừu tợng, mặc dù còn ở mức độ thấp. Về phơng pháp con ngời đã
không chỉ quan sát mà đã tiến hành phân tích, thực nghiệm, khảo sát để tìm cách đi
sâu và khám phá các tầng bản chất bển trong của tự nhiên và của xã hội.
Trong cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai ( từ đầu thế kỷ thứ XVIII đến cuối
thế kỷ thứ XIX ), cũng mở đầu bằng lĩnh vực vũ trụ và tiếp theo là các lĩnh vực của
vật lý học, hoá học, sinh học, và có nhiều phát kiến mới đặc biệt, cuộc cách mạng
lần này diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực khoa học xã hội với sự xuất hiện của chủ
nghĩa Mác. Bản chất của cuộc cách mạng lần này là sự khắc phục trở ngại siêu hình,
duy tâm vốn thống trị trớc đó, chuyển nhận thức của nhân loại lên t duy trừu tợng ở
trình độ cao - t duy biện chứ. Điều đó tạo thế giớ quan và phơng pháp luận cho hoạt
động sáng tạo ở trình độ khái quát lý luận khoa học. Về phơng pháp, nhân loại đã
không dừng ở lại ở phơng pháp phân tích mà còn kết hợp và phát triển về chất. Khoa
học tự nhiên và khoa học xã hội đã quan hệ mật thiết với nhau hơn. Khoa học kỹ thuật
và các khoa học ứng dụng, thực nghiệm, đã phát triển và trở thành cầu nối quan trọng
qiữa khoa học cơ bản với sản xuất với công nghiệp và với hoạt động thực tiễn nói
chung.
Trong cuộc cách mạng khoa học lần thứ ba ( từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ
thứ XX ). Cuộc cách mạng này nâng t duy trừu tợng lên bậc cao hơn nữa.Trớc hết nó
làm sụp đổ liềm tin vào tính bất biến của thế giới vi mô. Trong lĩnh vực thế giới quan
đó là sự khắc phục quan niệm cho rằng cái toàn bộ, cái cá biệt. T duy nhân loại giờ
đây dã hoàn thiện cả về hai cấp độ phân tich và tổng hợp , tiếp tục đợc phát triển và đ-
ợc quan tâm hơn bao giờ hết, khoa học xã hội đã đạt tới trình độ cao mới với sự tiếp
tục phát triển và hoàn thiện chủ nghĩa Mác trở thành chủ nghĩa Mac - Lênin. Lần đầu
tiên trong lịch sử klhát vọng hàng ngàn năm về mặt xă hội công bằng, văn minh.
Khoa học xã hội đã di vao cuộc sống một cách mạnh mẽ hơn, trở thành động lực to
lớn thúc đẩy sự phát triển xã hội loài ngời.
lớp qtcl - k40
trong tự nhiên. Vật liệu bên cạnh những vật liệu truyền thống là những vật liệu thiết
kế theo yêu cầu sản xuất. Sinh học, đã có những đột phá vĩ đại đặc biệt là trong công
nghệ gen, công nghệ vi sinh.Thời gian, con ngời đã có những công nghệ có thể làm
chủ đợc một khoảng thời gian tơng đơng vớ 1/10 tỷ giây, nhiều thế hệ máy tính, ngời
máy ra đời để phục vụ con ngời
Cùng với sự phát triển vợc bậc trên là sự xuất hiện nền kinh tế tri thức dựa trên
sự phát triển của khoa hoc và công nghệ cao. Đó chính là yếu tố quyết định cho sự
phát triển trong tơng lai.
Sự phát triển của khoa học và công nghệ cao nh vậy đã tạo cho nhân loại một
kho tàng tri thức khổng lồ. Đã làm cho loài ngời có tầm hiểu biết sâu rộng và thúc đẩy
nhu cầu của con ngời ngày càng cao và đòi hỏi của họ khắt khe hơn đối với sản phẩm,
hàng hoá và dịch vụ con ngời sản xuất ra.
Sự phát triển đó đã làm cho những ngời tiêu dùng trong tơng lai là những ngời
tiêu dung thông minh, có hiểu biết sâu sắc về mọi mặt. Họ sẽ tạo ra và đợc hởng
những thành tựu của thời đại mới, cuộc sồng vật chất và tinh thần của họ sẽ ngày một
tốt hơn. họ hiểu đợc giá trị của cuộc sồng và sẽ nâng nu, trân trong nó vì họ hiểu rõ
những cái mà họ có đợc đã đợc tạo ra nh thế nào. Tiêu dùng của họ sẽ hợp lí hơn, tích
kiệm hơn mặc dù của cải ngày càng tạo ra nhiều.
Ngời tiêu dùng ngày nay không những không ngừng học tập, tìm hiểu về các
quyền của mình, để xứng đáng là ngời tiêu dùng có hiểu biết và có trách nhiệm. Họ
xây dựng cho mình một quan điểm tiêu dùng mới, tiêu dùng hợp lí, tích kiệm và sáng
suốt. Họ cần có đủ kiến thức để không bị lừa gạt trên thị trờng, tích cực góp ý kiến
cho những chủ chơng chính sách của Nhà nờc, cho những chủ trơng và hành động của
những nhà sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là đối với vấn đề có liên quan đến quyền và
lợi ích của ngơi tiêu dùng.
lớp qtcl - k40
4
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Ngày nay ngời têu dùng có những quyền mà đợc pháp luật bảo vệ nh :
và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, hàng hoá sản xuất tại các công ty Việt nam
vấn còn yếu kém. Theo đánh giá của diến đàn kinh tế thế giới năm 1999, năng lực
cạnh tranh của Việt nam đợc xếp thứ 48 trong số 59 nớc đợc xếp hạng.
