Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
16
Nam năng lực cạnh tranh cấp quốc gia còn thấp đứng thứ 65 trên 80 nước
(năm 2002), tăng 5 bậc so với năm 2001 (là 60/75 nước).
2.2.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá:
Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu
dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so vớ
i
những sản phẩm hàng hoá cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó
thấp.
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạ
nh tranh của sản phẩm hàng
hoá và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. đó là hai phạm trù khác nhau
nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có
được do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra; nhưng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá
quyết định mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa. Tuy nhiên, năng
lực cạ
nh tranh của hàng hoá có ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
3. Vai trò của cạnh tranh:
Cạnh tranh có vai trò rất to lớn và quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và của bản thân mỗi DNVVN nói riêng. Bất kỳ
một nền kinh tế nào cũng cần thiết phải duy trì sự cạnh tranh. Đứng ở góc độ
lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà n
ước sử dụng để chống
xuất kinh doanh và khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có chi
phí thấp vươn lên.
Để tham gia vào thị trường doanh nghiệp phải tuân thủ quy luật đào
thải chon lọc. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự
nâng cao chất
lượng của chính mình, nâng cao trình độ kiến thức về kinh doanh. Do đó,
cạnh tranh là điều kiện rất tốt để đào tạo ra những nhà kinh doanh giỏi.
Cạnh tranh là động lực cơ bản nhằm kết hợp một cách tối ưu nhất
lợi ích của các doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã
hội. Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cạnh tranh đượ
c
coi là cá lớn nuốt cá bé, do đó không được khuyến khích. Song hiện nay,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
18
cạnh tranh đã được nhìn nhận theo xu hướng tích cực, tác dụng của nó được
thể hiện rất rõ ở sự phá sản của một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu
quả và sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp khác biết sử dụng hiệu
quả các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Tóm lại, cạnh tranh là động lực phát triển của hệ thống doanh
nghiệp nói chung và của t
ừng DNVVN nói riêng, là công cụ hữu hiệu của
Nhà nước để điều tiết các hoạt động kinh doanh trên thị trường.
4. Các chiến lược cạnh tranh cơ bản:
Đôi khi một doanh nghiệp có thể theo đuổi rất nhiều chiến lược và
coi tất cả các chiến lược đó là mục tiêu cơ bản của mình, mặc dù điều này
rất hiếm có khả năng thực hiện. Vì việc thự
c hiện bất cứ một chiến lược nào
cũng đều đòi hỏi tâm huyết của toàn doanh nghiệp và những sắp xếp, tổ
- Chiến lược khác biệt hoá:
Chiến lược này làm khác biệt hoá sản phẩm, dịch vụ của doanh
nghiệp tạo ra điểm độc đáo riêng được thừa nhận trong tòan ngành. Các
phương pháp khác biệt hoá sản phẩm được thể hiện dưới nhiều hình th
ức:
Sự điển hình về thiết kế hoặc danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặt
tính của các sản phẩm, dịch vụ khách hàng… Tuy nhiên, chiến lược này
không cho phép doanh nghiệp bỏ qua yếu tố chi phí, mặc dù chi phí không
phải là mục tiêu chiến lược cơ bản.
Khác biệt hoá sản phẩm, nếu đạt được, sẽ là chiến lược tạo khả năng
cho doanh nghiệp thu được tỷ
lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân bởi vì nó
tạo nên một vị trí chắc chắn cho doanh nghiệp trong việc đối phó với các lực
lượng cạnh tranh khác. Khác biệt hoá tạo nên sự tin tưởng của khách hàng
vào nhãn hiệu, dẽ dẫn đến khả năng ít biến động hơn về giá cả. Nó làm tăng
tỷ lệ lợi nhuận vì thế tránh được sự cần thiết phải tạo ra mức chi phí thấp.
Dễ dàng giảm bớt quyền lực của người mua vì họ thiếu những điều kiện để
so sánh. Sự khác biệt hoá sản phẩm sẽ thuận lợi hơn khi phải đương đầu với
sản phẩm thay thế.
Thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm đôi khi có thể loại trừ
khả năng đạt được thị phần cao vì tính riêng biệt không đi li
ền với thị phần
cao. Tuy nhiên thực hiện chiến lược này nhiều khi đã thực hiện sự đánh đổi
về chi phí nếu chiến lược này yêu cầu những hoạt động đòi hỏi chi phí cao.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
20
- Chiến lược trọng tâm hoá:
Chiến lược trọng tâm hoá là sự tập trung vào một nhóm người cụ thể,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
21
Thờng thì cạnh tranh trở nên khốc liệt khi ngành ở giai đoạn bão
hoà, hoặc suy thoái, hoặc có đông các đối thủ cạnh tranh bằng vai phải lứa
với các chiến lược kinh doanh đa dạng và do những rào cản kinh tế làm cho
các doanh nghiệp khó tự do di chuyển sang ngành khác. Để có thể bảo vệ
khả năng cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải thu thập đủ thông
tin cần thiết về các đối thủ cạnh tranh chính có s
ức mạnh trên thị trường và
tình trạng ngành để làm cơ sở hoạch định chiến lược.
5.2. Nguy cơ đe doạ nhập ngành từ các đối thủ tiềm ẩn :
Hiểu biết đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa quan trọng đối
với các doanh nghiệp vì sự xuất hiện của các đối thủ mới, đặc biệt khi các
đối thủ này có khả năng mở rộng s
ản xuất và chiếm lĩnh thị phần, sẽ làm
cạnh tranh trở nên khốc liệt và không ổn định. Để hạn chế sự đe doạ các đối
thủ tiềm ẩn, các doanh nghiệp thờng duy trì và không ngừng nâng cao các
hàng rào bảo vệ hợp pháp, đặc biệt là về công nghệ. Trong quá trình hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay, các công ty xuyên quốc gia hoặc
các công ty nớc ngoài có tiềm lực tài chính và công nghệ đáng kể th
ực sự là
đối thủ “nặng ký” đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong nước là những
doanh nghiệp có tiềm lực rất hạn chế và sức cạnh tranh thấp.
5.3. Quyền lực thương lượng hay khả năng ép giá của người
mua:
Đối với các doanh nghiệp thì mọi việc chỉ có ý nghĩa khi tiêu thụ đ-
ược sản phẩm và có lãi. Chính vì vậy, sự tín nhiệm của khách hàng luôn là
tài sản có giá trị quan trọng của doanh nghiệp và doanh nghiệ
n tiềm năng của ngành, nhất là những sản phẩm có chu kỳ sống ngắn
như máy tính, đồ điện tử…Vì phần lớn các sản phẩm thay thế là kết quả của
quá trình thay đổi công nghệ, nên thường có ưu thế về chất lượng và giá
thành sản phẩm, mặc dù giá thành ban đầu có thể cao hơn so với các sản
phẩm hiện có bán trên thị trường. Biện pháp chủ yếu sử dụng
để hạn chế sự
tác động của sản phẩm thay thế là tăng cường đầu tư cho R&Doanh nghiệp,
đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý… nhằm giảm giá thành và
nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc tăng cường tính độc đáo khác biệt của
sản phẩm.
CHƯƠNG II :
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
23
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT TÌNH HÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM:
1. Môi trường cạnh tranh quốc tế của Việt Nam:
Môi trưòng cạnh tranh quốc tế của Việt Nam không ngừng được mở
rộng, với các hình thức hợp tác kinh tế với các nước khác, tham gia vào các
tổ chức phi Chính phủ. Năm 1995 tham gia hợp tác Á-ÂU (ASEM) với tư
cách là thành viên sáng lập, năm 1999 là thành viên chính thức của APEC,
Việt Nam đã cam kết gia nhập WTO năm 2005, gia nhập ASEAN/AFTA
năm 2006; có quan hệ kinh tế với trên 160 quốc gia và lãnh thổ trên thế
giớ
i… Nhiều tổ chức nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam
với nhiều hình thức: cho vay vốn, hỗ trợ về khoa học công nghệ… Hàng hoá
Việt Nam chất lượng được nâng cao, có khả năng và có cơ hội chiếm lĩnh
được nhiều thị trường mới.
Đông Nam Á.
Nước
1998
(53 nước)
1999
(53 nước)
2000
(59 nước)
2001
(59 nước)
Singapo 1 1 1 2
Hồng Kông 2 2 2 8
Đài Loan 8 6 4 11
Malasyia 9 17 16 25
Inđônêsa 15 31 37 44
Thái Lan 18 21 30 31
Hàn Quốc 21 19 22 29
Trung Quốc 29 28 32 41
Philipin 34 33 33 37
Việt Nam 49 39 48 53
Nguồn: Đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) các năm tương ứng.
2. Môi trường kinh doanh, cạnh tranh trong nước :
Nhìn chung, môi trường kinh doanh cạnh tranh trong nước đã được
cải thiện, môi trường cạnh tranh trong nước đã dần hình thành qua hơn 10
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
25
năm đổi mới, song còn nhiều ách tắc, bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy chưa trở thành động lực thúc đẩy việc nâng
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
26
Bảng3 : Cơ cấu thành phần kinh tế năm 1995 và năm 2000.
