Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu giầy sang thị trường EU của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên giầy Thượng Đình - Pdf 19

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế
giới WTO. Điều này mang lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít
những thách thức. Tuy vậy, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng
được nâng cao và được khẳng định.
Hoà chung với xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế, để thực hiện chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng một nền kinh tế mở, việc mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và quan hệ xuất nhập khẩu nói riêng là một đòi
hỏi tất yếu khách quan.
Ở nước ta, công nghiệp da giầy là một trong những lĩnh vực có vị trí quan trọng -
được xem là một ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế. Năm 1960, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định giầy dép là một trong ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Vì
vậy, việc phát triển mạnh ngành công nghiệp da giầy là hoàn toàn phù hợp với chủ
trương thay thế nhập khẩu, hướng về xuất khẩu, tận dụng được lợi thế của đất nước
về nhân công, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Công ty TNHH một thành viên giầy Thượng Đình là một trong những lực lượng
quan trọng của ngành công nghiệp da giầy nước ta. Trong thời gian thực tập tại
công ty, được tìm hiểu về các hoạt động của công ty đặc biệt là hoạt động xuất khẩu
giầy, em nhận thấy thị trường xuất khẩu chính của công ty là thị trường EU. Tuy
vậy hiệu quả xuất khẩu của công ty sang thị trường này chưa cao do rất nhiều
nguyên nhân trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu:
Một là do công ty gặp phải sự cạnh tranh rất lớn của các doanh nghiệp sản xuất –
xuất khẩu giầy dép khác trên thị trường EU.
Hai là do công ty vẫn chỉ xuất khẩu giầy sang thị trường EU qua trung gian.
Do vậy mà hiệu quả xuất khẩu mang lại chưa cao.
Với thực tế như vậy, việc tìm ra giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu giầy
sang thị trường EU một cách hiệu quả hơn là một điều cần thiết. Vì vậy, em mạnh
dạn lựa chọn đề tài: “Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
1
xuất khẩu giầy sang thị trường EU của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên giầy Thượng Đình”. Đề tài này được trình bày thành ba chương:

uyển chuyển nhạy bén với thị trường và nhu cầu đa dạng đó.
Thị trường giầy dép hiện nay chủng loại rất đa dạng và phong phú với chất lượng
ở các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu và thị hiếu của khách hàng:
• Phân loại theo dạng của giầy: Giầy cao cổ, giầy thấp cổ, dép xăngđan…
• Phân theo nguyên liệu làm đế giầy: Giầy đế cao su, giầy đế nhựa hoá học…
• Phân theo mục đích sử dụng: Người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn với
3
các loại sản phẩm khác nhau như:
Dép lê: Dùng để đi trong nhà, bãi biển, thích hợp khí hậu nóng.
Các loại sandal thể thao: Dùng để mang thông dụng ngoài trời cho những vùng
khí hậu nóng, phù hợp tính thời trang, dã ngoại.
Dép da nữ: Dùng để mang trong những buổi tiệc hoặc dạ hội.
Giày chạy: Có đặc điểm nhẹ, êm, thoáng, mũ quai có thể co dãn được, phần đế sử
dụng nhựa PU thích hợp cho thể thao và chạy bộ.
Giầy tây: Dùng để mang thông dụng trong công sở, tiệc tùng…
Hài: Dùng để đi trong nhà, thích hợp cho cả hai mùa: Mùa nóng và mùa hè.
Ngoài ra còn có: Giày tennis, giầy leo núi, giày trượt tuyết….
Như vậy, tùy thuộc vào túi tiền, vào mục đích sử dụng, gu thẩm mỹ của từng
người mà người tiêu dùng có thể chọn cho mình một sản phẩm ưng ý nhất.
Giầy dép là một bộ phận của thời trang, là biểu tượng của trình độ, tình trạng tiêu
dùng xã hội, là tiếng nói của bản sắc văn hoá cộng đồng sử dụng. Cho nên các sản
phẩm giầy dép luôn chiếm được sự quan tâm trên thị trường quốc tế.
Về phương diện sản xuất: Ngành công nghiệp da giầy là một ngành thu hút rất
nhiều lao động vào sản xuất. Sản xuất hàng giầy dép cần nhiều lực lượng lao động
mà lại không đòi hỏi quá cao về trình độ kỹ thuật. Điều này hoàn toàn phù hợp với
điều kiện của nước ta: Đó là một quốc gia đông dân với cơ cấu dân số trẻ, lực lượng
lao động phổ thông rất dồi dào, người lao động rất cần cù, chăm chỉ, thông minh,
nhanh nhạy trong việc nắm bắt những kiến thức mới; Thêm vào đó, Việt Nam là
một đất nước nhiệt đới cho nên khí hậu rất phù hợp cho việc trồng các loại cây đặc
biệt là cây cao su – Nhựa cao su là một trong những nguyên liệu chính cho sản xuất

