Yêu cầu đánh giá hiệu lực thuốc sốt rét khi điều trị - Pdf 19

Yêu cầu đánh giá hiệu lực thuốc sốt rét khi điều trị Tại sao phải đánh giá hiệu lực thuốc ?
Khi điều trị bệnh sốt rét, các cơ sở y tế thường sử dụng các loại thuốc đặc hiệu
theo phác đồ quy định của Bộ Y tế. Thuốc điều trị ưu tiên (first line) được chỉ định
sử dụng Dihydroartemisinin-Piperaquine (biệt dược là Arterakine hoặc CV
Artecan) dùng 3 ngày và Primaquin dùng liều duy nhất nếu bị nhiễm sốt rét do
Plasmodium falciparum; sử dụng Chloroquin dùng 3 ngày và Primaquin dùng 14
ngày nếu bị nhiễm sốt rét do Plasmodium vivax. Theo hướng dẫn, trong quá trình
điều trị, nếu điều trị thất bại có thể chuyển sang sử dụng thuốc điều trị thay thế
(second line). Chủng loại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum thường có
khả năng kháng lại với thuốc điều trị, vì vậy trong chỉ đạo của Bộ Y tế, cần đánh
giá hiệu lực của thuốc điều trị sốt rét đối với chủng loại ký sinh trùng này để có
chỉ định việc dùng thuốc điều trị thay thế. Muốn biết việc điều trị bằng thuốc điều
trị ưu tiên (first line) đã sử dụng bị thất bại hay không để có chỉ định dùng thuốc
điều trị thay thế (second line), cần phải đánh giá tác dụng hiệu lực thuốc theo quy
trình. Phương pháp đánh giá này tương đối đơn giản nếu tại cơ sở y tế có kính hiển
vi quang học với trang thiết bị dụng cụ, hóa chất xét nghiệm đồng bộ và kỹ thuật
viên được đào tạo theo kỹ thuật yêu cầu.

Phương pháp đánh giá hiệu lực thuốc
Để đánh giá hiệu lực thuốc bảo đảm yêu cầu, cần chọn bệnh nhân có tiêu chuẩn
chỉ nhiễm đơn thuần một chủng loại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum,
mật độ ký sinh trùng trong máu từ 2.000 đến 200.000 ký sinh trùng thể vô tính
(trophozoite) trên một micro-lít máu; nhiệt độ của cơ thể đo được ở nách ³ 37,5oC
hoặc đo được ở miệng hay hậu môn ³ 38oC và người bệnh có thể uống được thuốc.
Cần loại trừ những bệnh nhân có những dấu hiệu nguy hiểm của sốt rét nặng và
sốt rét ác tính do bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum. Không
chọn bệnh nhân bị nhiễm phối hợp nhiều chủng loại ký sinh trùng, nhiễm đơn
thuần các loại ký sinh trùng khác như Plasmodium vivax, Plasmodium malariae.

Xác định việc điều trị đáp ứng, bệnh nhân khỏi bệnh khi hết các triệu chứng lâm
sàng, sạch ký sinh trùng sốt rét trong máu sau 3 ngày điều trị (ngày D3) và không
có ký sinh trùng sốt rét xuất hiện trở lại trong máu suốt thời gian điều trị tính đến
ngày D28.
Nếu kết quả xét nghiệm máu chỉ có ký sinh trùng sốt rét thể giao bào (gametocyte)
mà bệnh nhân không sốt, đây không phải là trường hợp điều trị bị thất bại mà cần
sử dụng thuốc primaquin để diệt giao bào chống lây lan.
Đối với các trường hợp nhiễm ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum, khi
điều trị bằng thuốc điều trị ưu tiên bị thất bại, có thể sử dụng thuốc điều trị thay
thế có hiệu lực cao hơn. Thuốc điều trị thay thế sử dụng Quinine 7 ngày kết hợp
với Doxycycline 7 ngày; phụ nữ có thai và trẻ em dưới 8 tuổi dùng Quinine 7 ngày
kết hợp với Clindamycine 7 ngày. Riêng chủng loại ký sinh trùng Plasmodium
vivax vẫn đáp ứng hiệu quả tốt với thuốc điều trị ưu tiên Chloroquin và Primaquin,
vì vậy chưa cần đánh giá hiệu lực thuốc điều trị đang sử dụng như chủng loại
Plasmodium falciparum.
Các cơ sở khám chữa bệnh nếu có điều kiện nên thực hiện đầy đủ việc đánh giá
hiệu lực thuốc sốt rét theo hướng dẫn của Bộ Y tế quy định để phân loại đáp ứng
điều trị, đồng thời có cơ sở phát hiện các trường hợp ký sinh trùng có khả năng
kháng thuốc, điều trị thất bại nhằm sử dụng thuốc điều trị thay thế có hiệu quả tốt
hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status