Những thách thức lớn trong việc nâng cao chất lợng và năng lực canh tranh của
các doanh nghiệp Việt nam xuất phát từ nhữ nguyên nhân chính sau đây :
Thứ nhất : phần lớn các doanh nghiệp Việt nam thuộc loại hình doanh nghiệp
vừa và nhỏ, có năng lực tài chính yếu, khả năng đầu t đổi mới công nghệ han chế. Đại
bộ phận doanh nghiệp chỉ sản xuất kinh doanh một vài loại sản phẩm theo chu trình
khép kín từ khâu đầu ( thiết kế ) đến sản xuất cuối cùng. Các tổng công ty 90, 91 tuy
có quy mô lớn nhng chỉ là sự lắp ghép của các công ty thành viên, cha có đổi mới
đáng kể về tổ chức sản xuất kinh doanh. Tình hình này làm hạn chế khả năng doanh
nghiệp vơn lên áp dụng ngay các phơng pháp kỹ thuật và công nghệ quản lý mới để
tạo ra sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ có chất lợng cao và đủ sức cạnh tranh trên thị tr-
ờng.
lớp qtcl - k40
5
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Thứ hai : trình độ máy móc, trang thiết bị quá cũ và lạc hậu, theo số liệu thống
kê, trên 75% thiết bị máy móc của các doanh nghiệp Việt nam thuộc thế hệ những
năm 60, trong đó có 70% đã khấu hao hết và gần 50% máy cũ đã đợc tân trang lại.
Trình độ công nghệ của chúng ta lạc hậu so với các nớc công nghiệp phát triển
khoảng gần một thế kỷ. Bên cạnh đó việc bố trí mặt bằng, nhà xởng bất hợp lý và láng
phí, vệ sinh công cộng kém, môi trờng công nghiệp lạc hậu là đặc điểm phổ biến của
các doanh nghiệp Việt nam. Tình hình này khiến chúng ta khó lòng có thể tạo ra
những sản phẩm có chất lợng cao và có khả năng canh tranh thắng lợi ngay trong thị
trờng nội địa của mình chứ cha nói đến thị trờng thế giới.
Thứ ba : nguồn nhân lực Việt nam cha đáp ứng đợc sự phát triển hiện tại và tơng
lai. Trình độ và cơ cầu lao động của các doanh nghiệp Việt nam cha phù hợp. Mặc dù
là một nớc có nguồn lao động dồi dào với khoảng gần 40 triệu lao động nhng đó cha
ớc chuyển dần từ mô hinh quản lý cũ sang mô hình quản lý mới mà ở đó có sự phát
triển cao về nguồn nhân lực, có môi trờng để thúc đẩy khả năng sáng tạo trong lao
động, có điều kiện để phát triển áp dụng các công nghệ tiến tiến mà trớc hết cơ sở
nền tảng của nó phải dựa trên triết lý và chiến lợc kinh doanh đúng đắn là : mọi lỗ lực
tập trung vào việc không ngừng cải tiến và nâng cao chất lợng để toạ lợi thế cạnh
tranh và sự phát triển bền vứng trong tơng lai.
II. một số tồn tại chủ yếu trong quản lý chất lợng ở
doanh nghiệp Việt nam
1.Sự rời rạc và riêng rẽ trong quản lý ở doanh nghiệp
lớp qtcl - k40
6
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Đất nớc ta đã chải qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để giành độc lập. Trong
những giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập, chúng ta đã phát triển nền kinh tế theo theo
cơ chế tập trung bao cấp. Một nền kinh tế tế phát triển theo sự chỉ huy của nhà nớc,
các cấp, các nghành. Sự sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của cấp trên giao cho. Phát
triển kinh kinh tế tự lự tự cờng nhng lại khong thiết lập quan hệ rộng rãi với các nớc
khác trừ các nớc trong khối xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế tập trung này đã làm
cho cán bộ, công nhâncủa chúng ta kém năng động, sáng tạo trong sản xuất và quản
lý. Sự tồn tại của cơ chế này đã kìm hám sự phát triển nền kinh tế của đất nớc, do đó
đất nớc chúng ta vẫn nằm trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trong nhiều năm.
Trong tình trạng tồn tại, hạn chế của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đảng
và Nhà nớc ta đã phải chuyển đổi cơ chế này sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc, từ Đại hội Đảng VI ( 1986). Từ những năm chuyển đổi cơ chế cho đến nay,
đất nớc chúng ta đã phát triển trên nhiều mặt, về sản xuất thì sản xuất lơng thực nh về
gạo chúng ta đã đứng nhì, ba thế giới về xuất khẩu, nhiều mặt hàng hải sản chúng ta
đã xuất khẩu ra nớc ngoài. Nhiều mặt hàng công nghiệp cũng đã phát triển. Chúng ta
cũng đã thiết lập nhiều các mối quan hệ hợp tác quốc tế nh ( ASEAN, AFTA, APEC,
EU). Nhng trong những thành tựu đạt đợc, chúng ta còn khá nhiều tồn tại và thách
lớp qtcl - k40
7
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Từ nhận thức về quản lý chất lợng nh trên đã đa đến thực trạng của công tác
quản lý chất lợng trong sản xuất nh sau :
Trong sản xuất việc bảo đảm chất lợng nh là trách nhiệm riêng của những ngời
chịu trách nhiệm quản lý, những ngời sản xuất trực tiếp hầu nh không có liên quan vì
họ không quan tâm nhiều đến chất lợng sản phẩm. Những ngời sản xuất trực tiếp chỉ
quan tâm đến năng xuất lao động và định mức. Họ sợ việc chú ý đến chất lợng hàng
hoá sẽ ảnh hởng đến giao nộp đúng kế hoạch, đã có nhiều sự gian dối trong trong chất
lợng sản xuất xẩy ra.
Đồng thời, sau khi giao nộp hàng hoá ngời sản xuất dờng nh đã song trách nhiệm
của mình, chất lợng của sản phẩm hàng hoá cũng chỉ đợc quan tâm bởi trách nhiệm
của doanh nghiệp đến khi sản phẩm đã ra khỏi nhà máy. Việc lu thông, phân phối đi
đâu, cho ai sử dụng nh thế nào và thông tin phản hồi từ phía khách hàng doanh nghiệp
không cần quan tâm.