công việc mà kinh phí lại ít tốn kém.
Không những thế, do trong công nghệ sản xuất giầy có rất nhiều công đoạn trong
đó có những công đoạn phải làm các chi tiết rất cầu kỳ đòi hỏi phải làm thủ công
mới đạt được yêu cầu, cho nên công nghệ sản xuất rất khó có thể tự động hoá hoàn
toàn. Vì vậy quá trình sản xuất giầy đòi hỏi nhiều lao động.
5
Mặt khác, vốn đầu tư cho một chỗ làm việc không nhiều. Đây được coi là một
thuận lợi cho việc đầu tư vào sản xuất trong ngành giầy dép.
Ngành công nghiệp giầy dép đã có sự chuyển biến nhanh chóng từ cách làm bằng
tay, cá thể, từ các cơ sở sản xuất nhỏ rồi đến các cơ sở sản xuất lớn và đến nay đã
trở thành một ngành công nghiệp có tầm cỡ.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu mặt hàng giầy dép ở nước ta.
Trong thời buổi hiện nay, nhu cầu giao tiếp xã hội là rất cao cho nên cơ hội cho
ngành giầy dép phát triển là rất lớn. Giầy dép sản xuất ra không chỉ dành cho tiêu
dùng nội địa mà đồng thời với đó là để xuất khẩu, để bán cho nước ngoài. Cho nên
chúng ta phải bán những gì mà người ta cần chứ không bán những gì mà mình có.
Số lượng giầy dép tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tốc độ tăng dân số
hàng năm, mức tăng thu nhập và yếu tố giá cả…
Vì vậy để xuất khẩu giầy dép sang các thị trường khác nhau thì chúng ta phải
nghiên cứu tiêu chuẩn của các nước đó sau đó áp dụng tiêu chuẩn quốc tế đó vào
các sản phẩm của mình để nhằm sản xuất ra các sản phẩm phù hợp.
Đối với Việt Nam, trong thời kỳ mở cửa nền kinh tế, tận dụng được lợi thế so
sánh đặc biệt trên cơ sở nền sản xuất nhiều nhân công với chi phí thấp, nguyên liệu
sản xuất dồi dào đã tạo điều kiện cho sản xuất và xuất khẩu giầy dép phát triển.
Ngành công nghiệp giầy dép Việt Nam là một trong những ngành có lợi thế xuất
khẩu, chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam, đứng
thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu sau dầu thô và dệt may.
Mặc dù sản xuất giầy dép ở Việt Nam còn nhiều khó khăn nhưng sản xuất giầy
dép là ngành có mức tăng trưởng cao trong những năm qua và hiện nay được coi là
một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng tiêu dùng hướng

