Tia Laser và một số ứng dụng
trong y học
Tia laser với những tính năng đặc biệt của nó đã trở thành một phát
minh được ứng dụng rộng rãi nhất của thế kỷ XX, đặc biệt trong các ứng
dụng y học. Bước sang thiên niên kỷ mới, những ứng dụng của nguồn sáng
đặc biệt này ngày càng nhiều và mang lại hiệu quả bất ngờ.
Laser (Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation) trong tiếng
Anh cónghĩalà “khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cưỡng bức”. Được phát minh từ
năm 1960, không ai biết nghĩ rằng ngày nay, laser xuất hiện trong hầu khắp các
lĩnh vực như: nghiên cứu khoa học, công nghiệp, địa chất, vũ trụ đặc biệt những
ứng dụng trong y học nhiều đến nỗi người ta có một ngành riêng là Y học laser
(Laser Medicine). Laser trở thành một trong những phát minh nhiều ứng dụng
nhất trong thế kỷ XX.
Có nhiều loại laser, ví dụ: dạng hỗn hợp khí (He -Ne), dạng chất lỏng hoặc
laser tạo bởi các vật chất trạng thái rắn. Từ đó người ta tạo ra 500 loại laser khác
nhau. Máy laser đầu tiên được nhà vật lý Maiman (Hoa Kỳ) phát minh năm 1960
gọi là laser hồng ngọc (Laser Ruby). Laser hồng ngọc là ôxít nhôm pha lẫn crôm.
Crôm hấp thụ tia sáng màu xanh lá cây và xanh lục, để lại duy nhất tia sáng màu
hồng.
Cơ chế hoạt động của laser thường dựa trên tác động cưỡng bức các
electron của nguyên tử (bằng điện trường chẳng hạn) di chuyển từ mức năng
lượng thấp lên cao. Ở mức năng lượng cao, một số electron ngẫu nhiên rơi xuống
mức năng lượng thấp, giải phóng hạt ánh sáng (photon). Bước sóng của tia sáng
phụ thuộcvào sự chênh lệch nănglượng giữacác mức. Các hạt photonnàyva phải
các nguyên tử khác, kíchthíchelectron khácrơixuống,sinh thêm các photon cùng
tần số, cùng pha và cùng hướng di chuyển, tạo một phản ứng dây chuyền khuếch
đại dòng ánh sáng là tia laser.
Ánh sáng laser gồmnhiềuphotoncùng một tần số (đơn sắc), đồng pha và di
chuyển song song với nhau, nên có cường độ rất cao và chiều dài đồng pha của
chùmsáng lớn. Các tính chấtnày đem lại nhiều ứngdụng thực tế.
Độ an toàn của laser được xếp từ I đến IV. Với độ I, tia laser tương đối an
cách chọn lọc (tùy theo khả năng hấp thụ chọn lọc của mô bệnh lý với từng bước
sóng). Laserứng dụng trongthẩmmỹ theo3hướng:sử dụngnhư mộtcondaomổ,
sử dụngnhư yếutố quang nhiệt chọn lọcđể pháhủy mômộtcách chọn lọcvàứng
dụnghiệu ứng kíchthích sinhhọc.
Ngoài những kỹ thuật quy ước trong ngoạikhoa thẩm mỹ, laser có khả năng
loại bỏ các tổn thương sắc tố bẩm sinh, mắc phải hoặc xóa xăm mình. Một số loại
sử dụng trong điều trị u máu phẳng, loại bỏ u cục trên da
Laser đã phát huy tối đa tác dụng trên các tổn thương sắc tố bẩm sinh hoặc
mắc phải như: Bớt xanh đen (Nevus of Ota), tàn nhang (Freckle), ban vàng
(Xanthelasma), vết màu càphê sữa (Café au lait spot), các tổ thương mạch máu ở
da bẩm sinh như u mạch máu (Hemangioma), bớt vang đỏ (Portwine Stains) và
một số tổn thương mạch máu da khác (Cutaneous vascular lesions). Theo y văn
kinh điển, các tổn thương này cho đến nay là những bệnh khó điều trị bằng thuốc
hoặc canthiệp ngoại khoa truyền thống.
Tại Việt Nam, máy laser đầu tiên được dùng trong thực nghiệm nhãn khoa
là Laser Ruby năm 1976. Từ 1981 đến nay, laser được ứng dụng trong nhiều
chuyên khoavà manglại hiệuquả tích cực.
-Trong chuyênkhoamắt:điềutrị loétgiácmạc, hànbong võng mạc,viêmtắc
lệ đạo
-Trong chuyên khoa răng hàm mặt: dùng điều trị nha chu viêm, viêm lợi,
viêm khớp hàm
-Trong chuyên khoa tai mũi họng: điều trị viêm amidan cấp và mạn, viêm
họngđỏ,viêmmũi Trong ngoại khoa: điều trị vếtthương nhiễmtrùng, chống sẹo
lồi
-Trong phụ khoa: điều trị viêm lộ tuyếncổ tử cung, viêmâm đạo
-Trong daliễu: điềutrị eczéma, zona, viêm da thần kinh
-Trong nội khoa: chống nhiễm trùng, nhiễm độc tế bào gan, đau thần kinh
ngoại vi, suy mạch vành tim, dichứng tai biến mạch máu não
Một số cơ sở khoa học trong nước lắp ráp và cải tiến được máy laser như:
Trung tâm công nghệ laser (Viện nghiên cứu công nghệ - Bộ KH&CN), Viện kỹ