Những hạn chế :
- Nhận thức về vai trò, vị trí và nội dung của công tác quản lý chất lợng trong
nền kinh tế cha theo kịp sự đòi hỏi của tình hình mới về năng lực quản lý, trình độ
công nghệ còn thấp kém, kiến thức và kinh nghiệm quản lý chất lợng trong cơ chế thị
trờng còn yếu. Hệ thống tổ chức và cơ sở vật chất của cơ quan quản lý chất lợng từ
trung ơng đến địa phơng cha đợc nâng cao về cả số lợng và chất lợng .
- Mục tiêu của ngời sản xuất và của ngời tiêu dùng không đồng nhất trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Ngời sản xuất không biết thị hiếu của ngời
tiêu dùng, ngời tiêu dùng không hiểu về ngời sản xuất .
- Tách rời trách nhiệm của mỗi ngời với công việc mình đã làm. Ngời sản xuất
trực tiếp sau khi hoàn thành công việc thì không cần quan tâm đến trách nhiệm về
chất lợng công việc mình vừa làm. Doanh nghiệp cũng vậy, chỉ cần hoàn thành kế
hoạch về chỉ tiêu số lợng. Đồng thời không có sự đồng nhất trong một công việc
Những quan điểm đúng đắn :
- Công tác quản lý chất lợng đợc coi trọng và đợc phát triển cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu .
- Cùng với sự đổi mới về kỹ thuật và công nghệ, các nhà sản xuất cũng nh các
nhà quản lý đã thấy đợc vai trò của chất lợng trong nền kinh tế. Họ đã tìm cách tổ
chức việc quản lý chất lợng theo đúng hớng thông qua những việc làm cụ thể nh :
+ Tìm hiểu thị trờng : tìm hiểu nhu cầu, thay đổi nhận thức về khách hàng và ng-
ời cung ứng. Các khách hàng và ngời cung ứng cũng là những bộ phận quan trọng của
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Đa ra những chính sách để điều hành quản lý chất lợng tìm ra những phơng
thức thích hợp để quản lý nh : TQM, ISO, HACCP, 5S,và số lợng các doanh nghiệp
đã đợc cấp chứng chỉ ISO 9000, GMP, HACCP ngày càng tăng, đặc biệt trong những
năm gần đây, năm 2000 dã lên tới 400 doanh nghiệp.
+ Hoạt động quản trị chất lợng hiện nay đã có đợc sự quan tâm thật sự của các
cấp lãnh đoạ doanh nghiệp, vì thế hoạt động chất lợng đợc tiến hành ở nhiều cấp bậc
khác nhau trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc tăng c-
ờng quản lý chất lợng thông qua áp dụng mô hình quản lý chất lợng mà còn đi xa hơn
biến hoạt động chất lợng thành phơng châm, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Việc nâng cao chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp Việt nam đã phần đợc
thông qua bằng việc chú trọng đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp đã xác định
trong hệ thống nâng cao chất lợng sản phẩm, sau khi nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng
thì đổi mới công nghệ. Đi song song với việc đổi mới công nghệ là các giải pháp quan
trọng khác liên quan trực tiếp đến đảm bảo chất lợng sản phẩm nh nghiên cứu thiết kế
sản phẩm phù hợp với thị trờng , nâng cao các thông số kỹ thuật, tăng giá trị sử dụng
đáp ứng các yêu cầu của ngời tiêu dùng vì sự tiện lợi an toàn, thẩm mỹ, xác định nâng
cao trách nhiệm chất lợng là nhiệm vụ của mọi ngời trong doanh nghiệp do đó phân
công công việc cụ thể phù hợp với khả năng để phát huy tối đa năng lực của ngời lao
động.
+ Bên cạnh những doanh nghiệp lớn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu mô hình kỹ
thuật và phơng thức quản lý chất lợng hiện đại, các doanh nghiệp t nhân với quy mô
đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất ở địa phơng còn rất hạn chế trong sự hiểu biết
và áp dụng các hệ thoóng chất lợng.
+ Một số doanh nghiệp chỉ coi trọng vấn đề đợc cấp chứng chỉ chất lợng mà áp
dụng nh một phong trào mang tính đôí phó, không đi sâu vào bản chất của quản trị
chất lợng.
+ Do không đủ năng lực và trình độ, một số doanh nghiệp đã thực hiện làm hàng
nhái, hàng bắt trớc. Họ không tự tìm cho mình một con đờng thích hợp mà lợi dụng
uy tín của ngời khác đánh lùa ngời tiêu dùng còn chất lợng thực sự của sản phẩm họ
không quan tâm .
3.Năng suất chất lợng sản phẩm trong doanh nghiệp
Sự ảnh hởng đến năng suất chất lợng sản phẩm là nhân tố ngời lao động. Mặt dù
là một nớc có nguồn lao động trẻ dồi dào 38 triệu ngời nhng nớc ta chỉ có 17,8% lao
động đã qua đoà tạo, riêng đội ngũ công nhân lao động có 2,5 triệu ngời nhng chỉ có
400 công nhân bậc cao 36% công nhân kỹ thuật đợc dào tạo theo hệ chuẩn quốc gia
39,37% đợc qua đào tạo ngắn hạn , 24,63% cha qua đào tạo .Những công nhân có khả
năng điều hành ,đứng máy trong những dây truyền tự động hoá là cự kỳ khan hiếm.
Chất lợng của hoạt động quản lý cũng là một điểm yếu, chính do t duy quản lý từ
thời bao cấp còn rời rạc lại hay những định hớng quản lý theo kiểu tiểu thơng chỉ
nhằm vào lợi ích trớc mắt đã làm cho vấn đề năng suất chất lợng sản phẩm không đợc
chú trọng, số cán bộ có năng lực quản lý còn rất thiếu .
Một số vấn đề tồn tại nữa đối với việc năng cao năng suất chất lợng sản phẩm
tăng cờng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt nam là do tỷ lệ phần trăm của
nguồn doanh thu dành cho tái đàu t, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới của
các doanh nghiệp Việt nam là rất ít nếu không muốn nói là hầu nh không có .Trong
khi đó tỷ lệ dành cho nghiên cứu và phát triển ở các công ty nớc ngoài là 30% doanh
thu.
