Lý luận Cty Cổ phần và vai trò trong phát triển kinh tế Việt Nam - 4 potx - Pdf 19

Cùng với sự yếu ớt và nhỏ bé của khu vực kinh tế tư nhân là sự thiếu vắng một thị
trường tài chính thực sự trong đó có thị trường chứng khoán. Như trên đ• trình bày,
thị trường chứng khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động của các công ty
cổ phần trong một nền kinh tế thị trường: nó vừa là điều kiện vừa là tấm gương
phản chiếu sự ra đời và hoạt động của các công ty cũng như huy động vốn trên thị
trường tài chính.
II. Các giải pháp và kiến nghị
1. Về tư tưởng quan điểm cổ phần hoá
Đối với các doanh nghiệp: người lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc) hầu hết là do
chế độ bổ nhiệm mà có, do vậy khi chuyển sang công ty cổ phần không dễ gì giữ
được chức vụ đó trước Đại hội cổ đông. Sau khi cổ phần thì những quyền lực quan
trọng nhất thuộc về Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị công ty. Giám đốc doanh
nghiệp Nhà nước trước đây giả sử có tái cử làm giám đốc điều hành thì chỉ đóng
vai trò thực thi của hai tổ chức nói trên mà thôi. Hội đồng của giám đốc có sự giám
sát chặt chẽ của Ban kiểm soát (như đã nêu ở chương một) của Hội đồng quản trị
công ty. Lẽ đương nhiên thu nhập của giám đốc sẽ bị giảm xuống, không còn hấp
dẫn, quyền hành lại bị hạn chế. Chắc chắn trước ngưỡng cửa cổ phần hoá, các vị
giám đốc quốc doanh ít nhiều đều có tâm tư mắc mớ, ít nhiệt tình đối với phương
án cổ phần hoá. Còn với khả năng xấu hơn, vị trí công tác của giám đốc có thể bị
thay đổi, thậm chí có thể bị mất việc thì hậu quả còn tồi tệ hơn.
Chính vì lẽ đó giám đốc các DNNN thường có tâm lý không muốn cổ phần hoá,
chuyển đổi sở hữu, mặc dù đã nhận thức được khó khăn trong cạnh tranh thị
trường, và biết rằng doanh nghiệp có thể nguy cơ suy sụp trong cuộc cạnh tranh thị
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
trường ngày một gay gắt. Tâm lý chung của các vị giám đốc DNNN là “còn nước
còn tát”, tát được ngày nào hay ngày đó.
Còn về phía người lao động, họ sau khi cổ phần hoá có thể bị mất việc, hoặc quyền
lợi không được đảm bảo, đặc biệt là vấn đề mua, mua chịu và được cấp cổ phiếu.
Thế là từ trên xuống dưới kết thành những mảng trong nhận thức và hành động. Để
đảm bảo an toàn và giữ được “ghế”, tránh được nguy cơ “đi chệch hướng XHCH”,
thượng sách là không sắn tay vào công tác này.

thể tiến hành một quá trình cổ phần hoá trên diện rộng như luật, pháp lệnh. Đối với
các văn bản gián tiếp liên quan đến cổ phần hoá thì còn thiếu mảng luật về chứng
khoán, kinh doanh chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Về chất lượng, một số nội dung trong các văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng, thiếu cụ
thể, nhiều vấn đề chưa được khẳng định dứt khoát như: trách nhiệm của các Bộ,
ngành, các địa phương trong việc chỉ đạo cổ phần hoá; thẩm quyền của đại diện chủ
sở hữu với việc cổ phần hoá; cổ phần hoá là tự nguyện hay bắt buộc; việc bán cổ
phần cho người nước ngoài có quy định nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Để giải quyết những vấn đề tồn tại về chính sách pháp luật trên đây, các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cần phải lắng nghe ý kiến từ phía các doanh nghiệp đã
hoàn tất và đang hoàn tất cổ phần hoá và cả những doanh nghiệp chưa tiến hành cổ
phần hoá để cụ thể hoá, chi tiết hoá những điểm còn “chung chung”, ban hành thêm
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
những quy định còn thiếu. Đòi hỏi sự đồng bộ của hệ thống văn bản pháp quy ngay
trong điều kiện hiện nay là điều không thực tế, song đã đến lúc chúng ta phải có
ngay một bộ luật cổ phần hoá hoặc luật công ty cổ phần bởi vì chưa có luật, chưa
có pháp lệnh thì chưa có căn cứ pháp lý để thực hiện, chưa có căn cứ để ban hành
các văn bản pháp quy dưới luật, và như vậy việc thực hiện sẽ rất khó khăn. Bên
cạnh đó, việc dự thảo và sớm ban hành luật về chứng khoán, kinh doanh chứng
khoán và thị trường chứng khoán cũng sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá
và việc hình thành thị trường vốn ở nước ta.
3. Hệ thống các cơ quan quản lý công tác cổ phần hoá.
Về tổng thể, bộ máy quản lý hành chính về cổ phần hoá tổ chức chỉ đạo chưa tập
trung, thiếu tính nhất quán giữa Trung Ương và địa phương, giữa các Bộ, Ngành.
Ví dụ có những doanh nghiệp đã làm xong thủ tục nhưng chính quyền địa phương
vẫn không cho phép hoạt động, gây khó khăn không ít cho doanh nghiệp cổ phần,
tạo tâm lý chản nản trong các cổ đông vì trong vòng 2 năm đó vốn không được luân
chuyển (như công ty chế biến hàng xuất khẩu Long An, công ty chế biến thức ăn
gia súc VIFOCO )
Để giải quyết, Nhà nước phải mở rộng quyền hạn cũng như trách nhiệm của ban chỉ