Ngoài những cơ chế, chính sách mà Nhà Nước ta ban hành nhằm thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu giầy dép của nước ta (được đề cập ở mục 1.3) còn có các chính sách
của các nước nhập khẩu đối với sản phẩm giầy dép của Việt Nam. Cụ thể là:
• Chính sách của EU đối với sản phẩm giầy dép xuất khẩu của Việt Nam: Việt
7
Nam được hưởng ưu đãi mà các nước sản xuất giầy dép khác chưa có hoặc còn bị
hạn chế như: Hàng giầy dép của Việt Nam nhập khẩu vào EU được hưởng chế độ
ưu đãi thuế quan phổ cập GSP với mức thuế được tính là 13,58% - 14% tuỳ loại nếu
có 40% nguyên liệu được sản xuất từ Việt Nam (giấy chứng nhận xuất xứ Form A),
nếu không được hưởng thì mức thuế suất sẽ là 30% ngoài ra theo nguyên tắc cộng
gộp của EU, các nguyên phụ liệu nhập khẩu từ một nước thành viên của một khối
kinh tế để tiếp tục gia công sẽ được coi là xuất xứ tại nước gia công và được coi là
đáp ứng tiêu chuẩn về xuất xứ, mà Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN
(tháng 7/1995) nên sản phẩm giầy dép của Việt Nam xuất khẩu sang EU cũng được
tính theo tiêu chuẩn cộng gộp; Không bị hạn chế số lượng xuất khẩu trong khi đó
giầy dép của các nước Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Hàn Quốc không tiếp tục
được hưởng hoặc bị quy định hạn ngạch. Tuy nhiên trong thời gian qua số lượng
giầy dép xuất khẩu sang EU tăng nhanh và nếu tiếp tục tăng đến 25% thì sẽ không
được hưởng ưu đãi thuế quan và sẽ bị áp hạn ngạch nhập khẩu.
• Chính sách của Mỹ đối với sản phẩm giầy dép xuất khẩu của Việt Nam: Sau khi
ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), hàng hoá xuất
khẩu từ Việt Nam sang thị trường này được hưởng thuế suất tối huệ quốc (MFN)
khiến mặt hàng thuế suất chung giảm đi đáng kể : Thuế suất thuế nhập khẩu trung
bình đối với giầy dép giảm từ 30 – 35% xuống còn 8,5 – 15%, hàng dệt may giảm
từ 45 -90% xuống còn 29 – 33%.
Theo phụ lục 2 về danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện (ban
hành kèm theo Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ) cho
thấy:
• Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có hạn ngạch bao gồm: Gạo và hàng hoá theo
hạn ngạch do các tổ chức kinh tế và nước ngoài ấn định đối với Việt Nam

giai đoạn (1999 – 2007).
(Đơn vị: Triệu USD)
Năm Kim ngạch xuất khẩu giầy dép
1999 1.334
2000 1.468
2001 1.600
2002 1.864
2003 2.268
2004 2.590
2005 3.100
2006 3.560
2007 3.900
Có thể thấy rằng: Kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nước ta tăng nhanh qua các
năm: Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu giầy dép là 1.334 triệu USD. Đến năm 2000,
kim ngạch xuất khẩu giầy dép cả nước tăng lên 134 triệu USD (tức là tăng 10,04%)
so với năm 1999 và đạt 1.468 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng, đến năm 2002 ngành da giầy sau 10
năm đã xuất khẩu được 1.846 triệu USD, tăng 369,2 lần so với năm 1992 (đạt 5
triệu USD, chiếm 10,6 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 1992)
và đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác.
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành da giầy Việt Nam đạt 2.268 triệu
USD chiếm 11,43% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2003 là 19,843 tỷ USD.
Từ năm 2004 đến nay, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu giầy dép đứng thứ 4
thế giới sau Trung Quốc, Hồng kông, Italia trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu vào
thị trường Mỹ và EU (đây là hai thị trường tiêu thụ giầy dép lớn nhất thế giới). Ở
Châu Á, Việt Nam đứng thứ 3 trong số các nước xuất khẩu giầy dép vào Nhật Bản
sau Trung Quốc và Italia. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu giầy dép đạt 2.590 triệu
USD (tăng 14,2% so với năm năm 2003). Năm 2005 con số này đạt tới 3.100 triệu
USD (tăng 19,7% so với năm 2004).
10