4.Cha có sự đào tạo hợp lý cho mọi ngời trong tổ chức về chất lợng
Trên thực tế cho thấy nhiều tổ chức, doanh nghiệp mà trình độ cán bộ còn nhiều
han chế đặc biệt là về kiến thức quản lý, quản lý chất lợng, ngoại ngữ điều này ảnh
hởng đến việc tiếp thu các phơng pháp mới về tổ chức quản lý sản xuất và khoa học
thì sản phẩm hàng hoá trở thành của ôi chỉ càng thêm thua lỗ về vận chuyển, kho
chứa và có thể còn chịu thêm cả tiền mai táng phí cho những lô hàng bị bắt buộc
bị loại bỏ!
Các cuộc khảo sát ở nhiều nớc công nghiệp cho thấy những doanh nghiệp thành
công trên thơng trờng phần lớ là do đã giả quyết tốt bài toán chất lợng .
Họ đã tìm ra bí quyết để thoả mãn khách hàng trong nớc và quốc tế. Sự phát
triển của khoa học công nghệ ngày nay cho phép các nhà sản xuất nhậy bén đủ khả
năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao vủa khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Các nhà sản xuất cố gắng phát huy tối đa lợi thế của mình trong thơng trờng
mang tính toàn cầu hoá để cung cấp sản phẩm có chất lợng nh mong đơi của khách
hàng. Hiên nay các nguồn lực tự nhiên không còn là chìa khoá mang lại sự phồn vinh.
Nhiều quốc gia không có nguồn tài nguyên dồi dào đã bù đắp lại bằng lực lợng lao
động kỹ thuật cao đợc đào tạo và huấn luyện kỹ càng. Lịch sử hiện đại đã chứng minh
rằng một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên vẫn trở thành quốc gia hàng đầu về
chất lợng và quản lý chất lợng. Việt nam là quốc gia có khá nhiều thuận lợi về tài
nguyên, nhân lực vá trí tuệ để vơn tới sự phồn vinh. Song điều đó có đạt đợc hay
không là nhờ vào sự ổ định chính trị và năng lực quản lý, phải mạnh dạn thay đổi từ
nếp nghĩ đến việc làm, phải biền lòng yêu nớc tinh thần dũng cảm, cần cù thành sự
say mê học hỏi, cải tiền quản lý, cải tiền công nghệ và sự hăng say lao động sáng tạo
để không ngừng tăng năng suất nâng cao chất lợng sản phẩm. Phải đa sản phẩm kể
cả sản phẩm trí tuệ của Việt nam lên một tầm cao mới, thoả mãn nhu cầu trong nớc
và xuất khẩu.
lớp qtcl - k40
11
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Từ hội nghị chất lợng toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội tháng 8 năm
1995, một phong trào chất lợng rộng khắp đã đợc phát động. Danh mục các mặt hàng
đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là đã có nhiều mặt hàng chất lợng cao, đợc ngời tiêu
dùng tín nhiệm. Từ con số không đến nay chỉ qua cha đày 6 năm số doanh nghiệp áp
12
Quá trình
Đầu vào
Đầu ra
Giá trị gia tăng
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
Vì vậy, quản lý chất lợng thực chất là quản lý các quá trình trong doanh nghiệp.
Các quá trình đó cần đợc quản lý theo hai khía cạnh :
- Quản lý cơ cấu và vận hành của quá trình là nơi l thông dòng sản phẩm hay
thông tin.
- Quản lý chất lợng sản phẩm hay thông tin lu thông trong cơ cấu đó.
Mọi doanh nghiệp đều phải thực hiện gia tăng giá trị. Hoạt động đợc thực hiện
bởi một mạng lới các quá trình, nó không chỉ đơn giản là một dòng liên tiếp mà là
một hệ thống kết nối kiểu mạng nhện. Giữa các quá trình lại có các mối quan hệ, các
điểm tơng giao. Doanh nghiệp phải xác định rõ trong các quá trình ấy, đâu lá quá
trình chính, đặt yêu tiên cho nó và phối hợp mọi nỗ lực của doanh nghiệp để đạt đợc
các mục tiêu quản lý. Chính nhờ mang lới các quá trình mà doanh nghiệp mới tạo ra,
cải tiến và cung cấp sản phẩm luôn ổn định chất lợng theo yêu cầu của khách hàng.
Quản lý chất lợng theo hệ thống các quá trình nh vậy chính là nền tảng của bộ tiêu
chuẩn ISO 9000.
Giữa hệ thống chất lợng và mạng lới quá trình trong xí nghiệp có mối quan hệ
chặt chẽ. Hệ thống chất lợng đợc tiến hành nhờ các quá trình, các quá trình này tồn tại
cả bên trong và xuyên ngang các bộ phận chức năng. Cần nhớ rằng một hệ thống
không phải là phép cộng các quá trình, xác định các điểm tơng giao giữa các quá trình
ấy.
2.Con ngời là vấn đề quan trọng trong đổi mới quản lý chất lợng
Tất cả mọi công việc khi tiến hành đều phải bắt đầu từ con ngời. Do đó, con ngời
là yếu tố quyết định cho sự thành công trong mọi vấn đề. Vì vậy, trong quá trình đổi
mới quản lý, muốn sự đổi mới thành công ta phải làm thay đổi nhận thức của con ng-
phục vụ chính con ngời. Vào những thập kỷ 70, 80 trên cơ sở t tởng dân bản , ở
Nhật Bản đã hình thành nên văn hoá xí nghiệp - mà chủ yếu là văn hoá chất lợng. Các
bậc thầy chất lợng thế giới nh Đeming, Grosby, đã từng tổng kết rút ra từ tởng này
những bài học trong việc thực hành chất lợng của mình. Phải thừa nhận rằng quan
điểm nhân bản của phơng tây và quan điểm dân bản của phơng đông đợc vận
dụng trong lĩnh vực chất lợng đã tạo gia một cuộc cạnh tranh quyết liệt trong những
năm 80 giữa các hãng Xeox ( máy xao chụp), Harlay- Davidson (xe máy ) của Mỹ và
các hãng Honda của Nhật bản. Kết quả là công nghệ xao chụp và xe máy đợc nâng
lên một tầm cao mới, đã toạ ra những cuộc chạy đua quyết liệt về chất lợng sản phẩm
giữa các quốc gia, giữa các công ty, các tập đoàn trên toàn thế giới.
