LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chuyên đề nghiên cứu
Dệt may là mặt hàng truyền thống lâu đời và là một trong những mặt
hàng xuất khẩu mũi nhọn của đất nước. Đây là ngành khai thác có hiệu quả
lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần quan trọng trong việc tăng thu ngoại tệ,
cải thiện cán cân thanh toán, giải quyết việc làm, đóng góp lớn cho ngân sách
nhà nước.
Đối với Đà Nẵng, dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang lại nguồn
thu ngoại tệ lớn cho thành phố. Năm 2005, ngành dệt may đứng vị trí thứ 3
trong các ngành công nghiệp, đóng góp 12,3% trong giá trị sản xuất công
nghiệp và giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố. Sự phát triển của ngành
còn góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động trong đó 80% là phụ
nữ, nhờ đó góp phần nâng cao mức sống và ổn định chính trị-xã hội.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành
dệt may Việt Nam nói chung và dệt may Đà Nẵng nói riêng đang đứng trước
những thách thức rất lớn. Sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ mà điển hình
là Trung Quốc, sự thay đổi trong cơ chế, chính sách, luật lệ, cũng như những
trở ngại trong môi trường kinh doanh quốc tế…Do vậy việc đi sâu nghiên
cứu, phân tích thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may ở Việt Nam
nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng là một vấn đề có ý nghĩa thực
tiễn rất lớn. Xuất phát từ tính chất quan trọng như trên nên chuyên đề “Các
biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu hàng dệt may của các
doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới” được chọn để nghiên
cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến chuyên đề
Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chuyên đề như:
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Huy (2001) “Những giải pháp
1
thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Tổng công ty dệt may Việt Nam” đã
phân tích thực trạng xuất khẩu ở Tổng công ty dệt may Việt Nam, làm rõ
được những nguyên nhân, hạn chế trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may ở
Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất
khẩu hàng dệt may ở thành phố Đà Nẵng.
Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề giới hạn ở hoạt động xuất khẩu hàng dệt
may của các doanh nghiệp ở thành phố Đà Nẵng kể từ năm 2000 đến nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp của phép biện chứng duy vật và duy vật
lịch sử. Đồng thời sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích
đánh giá…để giải quyết vấn đề đặt ra. Nguồn tư liệu sử dụng trong chuyên đề
được lấy từ Niên giám thống kê Việt Nam, Niên giám thống kê thành phố Đà
Nẵng, Bộ Công thương, Sở công thương thành phố Đà Nẵng, Sở Kế hoạch
đầu tư thành phố Đà Nẵng, Cục Thống kê Đà Nẵng, Các tạp chí chuyên
ngành, các Website…
5. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
chuyên đề được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may ở thành phố Đà
Nẵng trong thời gian qua.
Chương 2: Định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt
may ở thành phố Đà Nẵng trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO.
3
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA
1.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH DỆT MAY ĐÀ NẴNG
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ngành dệt may Đà Nẵng
Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng trước đây là địa phương có truyền thống về
ngành dệt may và đã từng nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt
lụa, trồng bông dệt vải.
Sau ngày giải phóng thành phố coi đây là một ngành công nghiệp mũi
nhọn nên ngành dệt may đã được phục hồi và phát triển. Giai đoạn hiện
Bảng 1.1: Giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt may
TP Đà Nẵng qua các năm
ĐVT: Triệu đồng
GTSXCN
(Giá CĐ năm 1994)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Toàn ngành
416.112 509.329 611.875 795.421 1028.736 1270.045 1843.897 2450.845
A/ Ngành dệt
287.476 307.185 375.157 461.723 628.535 715.372 945.723 1365.289
- Trung ương
106.529 125.422 138.861 215.576 303.471 305.132 420.408 606.795
- Địa phương
180.947 181.763 236.296 246.147 325.064 360.014 455.423 682.983
-DN có vốn ĐTNN
- - - - - 50.226 69.892 75.511
B/ Ngành may
128.636 202.144 236.718 333.698 400.201 554.673 898.174 1085.556
- Trung ương
55.493 90.367 98.474 143.971 153.445 213.480 390.906 415.612
- Địa phương
53.025 89.602 112.571 161.838 215.975 300.050 453.598 609.590
-DN có vốn ĐTNN
20.118 22.175 25.673 27.889 30.781 41.143 53.670 60.354
(Nguồn số liệu: Sở Công nghiệp thành phố Đà Nẵng)
Những năm gần đây, trong lĩnh vực dệt may tại thành phố Đà Nẵng có
nhiều biến động, khối kinh tế quốc doanh đang giảm dần về số lượng do quá
trình cổ phẩn hóa diễn ra mạnh mẽ, khối dân doanh bắt đầu gia tăng do chính
sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân của thành phố. Tuy nhiên, phần lớn
5
4.729
2.957
1.772
1.567
50,2
11,6
28,9
18
10,9
9,7
945.723
420.408
455.423
315.287
140.136
69.892
51,3
22,8
24,7
17,1
7,6
3,8
B/ Ngành may
- Trung ương
- Địa phương
+ Quốc doanh
+Ngoài quốc doanh
- DN có vốn ĐTNN
917
1
kinh tế-xã hội Đà Nẵng
Dệt may là ngành kinh tế mũi nhọn của công nghiệp thành phố Đà Nẵng.