phần nói riêng và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung về XNK, về địa điểm,
tín dụng, vay vốn ngân hàng. Để có thể thực sự xoá bỏ sự phân biệt đối xử không
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
hợp lý giữa DNNN và doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhà nước cần phải từng
bước xoá bỏ sự bao cấp dành cho các DNNN, cần có những quy định nhằm nâng
cao vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh phát triển bằng những biện pháp cụ thể như: chính sách thuế, quyền
XNK, vay vốn ngân hàng, tạo điều kiện cho khu vực này liên doanh với nước
ngoài, qua đó tạo môi trường bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, giữa đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài góp phần đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam.
4.2. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá.
Theo thông tư số 50 TC/TCDN, gia trị doanh nghiệp cổ phần hoá được xác định
bằng công thức:
Giá trị doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp = sau khi kiểm kê + (-) giá trị lợi thế + chi phí tiến
hành CPH đánh giá lại.
Theo công thức nói trên, mọi tài sản doanh nghiệp đều được kiểm kê đánh giá lại
theo giá hiện hành. Song theo số liệu điều tra thống kê, ở hầu hết các DNNN, trình
độ máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu từ 2 - 3 thế hệ, thậm chí có doanh nghiệp
lạc hậu từ 4 - 5 thế hệ. Mặt khác, thông tư 50 TC/TCDN quy định “Toàn bộ tài sản
cố định sau khi đã kiểm kê và được tính trên giá sổ sách doanh nghiệp căn cứ vào
chất lượng còn lại và giá hiện hành của từng tài sản, giá trị tài sản vô hình để xác
định lại giá trị tài sản thực còn”. Vấn đề ở đây là xác định giá hiện hành. Như
chúng ta đều biết, tiêu chuẩn để đánh giá giá trị vật chất có nhiều nhưng tựu chung
lại có thể sử dụng các tiêu chuẩn sau: giá trị mua vào, giá trị thanh lý, giá trị đổi
mới, giá trị nhượng bán. Chính vì vậy, nhà nước nên quy định cụ thể “giá hiện
hành” trong việc đánh giá lại giá trị tài sản.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
4.3. Thủ tục cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Hiện nay, thủ tục hành chính để cổ phần hoá một DNNN còn khá rườm rà, tốn

những người làm kinh doanh là phải có những kiến thức vững chắc về công ty cổ
phần và những vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến công ty cổ phần.
Với nhứng lý luận, thưc trạng và đặc biệt là phần giải pháp trong đề án tuy chưa
được sâu sát và tỷ mỷ lắm vì lý do thời gian và sự hạn chế về kiến thức. Nhưng em
rất hy vọng rằng đề án này sẽ là một bài học thực tế rất bổ ích cho bản thân trong
việc cập nhật kiến thức về công ty cổ phần và vấn đề cổ phần hoá DNNN. Những
giải pháp, kiến nghị được nêu ra trong đề án sẽ phần nào tháo gỡ những vướng mắc
còn tồn tại trong quá trình cổ phần hoá. Hy vọng rằng với quyết tâm cao của Đảng
và Nhà nước, niềm tin của nhân dân cùng với việc thực hiện đồng bộ những giải
pháp và kiến nghị nêu trên, chương trình cổ phần hoá và thành lập công ty cổ phần
sẽ gặt hái được những thành công và góp phần quan trọng vào sự phát triển nhanh,
mạnh bền vững của nền kinh tế đem lại sự phồn vinh cho đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước - Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn,
Nguyễn Ngọc Quang, NXB Khoa học xã hội.
2. Hỏi đáp về cổ phần hoá DNNN, Hoàng Công Thi, NXB Thống kê.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
3. Kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế thị trường, Đào Xuân Sâm, Ngô Quang
Minh, NXB Khoa học xã hội.
4. Báo cáo tổng quát tình hình doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính tháng
12/1997.
5. Báo cáo về thực hiện cổ phần hoá DNNN, Bộ Tài chính tháng 12/1998.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status