Trước đây, khi giầy dép chưa trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì các doanh
nghiệp Việt Nam thường xuất khẩu cao su thô, da sống, … sang các nước khác với
giá thấp. Từ khi xuất khẩu giầy dép được chú trọng đầu tư thì các doanh nghiệp
trong nước đã tận dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có để sản xuất giầy dép cho
nên tạo điều kiện cho các ngành chăn nuôi, ngành sản xuất cao su phát triển để đáp
ứng cho nhu cầu xuất khẩu giầy dép cho đất nước.
Ngoài ra, do giầy dép là một phần của thời trang nên khi xuất khẩu giầy dép tăng
lên kéo theo ngành công nghiệp thời trang cũng phát triển theo xu hướng phát triển
của giầy dép.
1.2.1.3. Xuất khẩu giầy dép sẽ góp phần giải quyết các vấn đề về việc làm cho
người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và từ đó làm ổn định đời sống kinh tế,
chính trị của đất nước.
Đây là một điều không thể phủ nhận được. Hiện nay dây chuyền sản xuất giầy
phần lớn là lạc hậu và bán tự động cho nên bên cạnh máy móc thì con người cũng là
một nhân tố quan trọng trong việc vận hành dây chuyền công nghệ cho sản xuất.
Một phần cũng là do hình thức gia công xuất khẩu giầy của nước ta cần nhiều lao
động, thậm chí rất nhiều khâu còn phải làm thủ công cho nên nhu cầu về lao động là
rất lớn. Điều này góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, người lao động có thêm thu
nhập, với mức lương trung bình của một công nhân lao động trong ngành da giầy là
1 triệu đồng /tháng có thể giúp họ ổn định và ngày càng nâng cao được chất lượng
cuộc sống. Không những thế, xuất khẩu giầy dép còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu
vật phẩm cần thiết phục vụ trực tiếp cho đời sống và đáp ứng ngày một tốt hơn nhu
cầu của nhân dân. Quan trọng hơn cả là xuất khẩu giầy dép tác động trực tiếp đến
sản xuất làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất giầy dép tăng lên, các ngành nghề
cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao
động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn và đời sống của nhân
dân chắc chắn được cải thiện. Hiện nay, nước ta có khoảng hơn 200 doanh nghiệp
sản xuất và xuất khẩu giầy dép tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động phổ
thông. Điều này cũng góp phần tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước ta.
12

Thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu giầy dép, doanh nghiệp có thể đầu tư một
phần lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc và trang thiết bị công nghệ để góp
phần nâng cao năng suất lao động của chính bản thân doanh nghiệp.
Không những thế, các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép còn đầu tư
vào các hoạt động xúc tiến, thâm nhập thị trường mới, cải thiện và phát triển quan
hệ trong kinh doanh của mình.
1.2.2.2. Xuất khẩu giầy dép là một cách hiệu quả để các doanh nghiệp có thể tối
thiểu hoá các biến động về nhu cầu giầy dép ở các thị trường khác nhau.
Nguyên nhân là do chu kỳ kinh doanh thay đổi từ nước này sang nước khác và
các sản phẩm giầy dép có thể nằm trong những giai đoạn khác nhau trong chu kỳ
sống của chúng ở các nước khác nhau, do đó mở rộng thị trường xuất khẩu các nhà
sản xuất - xuất khẩu giầy dép có thêm nhiều khách hàng, giảm được nguy cơ bị mất
đi một khách hàng riêng lẻ nào đó và có khả năng kiểm soát tốt biến động về nhu
cầu giầy dép trên thị trường.
1.2.2.3. Xuất khẩu giầy dép buộc các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép
phải tự đổi mới mình.
Khi xuất khẩu giầy dép sang các thị trường khác nhau, các doanh nghiệp sản xuất
- xuất khẩu giầy dép sẽ gặp phải một sự cạnh tranh rất khốc liệt của các đối thủ khác
như Trung Quốc với các sản phẩm giầy dép có giá rẻ hơn và chủng loại, mẫu mã
phong phú, đa dạng hơn rất nhiều sản phẩm giầy dép của các doanh nghiệp Việt
Nam; Các nhà sản xuất với sản phẩm giầy dép có chất lượng cao trong nội khối
EU…
Vì vậy để có thể cạnh tranh được trên thị trường giầy dép quốc tế thì các doanh
nghiệp sản xuất - xuất khẩu Việt Nam phải tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện cơ cấu
sản xuất cho hợp lý để có thể thích nghi được với môi trường kinh doanh. Chính
hoạt động xuất khẩu mà các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép trở nên
năng động, linh hoạt hơn với môi trường kinh doanh.
14
1.2.2.4. Hoạt động xuất khẩu giầy dép phát triển sẽ đóng góp một vai trò quan
trọng trong việc phát triển các quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ công đoàn của các