Những năm qua, sự phát triển của ngành dệt may nói chung và hoạt động xuất
khẩu dệt may nói riêng đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển
kinh tế xã hội của thành phố. Cụ thể:
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH đúng với
6
tinh thần chủ trương của Đảng, Nhà nước và thành phố Đà Nẵng đã đề ra.
Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động
Góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác.
Góp phần tích lũy vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố
Góp phần thực hiện chiến lược mở cửa hội nhập vào khu vực và thế giới
của thành phố
1.2. THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA
1. 2.1. Về công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Ngành dệt: Hiện nay, công nghệ dệt của thành phố đang ở trình độ trung
bình, mức tự động thấp khoảng 35%.
Về sản xuất sợi, những năm gần đây đã có một số dây chuyền mới, sử
dụng công nghệ bông chải liên hợp tự động cao, ứng dụng rộng rãi các kỹ
thuật tiến bộ về vi mạch điện tử vào hệ thống điều khiển tự động và khống
chế chất lượng sợi, nhờ vậy đã có sản phẩm đạt chất lượng cao, tuy nhiên sản
lượng còn ít.
Đối với dệt vải, dệt khăn bông tuy đã có sự tiến bộ đáng kể từ chỗ chỉ sử
dụng hoàn toàn công nghệ dệt thoi với năng suất và chất lượng thấp, nay bổ
sung một số thiết bị dệt kiếm và thổi khí, đã bước đầu phát huy tác dụng, góp
phần nâng cao năng suất, chất lượng và phong phú về mẫu mã.
Ngành May: Những năm trước đây ngành may tổ chức may trên dây
chuyền bằng các máy may đạp chân, dần dần được trang bị máy may công
nghiệp của Liên Xô. CHLB Đức, Hungari, đồng thời bổ sung máy của Nhật
để đảm bảo chất lượng hàng gia công. Từ năm 1997 đến nay, ngành may
kỹ
thuật
công
nghệ
Phòng
tổ
chức
-hành
chính
Phòng
kế
hoạch
kinh
doanh
XNK
Bộ
phận
kiểm
hóa
Các phân xưởng sản xuất
Các xí nghiệp trực thuộc
Các cửa hàng giới thiệu
và bán sản phẩm.
1.2.3. Về nguồn lao động
Nguồn lao động của thành phố Đà Nẵng nói chung và ngành dệt may nói
riêng là rất dồi dào, chủ yếu là lao động trẻ, khỏe. Trung bình hàng năm
ngành dệt may giải quyết được trên 20% lao động công nghiệp, trong năm
2005, tạo việc làm cho trên 15.000 lao động (trong đó nữ >80%)
Về chất lượng lao động, theo kết quả điều tra, trình độ lao động ngành
dệt may thành phố như sau:
hạn chế: thiếu cán bộ kỹ thuật giỏi, cán bộ quản lý điều hành sản xuất như tổ
trưởng, chuyền trưởng giỏi, đặc biệt công nhân có tay nghề cao. Vì thế chưa
đáp ứng yêu cầu của công việc cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngoài ra lao
động tại các doanh nghiệp thường không ổn định làm cho sản xuất của các
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.