Rõ ràng, không một quan điểm nào, một hệ t tởng chủ đạo nào lá hoàn mỹ. Mỗi
một quan điểm đều có những mặt tích cực và đều có những hạn chế nhất định. nếu coi
trọng tập thể thì vai trò cá nhân sẽ lu mờ, cá nhấn sẽ lệ thuộc vào tập thể, khả năng
sáng tạo, năng động của cá nhân sẽ suy giảm. nếu mọi cá nhân đều nh vậy thì cả tập
thể sẽ thiếu sức sống, xí nghiệp chậm phát triển. Ngoài ra điều này còn dẫn tới sự
sùng bái quyền uy, ỷ lại vào tổ chức, lãnh đạo, ít chựu sự suy nghĩ. Các thiếu sót này
dễ nhận thấy trong quản lý xí nghiệp của chúng ta. Sự thực, quan hệ giữa con ngời với
tập thể là quan hệ giữa cá thể với tập thể. Mỗi con ngời không thể thoát ly đợc khỏi
xã hội. Vấn đề là phải biết giải quyết mối quan hệ này nh thế nào cho thích hợp.
Nếu quá nhấn mạnh vai trò cá nhân - nhân bản thì nh các cụ thờng nói một
cây làm chẳng lên non. Mỗi cá thể dù là một nhà khoa học, nhà quản lý tài ba, cũng
không chỉ đơn phơng độc mã mà làm nên sự nghiệp .
Dới đây ta xét một khía cạnh trong quản lý con ngời :
Lý thuyết XY
Các nguyên tắc cơ bản con ngời có thể phân làm hai nhánh.
Nhánh thứ nhất theo định hớng nhân văn rất phổ biến ở thập kỷ 40, 50 đợc gọi là
quan hệ nhân văn hay quan hệ con ngời.
Nhánh hai gọi là khoa học hành vi, ra đời trong những năm 50 còn tiếp tục cho
đến nay.
Khoa học hành vi dựa trên các nghiên cứu về tâm lý học, xã hội học. Các kết quả
lỗi (zero- defects ). Nghiên cứ đề xớng này đợc các nhà quản lý gọi là cách mạng
quản lý công nghiệp lần thứ t.
Quản lý theo mục tiêu và phơng pháp không sai lỗi đợc nhiều công ty áp dụng.
Phơng pháp này có lợi thế lớn, nhng hiệu quả áp dụng còn tuỳ thuộc vào là công nhân
đợc coi là loại X hay Y. ở Nhật Bản cả hai phơng pháp trên đều đem lại hiệu quả vì ở
đây công nhân thờng đợc đối sử theo lý thuyết Y .Một số công ty thất bại khi áp dụng
lý thuyết này chính vì họ đã đối xử với công nhân theo lý thuyết X.
Các nhà nghiên cứu cho rằng ngời Nhật luôn ý thức rằng đất nớc họ nghèo tài
nguyên, sẽ không thể phồn vinh đợc nếu mọi ngời không chăm chỉ làm việc. ý thức
này đợc tuyên truỳen sâu rộng cho mọi công dân ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà tr-
ờng và cũng chính vì thế họ có cơ sở để đối xử với lao động của họ theo lý thyết Y.
Khuynh hớng này còn đợc củng cố thêm bởi chế độ tuyển dụng xuốt đời và hệ thống
lơng tính theo ngày tháng, không phải theo hình thức khoán. Hầu hết các nghiệp
đoàn, công đoàn đều hợp tác với các giới quản lý.Mọi ngời đều làm việc hết sức để
tăng của cải, tài sản quốc gia, trong đó họ xẽ có phần xứng đáng.
Với những con ngời có trình độ cao về giào dục và ý thứ lao động tự giác ,hết
mình vì tổ quốc. Nhật luôn duy trì đợc năng suất cao hơn Mỹ và Châu âu.
Việc thùa nhận yếu tố con ngời là một bớc tiến quan trọng và cơ bản nhất đối
với các nhà qủn lý Châu âu và Mỹ. Chế độ tuyển dụng xuốt đời của Nhật Bản cũng
làm cho họ rất quan tâm.
Nhiều nhà quản lý cho rằng nguyện vọng làm việc sẽ giảm đi nếu con ngời bị
đối s theo loại X. Cần nhớ rằng trong mỗi con ngời luôn tồn tại cả hai đặc tính X và Y.
Vấn đề ở chỗ ngời lãnh đạo muốn tính tính trội thuộc về loại nào, hay nói đúng ra
là tuỳ thuộc vào phơng thức quản lý, sử dụng con ngời của lãnh đạo mà công nhân sẽ
thể hiện bản tính X hay Y! ở đây quan điể dụng nhân nh dụng mộc quả thật có lý.
Để làm cho ngời lao động phát huy đặc tính Y cần thực hiện các điểm sau đây :
Thi hành chính sách sử dụng suốt đời nh ở Nhật. Tránh để sẩy ra tình trạng thờng
xuyên thiếu việc làm. Cần tính toán cụ thể để tuyển dụng số lợng công nhân ít nhất có
thể có đợc, cần cơ khi hoá, bán tự động, tự động hoá kèm theo loại bỏ sai hỏng và các
thủ tục gây lãng phí thời gian.