thức mua nguyên liệu bán thành phẩm thì phải tính thuế nhưng khi xuất khẩu thì
được thoái thu, thời gian hoàn thuế được kéo dài tới 270 ngày.
Một số chính sách được ban hành như:
• Quyết định số 36/2007/QĐ-BCN về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát
triển ngành da - giầy đến năm 2010 ban hành ngày 6/8/2007.
• Nghị định số 151/2006/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu ban
hành ngày 20/12/2006.
• Quyết định số 01/2001/QĐ-TCHQ về việc đăng ký tờ khai hải quan một lần.
• Ngoài ra, chính phủ còn ban hành quyết định số 178 về hỗ trợ lãi suất vay vốn
ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu góp phần hỗ trợ vốn cho những
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mặt hàng xuất khẩu. Chính phủ cho vay với lãi
suất thấp hơn 0,2%/tháng so với mức lãi suất cho vay xuất khẩu mà ngân hàng
thương mại áp dụng.
• Quyết định số 46/2001/ QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ ban hành ngày
04/4/2001, có hiệu lực từ ngày 01/5/2001 quy định về việc quản lý xuất nhập khẩu
hàng hóa.
• Nghị định số 57/1998/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 31/7/1998 quy định
chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và
đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài.
Những chính sách này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của
Việt Nam.
1.4. Các hình thức xuất khẩu giầy dép.
1.4.1. Xuất khẩu giầy dép trực tiếp.
Đây là hình thức giao dịch trong đó các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu
giầy dép trực tiếp bán sản phẩm giầy dép của mình cho khách hàng nước ngoài.
Một thực tế hiện nay cho thấy số lượng giầy dép xuất khẩu trực tiếp có rất ít bởi
vì các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép Việt Nam quy mô còn nhỏ, vốn ít
16
cho nên hoạt động đầu tư để sang tận thị trường mục tiêu nghiên cứu là rất ít vì vậy
cho nên việc xuất khẩu trực tiếp gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp bước đầu