10
Biểu 1.3: Lao động sản xuất ngành dệt may thành phố giai đoạn 2000-2007
ĐVT: Người
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Toàn ngành 9.172 10.642 11.671 13.645 14.837 15.832 16.311 16.580
A/ Ngành dệt 4.144 5.155 5.472 5.820 6.035 7.349 8.196 8.204
Trung ương 1.495 1.580 1.732 1.840 1.828 1.872 1.900 1.970
Địa phương 2.645 3.575 3.740 3.980 4.207 4.125 4.729 4.721
+Quốc doanh 2.218 2.925 3.006 3.017 3.125 2.640 2.957 3.017
+Ngoài Quốc doanh 427 650 734 963 1.082 1.485 1.772 1.704
DN có vốn ĐTNN - - - - - 1.352 1.567 1.513
B/ Ngành may 5.028 5.487 6.199 7.825 8.802 8.483 8.115 8.376
Trung ương 797 850 875 960 1.054 1.089 1.052 1.145
Địa phương 3.321 3.617 4.088 5.408 5.485 4.970 4.911 5.126
+ Quốc doanh 1.296 1.667 1.512 1.913 1.931 1.364 1.214 1.236
+ Ngoài quốc doanh 1.925 1.950 2.576 3.495 3.554 3.606 3.697 3.890
DN có vốn ĐTNN 1.010 1.020 1.236 1.457 2.263 2.424 2.152 2.105
(Nguồn: Báo cáo qui hoạch phát triển ngành dệt may thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2001-2010 và niên giám thống kê
TP Đà Nẵng 2007)
11
1.2.4. Về thị trường cung cấp nguyên liệu
Hiện tại, nguồn nguyên vật liệu cung ứng cho sản xuất của các doanh
nghiệp dệt may Đà Nẵng, chủ yếu từ hai nguồn chính:
Nguồn nguyên vật liệu trong nước: Cung cấp bởi các nhà máy sợi Huế,
nhà máy sợi Nha Trang, nhà máy dệt sợi Hòa Thọ, dệt Phong Phú và các
1,43
58,88
31,60
18,50
42,00
6,00
2,01
58,60
29,40
18,20
47,00
8,00
1,81
(Nguồn: công ty dệt may 29/3 cung cấp)
Nguồn nguyên vật liệu từ nước ngoài: Chủ yếu từ các nước như Ấn Độ,
Pakistan, Trung Quốc, Anh…Nhìn chung nguồn nguyên vật liệu nhập từ nước
ngoài đáp ứng được các yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp dệt may. Tuy
nhiên do nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên không mang tính ổn định về giá
cả, chất lượng, số lượng và điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất
kinh doanh nói chung.
Bảng 1.5: Kim ngạch nhập khẩu trực tiếp nguyên phụ liệu ngành dệt
may ĐN ĐVT: Triệu USD
Sản phẩm Kim ngạch nhập khẩu
2003 2004 2005 2006 2007
Bông xơ 1.976 2.508 2.705 3.160 4.367
12
Phụ liệu may mặc 52.762 60.554 63.893 70.902 76.967
(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng 2007)
1.2.5. Nguồn lực về vốn và đầu tư phát triển sản xuất
Vốn sản xuất: Theo số liệu điều tra của 13 doanh nghiệp ngành dệt may
1.3. Đánh giá chung về hiện trạng ngành dệt may thành phố Đà
Nẵng
1.3.1. Thành công
Có thể nói cùng với ngành dệt may cả nước, những năm qua ngành dệt
may thành phố đã có những bước tiến đáng kể, đóng góp quan trọng vào sự
phát triển của ngành công nghiệp và kinh tế xã hội thành phố.
Tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt
may thành phố ngày càng cao: giai đoạn 2001-2005 là 25,7% cao hơn tốc độ
tăng trưởng bình quân của ngành công nghiệp thành phố, là một trong những
ngành xuất khẩu chủ lực với giá trị xuất khẩu tăng bình quân 22,3%/năm, giải
quyết việc làm cho lực lượng rất lớn của thành phố (chiếm trên 20% lao động
công nghiệp và trên 80% là lao động nữ).
So với trước, ngành dệt may đã có những thay đổi về chất rất quan trọng
từ thiết bị công nghệ đến sản phẩm, không chỉ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu tiêu dùng trong nước mà còn cạnh tranh và mở rộng thị trường tại nhiều
nước trên thế giới.
1.3.2. Hạn chế
Về trình độ công nghệ thiết bị, đã đổi mới một bước những vẫn còn lạc
hậu so với các nước trong khu vực.
Chưa sản xuất được phụ liệu phục vụ cho may xuất khẩu. Hoạt động
14
thiết kế thời trang hầu như chưa chú trọng, sản phẩm chưa thật sự đa dạng,
chủng loại mẫu mã chưa phong phú.
Tổ chức sản xuất còn nhiều mặt hạn chế, thiếu lao động có tay nghề cao,
cán bộ điều hành giỏi, năng suất lao động thấp so với các địa phương lớn của
cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…và một số nước trong khu
vực.