Bởi vì lãnh đạo cấp cao là ngời quyết định các chính sách, chiến lợc kinh doanh của
doanh nghiệp. Do đó vấn đề đổi mới hệ thống quản lý chất lợng trong doanh nghiệp
phải là công việc của lãnh đạo cấp cao. Lãnh đạo có chỉ huy, chỉ đạo công việc thì
toàn thể mọi ngời trong doanh nghiệp mới chấp hành làm theo. Vì vậy biện pháp quan
trọng nhất trong quá trình chuyển đổi này là các nhà lãnh đạo cấp cao của doanh
nghiệp phải nhận thức đợc lợi ích thực sự của ISO 9000, đây là quá trình có tính quyết
định vì qua đó lãnh đạo của doanh nghiệp mới quyết định họ cần phải làm gì và làm
nh thế nào. Một quyết định sai hay một quan điểm sai sẽ ảnh hởng rất nhiều đến các
quá trình sau hoặc làm mất cơ hội kinh doanh hoặc tối thiểu cũng làm chậm đi một
thời gian nhất định. Họ cần nhận thức đợc lợi ích của ISO 9000 nh sau :
1.Giảm thiểu các hành động chữa cháy và giải phóng các cán bộ lãnh đạo
khỏi phải thờng xuyên can thiệp vào những công việc sự vụ do các nhân viên của tổ
chức đã có những công cụ đẻ tự kiểm soát công việc của mỗi ngời.
2.Cung cấp những công cụ để xác định và cụ thể hoá các nhiệm vụ bảo đảm dấn
đến các kết quả cụ thể. Bộ tiêu chuẩn phải lập ké hoạch công việc, xây dựng các quy
trình làm việc, các mô tả và các hớng dẫn để mọi ngời theo đó mà thự hiện công việc
một cách đúng đắn.
3.Cung cấp cá công cụ lập các văn bản để đánh giá tổ chức của mình một cách
có hệ thống và trên cơ sở đó mà đào tạo và huấn luyện nhân viên để nâng cao chất l-
ợng làm việc.
lớp qtcl - k40
16
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
4.Cung cấp những công cụ để nhận biết và giả quyết các vấn đề tồn tại và cách
phòng ngừa mọi sự tái diễn. Bộ tiêu chuẩn đòi hỏi thiết lập các biện pháp phát hiện sự
sai sót, xác định các nguyên nhân gây ra sai sót, lập kế hoạch và thực hiện hành động
khắc phục.
5.Cung cấp những công cụ để giúp mọi ngời thực hiện đúng nhiệm vụ ngay từ
đầu. Điều này đạt đợc nhờ có các chỉ dẫn công việc, kiểm soát nội bộ, lãnh đạo tạo
công việc sẽ tạo thuận lợi cho việc áp dụng sau này. Mọi thuận lợi khó khăn trong
việc áp dụng cần đợc thảo luận, trao đổi công khai. Mọi ý kiến đề xuất cần đợc quan
tâm, không đợc coi thờng bất kỳ ý kiền nào. Có nh vậy công nhân mới mạnh dạn đề
xuất ý kiến. Một số công ty thành lập nhóm chất lợng. Hoạt động của nhóm chất lợng
rất có ích cho việc xây dựng nền văn hoá chất lợng trong công ty.
3 Khảo sát hệ thống hiện có của doanh nghiệp
Việc khảo xát hệ thống hiện có nhằm xem xét trình độ hiện tại của quá trình
hiện có , thu thập các chính sách chất lợnh ,thủ tục hiện hành tại các đơn vị. Sau đó so
sánh tài liệu thu đợc với các yêu cầu của các tiêu chuẩn ISO 9000, xác định các hạot
động nào phải thoả mãn các yêu cầu cụ thể của ISO 9000, tìm ra những lỗ hổng
cần bổ sung và lập kế hạch cụ thể để xây dựng các thủ tục, tài liệu cần thiết. Trong
lớp qtcl - k40
17
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
giai đoạn này, cần có ý kiến đóng góp của các bộ phận có liên quan, các chuyên gia
có kinh nghiệm. Lu ý rằng rất nhiều tài liệu thu đợc trong bớc này có thể sử rụng để
da vào hệ thống chất lợng mới. Việc sử dụng các l đồ ( flowchart ) để phân tích quá
trình kinh doanh của công ty, từ lúc nhận hợp đồng đến khi giao sản phẩm cho khách
hàng sẽ giúp ích cho quá trình phân tích.
Việc khảo xát lại hệ thống cũng chính là tự đánh giá mình xem mình mạnh ở chỗ
nào, từ đó xác định mình cần phải phát huy những gì và khắc phục những gì. Qua
tiến trình phát triển hoạt động chất lợng trong các doanh nghiệp nớ ta, chủ yếu trong
những năm 80 và 90, ta thấy một bức tranh hết sức đa dạng về trình độ quản lý chất l-
ợng. Nhiều doanh nghiệp hiện nay vẫn đang còn đứng ở mức kiểm tra thụ động. Một
số doanh nghiệp thì đang đi vào quản lý chất lợng tổng hợp hoặc gệ chất lợng ở những
mức độ khác nhau.
Ví dụ về quá trình đánh giá lại hệ thống trớc khi áp dụng hệ thống chất lợng ở
tại công ty thiết bị kỹ thuật điện, công ty chế tạo máy điện Việt nam - Hungary
(VIHEM ) khi thực hiện ISO 9000.
phải đợc học tập trên 30 giờ, cán bộ quản lý chủ chốt quản lý học tập trên 100 giờ, tổ
chức kiểm tra nhận thức cho 100% cán bộ công nhân viên trong công ty.
Công tác đào tạo có thể là tranh thủ học tập : kế thừa những bài học, những kinh
nghiệm của các doanh nghiệp cùng loại hình sản xuất, cùng loại sản phẩm hàng hoá
đã đợc cấp chứng chỉ ISO 9000 để khỏi dàn trải công việc và rút ngắn thời gian thực
hiện.
Đào tạo có thể triển khai trong toàn doanh nghiệp và đối với mọi thành viên. Cần
phải tổ chức học và làm theo ISO 9000 trong toàn doanh nghiệp, tạo một sự chuyển
biến trong doanh nghiệp về trách nhiệm với chất lợng và quản lý, gắn với phong trào
thi đua hoặc các hoạt động của doanh nghiệp.
Trong phạm vi hoạt động hệ thống chất lợng, thì hoạt động đào toạ có hai nội
dung chính sau :
- Đào tạo huấn luyện về kỹ thuật, chuyên mộ nghiệp vụ để nâng cao năng lực
cho những ngời trong những phòng ban chức năng nh Marketing, thiết kế, cung ứng,
công nghệ sản xuất.