Năm 1995 2000
1.Kinh tế Nhà nước
2.Kinh tế tập thể
3.Kinh tế tư nhân
4.Kinh tế cá thể
5.Kinh tế hỗn hợp
40,1
10,0
3,12
36,0
13,4
40,2
9,0
3,4
34
13,4
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
- So sánh tương quan lợi thế cạnh tranh của các loại hình doanh
nghiệp với 12 tiêu chí được lựa chọn để nghiên cứu, trong đó quy định pháp
lýthuận lợi nhất được đánh giá là A, thuận lợi ở mức trung bình là B, kém
thuận lợi nhất là C. Trong số 12 tiêu chí được lựa chọn, doanh nghiệp Nhà
nước có 6 tiêu chí xếp loại A, chiếm 50%, bốn tiêu chí xếp loại B (chiếm
33,3%) và chỉ có 2 tiêu chí x
ếp loại C (16,7%). Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) có 5 tiêu chí xếp loại A (chiếm 41,7%), 6 tiêu chí xếp loại
9
10
11
12
Về vốn thành lập và đăng ký
kinh doanh.
Về giải thể doanh nghiệp .
Về phá sản doanh nghiệp .
Về vốn vay và tham gia thị
trường vốn.
Tuyển dụng lao động.
Chính sách tiền lương, tiền
công.
Thuế và các chính sách tài
chính.
Chính sách đất đai.
Về chuyển giao công nghệ và
sở hữu công nghiệp.
Hợp tác kinh doanh và liên
doanh với n
ước ngoài.
Về xuất nhập khẩu và xúc tiến
thương mại.
Về thanh tra kiểm tra.
C
C
B
B
A
A
A
A
C
B
C
C
C
C
C
C
C
Nguồn : Lê Xuân Thành, lợi thế cạnh tranh của các loại hình doanh
nghiệp –nhìn từ góc độ quản lý, tạp chí thương mại, số 22/2001.
Theo bảng số liệu này thì rõ ràng là các quy định pháp lý hiện hành
đang tạo ra rất nhiều bất lợi cho khu vực doanh nghiệp dân doanh trong so
sánh tương quan với các loại hình doanh nghiệp khác.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Chi phí đầu vào của các doanh nghiệp cao hơn 30-50% so với các đối
tác ASEAN, cao hơn 50% so với mức trung bình của thế giới. Chi phí đầu
vào có xu hướng tăng theo thời gian, tăng 33,4% từ năm 1996 đến nay. Vì
v
ậy tỉ lệ giá trị gia tăng trong hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Đề án môn học
SV: Phạm Thị Bích Ngọc Lớp QLKT 42A
29
và nhỏ ở Việt Nam được đánh giá thấp. Trong xu thế giảm giá hàng hoá
xuất khẩu công nghiệp của thế giới, việc giữ thị trường trong nước và mở
rộng thị trường ASEAN cho hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đứng trước thách thức lớn.
1.1.2. Chi phí trung gian :
Chi phí trung gian của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cao hơn
mức trung bình của các doanh nghiệp khác thuộc các nước trong khu vực.
Chẳng h
ạn cước điện thoại quốc tế đang ở mức rất cao so với các nước trong
khu vực, nếu lấy Nhật Bản làm ví dụ là điểm gọi đến thì cước từ Việt Nam
cao gấp 3,5 lần so với Inđônêxia, gấp 3 lần so với Thái Lan và gấp 10 lần so
với Xingapo, chi phí vận hàng cảng đắt gấp hai lần ở Băng Cốc. Theo thời
gian, chi phí trung gian cũng tăng. Theo số liệ
u thống kê mới đây cho thấy
tiền công tăng 75%, thuế sử dụng đất tăng 90,9%, ngoại tệ tăng 20,2%, xăng
dầu tăng 42,8%, nước tăng 130%, điện tăng 37,5%. Ngoài ra còn thêm các
khoản tiền tiêu cực phí khác cũng làm tăng chi phí trung gian của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Nếu đối chiếu với bảng chi phí đầu tư của các nước
trong khu vực thì chi phí trung gian tại Việt Nam tương đối cao.
feet
- Thuế thu nhập
doanh nghiệp mức
chuẩn %
- Thuế giá trị gia tăng
mức cơ bản (%)
79-190
18-22
1,86
0,07
0,21 1500 25
10
76-116
14-19
1,86
175
10,09
2,29
0,04
0,22-0,36 1350 30
7
342
18
9,21
0,05
0,32