Các doanh nghiệp may xuất khẩu phần lớn mới chỉ làm gia công, chưa
ký trực tiếp, còn bị động, phụ thuộc quá nhiều vào đơn hàng, thời gian giao
hàng.
( Nguồn: Niên giám thống kê TP Đà Nẵng 2007)
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng trong thời gian qua kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may tại thành phố Đà Nẵng đã có bước tăng trưởng đáng kể.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 1997-2001
12%/năm, giai đoạn 2001-2005 là 22,3%.
Tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn
ngành công nghiệp thành phố ngày càng tăng. Cụ thể năm 1997 là 22,98%,
năm 2001 là 23,47% và năm 2005 là 27,6%.
Giá trị xuất khẩu hàng dệt may hàng năm chiếm bình quân trên 90% giá
trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành. Năm 2000, giá trị sản xuất toàn
ngành đạt hơn 400 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 26,075 triệu USD (chiếm
94%) giá trị sản xuất. Năm 2005 giá trị sản xuất toàn ngành đạt 1270,045 tỷ
đồng trong khi đó giá trị xuất khẩu đạt 71,335 triệu USD chiếm 84,2%.
Bảng 1.7: So sánh KNXK hàng dệt may TP Đà Nẵng/ tổng KNXK
ngành công nghiệp của thành phố.
Năm KNXK dệt may ĐN
(Triệu USD)
Tổng KNXK ngành công
nghiệp của TPĐN (Triệu
USD)
Tỷ trọng
(%)
2000 26,075 113,8 22,9
2001 31,918 135,9 23,47
2002 39,8 158,5 25,1
2003 49,83 160,7 31,0
16
2004 62,78 199,3 31,5
2005 71,335 258,5 27,6
2006 106,923 356,4 30,0
may Đà Nẵng có quan hệ với khá nhiều thị trường nhưng thực chất phần lớn
những thị trường này được hình thành theo sự phát triển tự phát của đối tác
giao dịch chứ không phải là kết quả của quá trình nghiên cứu và nỗ lực thâm
nhập thị trường của các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng.
Biểu đồ 1.2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may TP Đà Nẵng
năm 2007
(Nguồn: Sở Công thương thành phố Đà Nẵng)
Một số thị trường xuất khẩu chủ yếu của ngành dệt may Đà Nẵng:
Thị trường EU: EU là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của ngành dệt
18
may Đà Nẵng. Các khách hàng chủ yếu ở thị trường là Anh, Hà Lan, Ireland.
Trong những năm trước, EU là thị trường nhập khẩu chủ lực của dệt may Đà
Nẵng, nhưng từ khi xuất hiện thị trường Mỹ, kim ngạch xuất khẩu sang thị
trường EU đã có sự sụt giảm do các doanh nghiệp quá chú trọng vào thị
trường Mỹ, hơn nữa EU cũng là một thị trường khó tính, đòi hỏi cao về chất
lượng, mẫu mã, thời hạn giao hàng cũng điều kiện thương mại nghiêm ngặt
và được bảo hộ cao. Chính vì vậy, khả năng xâm nhập hàng dệt may Đà Nẵng
vào thị trường này có phần khó khăn. Hiện tại thị trường EU chiếm khoảng
22% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Đà Nẵng.
Bảng 1.9: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Đà Nẵng vào thị trường EU
ĐVT: Triệu USD
Năm 2001 2002 200
3
2004 200
5
2006 2007
KNXK (Triệu USD) 8,13 9,35 11,5 14,7 17,1 25,73 36,6
Tốc độ tăng (%) - 15,0 22,9 27,8 16,3 50,4 42,2
(Nguồn: Sở Công thương thành phố Đà Nẵng)
Thị trường Mỹ: Mỹ là thị trường rất hấp dẫn đối với ngành dệt may Việt
hàng dệt may hoặc thuê Đà Nẵng gia công để xuất khẩu qua các nước khác.
1.4.3. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Trong thời gian qua, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành dệt may Đà
Nẵng là sợi toàn bộ, vải lụa thành phẩm, khăn mặt các loại, thảm len, quần áo
20
may sẵn. Nhìn chung cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hàng dệt may Đà Nẵng vẫn
còn nghèo nàn về chủng loại, đơn giản về kiểu cách. Chỉ xuất khẩu những
hàng hóa với thiết kế giản đơn hoặc theo mẫu gia công của khách hàng chứ
chưa xuất khẩu được những sản phẩm cao cấp đòi hỏi kỹ thuật cao.