nguyên phụ liệu.
Thực tế cho thấy tình hình cạnh tranh trong gia công giầy dép ở khu vực và nội
địa ngày càng gay gắt làm cho giá gia công giầy dép ngày càng sụt giảm, hậu quả là
hiệu quả kinh doanh gia công thấp, thu nhập của công nhân gia công giầy dép ngày
càng giảm sút.
Theo cục xúc tiến Thương mại, Bộ thương mại, hiện trên 95% lượng giầy dép
mà các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài đều mang nhãn mác của
khách hàng như NIKE, ADIDAS, FAMOUS FOOTWEAR… do các đối tác nước
ngoài cung cấp cho các doanh nghiệp theo các mẫu thiết kế, hay thậm chí không có
nhãn mác gì.
Thực tế, các doanh nghiệp sản xuất và gia công giầy dép xuất khẩu đều có đặc
điểm chung là phải đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư nhân lực cho sản xuất, nhưng lại bỏ
qua khâu rất quan trọng là không đầu tư cho các khâu thiết kế, tiếp thị, lưu kho, cửa
hàng bán lẻ giầy dép.
Các doanh nghiệp này không tham gia vào các giai đoạn thiết kế và phân phối
giầy dép, mà chỉ đóng góp 30% - 50% giá trị sản phẩm trong giai đoạn sản xuất.
Giá trị mà họ đóng góp thêm vào sản phẩm là rất nhỏ bé qua việc “bán” sức lao
động của nhân công.
Đương nhiên, các doanh nghiệp này khó có thể kiếm thêm lãi bởi chi phí lao
động ngày càng có xu hướng giảm sức cạnh tranh so với các quốc gia khác trên toàn
cầu. Nếu phương thức sản xuất gia công giầy dép hạn chế được rủi ro, thì lợi nhuận
thu được cũng bị hạn chế theo.
Với phương thức xuất khẩu này có thể đem lại nguồn thu trước mắt cho các
doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép nhỏ, ngoài
quốc doanh nhưng dần dần phương thức này đã bộc lộ rất nhiều nhược điểm, khiến
cho ngành giầy dép của nước ta gặp phải rất nhiều khó khăn. Hiện nay, nhận ra
18
được những điểm yếu đó, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giầy đang tích
cực chuyển hướng từ làm thuê sang “làm chủ”.
1.5. Nội dung hoạt động xuất khẩu giầy của doanh nghiệp.

hợp đồng xuất khẩu
giầy dép
Đánh giá kết quả
hoạt động xuất
khẩu giầy dép.
Thứ hai: Nghiên cứu trực tiếp: Thông qua các cuộc điều tra, phỏng vấn trực tiếp
người tiêu dùng tại thị trường xuất khẩu giầy dép của doanh nghiệp hoặc tham gia
hội chợ, triển lãm giầy dép ở nước ngoài để tìm kiếm thông tin.
Phương pháp này thì rất tốn kém về tiền bạc và thời gian nhưng những thông tin
thu được rất chính xác, cập nhật và điều này giúp cho việc đưa ra các quyết định về
lựa chọn đối tác, về số lượng giầy xuất khẩu…sẽ chính xác hơn so với phương pháp
thứ nhất.
Như vậy, nghiên cứu thị trường xuất khẩu giầy dép thực chất là quá trình tìm
kiếm thông tin về thị trường giầy dép tại các nước mà doanh nghiệp sản xuất-xuất
khẩu giầy dép muốn tìm hiều nhằm xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị
trường tiêu thụ của mình. Thông qua hoạt động nghiên cứu thị trường xuất khẩu
giầy dép này, doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép có thể xác định được các
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu giầy dép của doanh nghiệp mình như:
• Đặc điểm và xu hướng phát triển thị trường giầy dép tại các nước mà doanh
nghiệp muốn nhằm vào.
• Các yếu tố văn hoá tác động đến thị hiếu và thói quen tiêu dùng các sản phẩm
giầy dép.
• Các yếu tố chính trị, pháp luật, các quy ước quốc tế có liên quan cũng như các
chính sách hỗ trợ đến xuất khẩu giầy dép.
• Dung lượng thị trường giầy dép tại các nước doanh nghiệp sẽ xuất khẩu (cho
biết lượng giầy dép mà các nước nhập khẩu có thể tiêu thụ được trong một thời gian
nhất định) và các yếu tố khác ảnh hưởng đến dung lượng thị trường giầy dép nước
đó.
• Tình hình cạnh tranh giữa sản phẩm giầy dép với các sản phẩm khác và các
thương hiệu giầy dép nhập khẩu vào các thị trường đó.

• Tiến hành đánh giá tiềm lực của công ty để xem có đủ lực để chiếm lĩnh và duy
21
trì được vị thế trên thị trường đã lựa chọn hay chưa. Các vấn đề cần xem xét như:
Đặc điểm của giầy dép, thiết bị sản xuất, chất lượng giầy dép, bao bì, năng lực của
nhân viên, năng lực tài chính, …
Trên cơ sở các đánh giá đó, doanh nghiệp sẽ chỉ ra được đâu là điểm mạnh, điểm
yếu của mình.
• Xác lập các mục tiêu xuất khẩu giầy dép của doanh nghiệp về khối lượng hàng
xuất khẩu; giá giầy dép xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu giầy dép; thị trường xuất
khẩu giầy dép.
• Đưa ra các biện pháp và các công cụ nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra như:
Thúc đẩy hoạt động marketing xuất khẩu giầy dép; Tổ chức quảng bá thương hiệu
giầy dép của doanh nghiệp trên phương tiện thông tin đại chúng, đầu tư công nghệ
sản xuất giầy dép, hình thành nên các showroom về giầy dép xuất khẩu…
Thực tế cho thấy các sản phẩm giầy dép có chu kỳ sống rất ngắn. Việc tiêu dùng,
sản xuất và xuất khẩu giầy dép có tính thời vụ cho nên trong các phương án xuất
khẩu giầy dép thì các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép phải chú ý đến
tính mùa vụ, đến sự thay đổi thị hiếu tiêu dùng giầy dép của thị trường nước ngoài.
Thông qua các hội chợ, triển lãm về giầy dép ở Hồng Kông, Đức, Ý, các doanh
nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép sẽ có được sự chỉ dẫn tốt nhất về thị hiếu giầy
dép của người tiêu dùng để từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng được những
phương án sản xuất và xuất khẩu giầy dép cho phù hợp.
1.5.3. Giao dịch và đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu giầy dép.
• Giao dịch là hoạt động trao đổi thông tin và ý định thông qua các phương tiện
khác nhau giữa doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép với các nhà nhập khẩu
giầy dép được thực hiện một cách có chủ đích nhằm thiết lập mối quan hệ hợp tác
giữa các bên.
Trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói chung và xuất khẩu giầy dép nói riêng,
do có sự khác biệt về mặt quan điểm, về giá cả, về phương thức xuất khẩu, về đặc
điểm của hàng hoá…Cho nên các bên phải có sự đàm phán với nhau để bàn bạc,

23
doanh nghiệp có thể phù hợp với nhu cầu của thị trường mục tiêu. Trong suốt quá
trình đó, doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu giầy dép có thể gọi điện để xác nhận lại
các thông tin đã thoả thuận.
• Tiếp theo đó, khi hai bên đã đàm phán xong thì phải thực hiện ký kết hợp đồng
xuất khẩu giầy dép.
Một hợp đồng xuất khẩu giầy dép nói riêng tương tự như một hợp đồng xuất
khẩu hàng hoá nói chung, bao gồm các điều khoản quan trọng như sau:
• Điều khoản tên hàng.
• Điều khoản phẩm chất.
• Điều khoản về giao hàng.
• Điều khoản về giá cả.
• Điều khoản về bao bì, ký mã hiệu.
• Điều khoản về thanh toán.
• Điều khoản bảo hành.
• Điều khoản về phạt và bồi thường thiệt hại.
• Điều khoản bảo hiểm.
• Điều khoản về trường hợp bất khả kháng.
• Điều khoản về khiếu nại và trọng tài.
• Các điều khoản quy định khác.
Bản hợp đồng xuất khẩu giầy dép này sẽ ràng buộc trách nhiệm giữa hai bên và
là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
24
1.5.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu giầy dép.
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu giầy dép.
1.5.4.1. Xin giấy phép xuất khẩu.
Trước đây khi xuất khẩu mặt hàng giầy dép thì phải xin giấy phép xuất khẩu
nhưng từ khi có Nghị định số 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
31/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài và Quyết định số

Trích đoạn Định hướng chung giai đoạn 2001 2010 của công ty Dự báo khả năng xuất khẩu của công ty giầy Thượng Đình Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường EU Tăng cường hoạt động marketing trong hoạt động xuất khẩu Nâng cao chất lượng và hạ giá thành giầy xuất khẩu sang thị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status