- Đào tạo về phơng pháp và cách thực hiện hệ thống chất lợng tơng ứng với ISO
9000.
Cả hai nội dung này đều nhằm nâng cao năng lực, kỹ năng cho nhân viên mọi
cấp của công ty.
Ngoài ra công ty cần đào tạo trong những trờng hợp sau :
- Khi có sự kiên xẩy ra, do ngời thực hiện thiếu kỹ năng và hiểu biết ;
- Khi sử dụng công nghệ hay thiết bị mới ;
- Khi công ty bớc vào một thị trờng xuất khẩu mới đòi hỏi làm quen với ngôn
ngữ mới và yêu cầu mơí đối với sản phẩm
Vì vậy ,trong các thủ tục đào tạo cần phải có quy định về cách xác định các nhu
cầu đạo, trách nhiệm tổ chức, yêu cầu phải đạt đợc cho mọi nhân viên.
Có thể phân theo hai cấp đào tạo trong công ty nh sau :
Đào tạo cán bộ điều hành công ty và các cấp :
- Mọi cấp cán bộ điều hành kể cả lãnh đạo công ty , phải có hiểu biết về hệ
thống chất lợng , cách thức điều hành và các chuẩn mực đánh giá hiệu quả . Để đáp
phải giải đáp đợc những câu hỏi : phải lám gì, phải đạt kết quả nào, làm ở đâu, làm
vào lúc nào và quan hệ với toàn bộ hệ thống ra sao để đảm bảo tính liên tục và thống
nhất cuả hệ thống quản lý ? Hệ thống văn bản theo ISO 9000 đã làm cho hệ thống
chất lợng trở thành hữu hình và ngời quản lý có căn cứ để kiể tra và đánh giá xem hệ
thống có đợc vận hành hay không, từ đó có cơ sở điều chỉnh và cải tiến.
Hệ thống văn bản nói chung gồm có ba cấp sau đây :
Tầng 1 : Sổ tay chất lợng lợng nằm trên củng của hệ thống phân cấp tài liệu,
nhằm tóm tắt hay đa ra một cách nhìn tổng quan về cách thức thực hiện các công việc,
tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9000 ( chẳnh hạn ISO 9002 ). Sổ tay chất l-
ợng nêu chính sách chung của công ty về vấn đề chất lợng, và các công việc công ty
làm tơng ứng với từng yêu cầu của tiêu chuẩn đợc áp dụng. Khi cần nói rõ về cách
thức thự hiện các chính sách đó,sổ tay chất lợng thờng viện dấn các thủ tục.
Tầng 2 : Là hệ thống các thủ tục. Mục đích của chúng nhằm mô tả cách thức
thực hiện các quá trình. Phần lớn các hệ thống chất lợng theo mô hình ISO 9000 có
thể đợc mô tả thỏa đáng bởi 10 đến 15 thủ tục chung.
Tần 3 : Là hệ thống chỉ dấn công việc để kiểm soát một cách chi tiết từng công
việc cụ thể của các quá trình kinh doanh .Boa gồm những văn bản đuợc sử dụng tại
nơi làm việc. Số lợng của những tài liệu này phụ thuộc vào kỹ năng, trình độ của các
nhân viên có liên quan đến công việc cụ thể đó. Các kế hoạch chất lợng cũng nằm
trong tầm tài liệu này. Kế hoạch chất lợng quy định cách thức áp dụng hệ thống chất
lợng một tình huống cụ thể, cho một sản phẩm, loại sản phẩm hay một hợp đồng cụ
thể. Trong kế hoạch chất lợng có thể đa ra các yêu cầu chất lợng bổ sung
Một loại hình đặc biệt là hồ sơ chất lợng. Hồ sơ chất lợng không phải là tài liệu
theo nghĩa thông thờng. Đó là kết quả của các hoat động đợc ghi lại, ví dụ nh các mẫu
biểu hay phiéu hạng mục kiêmt tra đã đợc điền đủ thông tin, các báo cáo, biên bản
họp. Hồ sơ chất lợng đợc hoàn chỉnh trong suốt quá trình thực hiện công việc, chúng
cung cấp các bằng chứng khách quan về hoạt động của hệ thóng chất lợng.
Quá trình xây dựng hệ thống văn bản trên có thể gồm các bớc sau :
Bớc 1 : Phân tích khái quát các quá trình
lớp qtcl - k40
mình đợc quy định nh thế nào trên tài liệu. Công việc này chính là làm cho mọi ngời
không bao giờ quên công việc của mình là làm những gì. Khi có quên là họ chỉ nhìn
vào tài liệu là họ có thể nhớ lại đợc. Chính vì thế khi công việc đã đợc hiện thực hoá
nên thì mọi việc sẽ đợc làm chôi chảy, không bị lỗi ở giai đoạn nào cả.
Công việc phổ biến, đào tạo là để cho mọi ngời thấm nhuần hệ thống chất lợng
của công ty trớc khi đi vào thực hiện công vẹc. Và giờ đây khi làm việc mọi ngời đều
có bản hớng dẫn công việc của mình ngay trớc mặt đối với những ngời công nhân, đã
làm cho họ không boa giờ thiếu những thao tác trong công việc mặc dù họ đã quen và
nhớ. Đây chính là vấn đề tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lợng theo yêu cầu khách
hàng.
Công tác phổ biến đào tạo này có thể phân ra theo đối tợng trong công ty. Đối
với cán bộ lãnh đạo và ngời quản lý thì cần phải nắm rõ cả hệ thống tài liệu này ,quán
triệt thống nhất thì mới có thể chỉ đoạ đợc. Còn đối với công nhân sản xuất, làm công
việc cụ thể của mình thì có thể không cần phải nắm toàn bộ hệ thống tài liệu, họ chỉ
nắm tài liệu liên quan đến công việc của mình đang làm mà thôi.
7.Nguồn kinh phí cho thực hiện công tác đổi mới quản lý chất lợng
Để thc hiện bất cứ một công việc nào đều cần phải có nguồn cung cấp cho nó để
đảm bảo cho công việc diễn ra một cách chôi chảy, thì mọi việc mới có thể hoàn
lớp qtcl - k40
21
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
thành đợc. Công tác đổi mới quản lý chất lợng là một công việc lớn, khó khăn, nó đòi
hỏi mất nhiều thời gian và tiền bạc. Do đó dự trù kinh phí cho công tác đổi mới quản
lý chất lợng này là một vấn đề quan trọng để hoàn thành mọi việc chúng ta làm cho
công tác đổi mới. Đây là việc mà các nhà quản lý cấp cao phải dự tính, hoạch toán nó
cho doanh nghiệp mình trớc khi thực hiện các biện pháp đổi mới trên.
Dự trù nguồn kinh phí cho doanh nghiệp đổi mới, các nhà quản lý phải thực hiện
các biện pháp tài chính của mình, dựa vào tình trạng doanh nghiệp của mình để tìm
nguồn chi phí cho các công việc đổi mới. Có nh vậy nhà doanh nghiệp mới thu đợc
ợng của ta lên một bớc, tạo đà cho bớc nhẩy tiếp theo để áp dụng đợc ISO 9000.
Khi xây dựng cho mình một hệ chất lợng thích hợp với doanh nghiệp, dù trình độ
quy mô của doanh nghiệp có khác nhau đến đâu, quy mô của doanh nghiệp có khác
nhau đến đâu, cần chú ý thờng xuyên đến các nội dung đảm bảo chất lợng, điều khiển
chất lợng và cải tiến chất lợng, coi đó là những nội dung cơ bản của quản lý chất lợng
trong doanh nghiệp.
Trớc hết, mọi yêu cầu đề ra đối với chất lợng sản phẩm cần đợc đảm bảo thực
hiện nghiêm túc ở mọi khâu, tại mọi giai đoạn trong chu trình sống của sản phẩm, ở
lớp qtcl - k40
22
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
mọi cấp quản lý của doanh nghiệp. Việc đảm bảo chất lợng ở đây nhằm tạo gia một
niềm tin vững chắc trong nội bộ doanh nghiệp. Niềm tin ấy là cần thiết đối với ngời
chủ doanh nghiệp cũng nh đối với từng cán bộ công nhân trong doanh nghiệp, nó tạo
nên sự hào hứng, sự phấn khởi trong doanh nghiệp cũng nh sự mạnh dạn đầu t sức ng-
ời, sức của để phát triển doanh nghiệp. Niềm tin đó rất cần thiết cho khách hàng để họ
yên tâm ký hợp đồng với nhà cung ứng mà không bị ám ảnh bởi những lỗi ngờ vực về
khả năng thực thi của nhà cung ứng.
Muốn đảm bảo chất lợng sản phẩm, doanh nghiệp cần đẩy mạnh các hoạt động
điều khiển chất lợng. Có điều khiển chất lợng đợc tốt thì doanh nghiệp mới đảm bảo
chất lợng đợc theo yêu cầu đề ra. Doanh nghiệp phải điều khiển đợc các quá trình
diễn ra trong doanh nghiệp sao cho nhịp nhàng, cân đối, phù hợp chặt chẽ với nhau,
theo dõi các quá trình đó để loại trừ nguyên nhân của những hoạt động không đáp ứng
yêu cầu ở mọi khâu, mọi giai đoạn, mọi cấp của quá trình quản lý sao cho đáp ứng đ-
ợc các yêu cầu chất lợng đề ra và đạt hiệu quả kinh tế cao. Quá trình là một tập hợp
các nguồn lực và các hoạt động có liên quan với nhau để biến đổi đầu vaò thành đầu
ra. Trong một doanh nghiệp sản xuất có vô số các qúa trình diễn ra liên tục và song
song đòi hỏi phải đợc điêù khiển, từ các nguồn nhân lực, trang thiết bị đến công nghệ
và phơng pháp, từ các quy trình thiết kế, chế tạo đến các quy trình kiểm tra, vận hành,
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
IV. Kết luận
Ta thấy trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp Việt nam phải tự vơn trải
trên thị trờng, không đợc bao cấp nh nền kinh tế tập trung.Vì vậy, họ phải chấp nhận
sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trờng, tự mình phải tìm tòi con đờng để phát triển.
Bởi vậy để tồn tại đợc các doanh nghiệp Việt nam phải có những chính sách, chiến lợc
sản phẩm đúng đắn thì mới có thể tồn tại đợc. Họ phải nâng cao chất lợng hạ giá
thành sản phẩm, đa dạng hoá thị trờng của mọi ngành kinh tế nói chung và ngành
công nghiệp Việt nam nói riêng .Do đó chất lơng yếu tố quyết định sự hội nhập của
hàng hoá Việt nam vào thị trờng thế giới phụ thuộc vào các doanh nghiệp Việt nam.
Chính vì vậy các doanh nghiệp phải đổi mới hệ thống quản lý chất lợng là nhiệm vụ
cần thiết và cấp bách, để nâng cao chất lợng lên một tầm cao nới, sản phẩm hàng hoá
sản xuất ra mới thoả mãn đợc yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, mới có sức
mạnh cạnh tranh về chất lợng trên thị trờng quốc tế và việt nam mới có thể htu hẹp đ-
ợc khoảng cách kinh tế với các nớc phát triển trên thế giới.
Nh vậy trong bài viết này em đã trình bầy một số những hiểu biết về các biện
pháp cơ bản tong quá trình đổi mới hệ thống quản lý chất lợng theo mô hình ISO 900
trong các doanh nghiệp Việt nam. Em mong thầy xem xét và giúp đỡ em sửa bài viết
này.
Cuối cùng em xin cảm ơn các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy Vũ Anh Trọng đã
giúp em hoàn thành đề tài này.
lớp qtcl - k40
24
Các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới công tác quản lý chất lợng theo mô hình ISO 9000
mục lục
Lời nói đầu 1
I. Đặt vấn đề trong đổi mới chất lợng 2
1. Vai trò của chất lợng trong cạnh tranh toàn cầu 2