Bảng 1.12: Sản phẩm dệt may xuất khẩu chủ yếu của Đà Nẵng
( Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng 2007)
Bảng 1.13: Cơ cấu sản phẩm may xuất khẩu của Đà Nẵng theo thị trường
Thị trường Sản phẩm
Mỹ Jacket, quần âu, polo shirt, áo sơ mi, áo quần thể thao,
áo vest.
Đài Loan Jacket, quần âu, polo shirt, áo sơ mi, áo quần thể thao.
EU Jacket, quần âu, áo sơ mi
Nhật Jacket, quần âu
Malaysia Jacket, quần âu
Canada Áo sơ mi, polo shirt
Thụy Sỹ Jacket
Ireland Jacket
Anh Quần âu, áo sơ mi
(Nguồn: Sở công thương thành phố Đà Nẵng)
1.4.4. Các chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may
đã được áp dụng
1.4.4.1. Từ phía thành phố Đà Nẵng
Thời gian gần đây, nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động
Sản phẩm ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007
quốc tế.
Chú trọng đến công tác nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng,
vật chất kỹ thuật phục vụ tốt cho hoạt động xuất khẩu và thu hút đầu tư nước
ngoài.
1.4.4.2. Từ phía các doanh nghiệp dệt may
22
Trong thời gian gần đây, một số doanh nghiệp dệt may lớn tại Đà Nẵng
đã bước đầu chú trọng đến công tác thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, tuy nhiên
vẫn chưa có sự đầu tư đúng mức cho hoạt động này. Hiện tại, một số biện
pháp thúc đẩy xuất khẩu được các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng áp dụng là:
Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ dệt may, bổ sung các loại máy móc
chuyên dùng nhằm nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng cho sản xuất hàng
xuất khẩu.
Cử các cán bộ của doanh nghiệp đi tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ
về hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường…
Tích cực tham gia hoạt động xúc tiến thương mại, tham gia các cuộc hội
chợ triễn lãm quốc tế về hàng dệt may nhằm quảng bá sản phẩm dệt may của
doanh nghiệp, tìm kiếm cơ hội ký kết hợp đồng và thiết lập mối quan hệ với
khách hàng mới.
1.5. Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của thành phố Đà
Nẵng
1.5.1. Kết quả đạt được
Trong thời gian qua, với sự cố gắng nổ lực chung của toàn ngành cũng
như của từng doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu dệt may thành phố Đà Nẵng
đã đạt được một số kết quả:
Kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm. Giai đoạn 1997-2001 kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may Đà Nẵng tăng bình quân 12%, giai đoạn 2001-
2005 tăng bình quân 22,3%. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm tỷ
trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp
thành phố: năm 2001 chiếm 23,47%, năm 2005 chiếm 27,6%.
Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu chưa đa dạng, mẫu mã thiết kế còn
đơn điệu, chủ yếu là các mặt hàng sản xuất đơn giản.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may Đà Nẵng còn rất thấp,
thương hiệu chưa có trên thị trường quốc tế.
Công tác mở rộng thị trường xuất khẩu tuy đã có nhiều cố gắng nhưng
chưa đáp ứng nhu cầu.
1.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động xuất khẩu
24
dệt may của thành phố Đà Nẵng như:
Nguồn vốn đầu tư phát triển ngành dệt may tại Đà Nẵng còn nhiều hạn
chế.
Hiện tại dệt may Đà Nẵng vẫn chưa chủ động được nguồn nguyên phụ
liệu cho ngành dệt may của mình.
Do phần lớn các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng có quy mô vừa và nhỏ,
nguồn lực về tài chính, nhân sự còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn
trong công tác nghiên cứu phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu, tìm
kiếm khách hàng cũng như thực hiện các đơn hàng.
Do vị trí địa lý của thành phố Đà Nẵng không thuận lợi, cơ sở hạ tầng, hệ
thống thông tin liên lạc, giao thông không thuận lợi, cước phí vận chuyển
cao…
Sự yếu kém trong công tác nghiên cứu thị trường, marketing quốc tế,
thiết kế thời trang…thành phố và các doanh nghiệp dệt may chưa chú trọng
công tác này.
Nguồn lao động cũng là một trong những yếu kém của dệt may Đà Nẵng.
Hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư…trong thời gian qua tuy
đã có nhiều cố gắng song chưa hiệu quả.
Công tác quản lý Nhà nước liên quan đến hoạt động xuất khẩu của một
số Sở, Ban ngành tuy đã có nhiều cải tiến nhưng nhìn chung còn khá thụ
động, thiếu cán bộ có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ.