Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 92-101 Trường Đại học Cần Thơ
92
NGHIÊN CỨU THAY THẾ THỨC ĂN SELCO
BẰNG MEN BÁNH MÌ TRONG
NUÔI LUÂN TRÙNG (Brachionus plicatilis) THÂM CANH
Dương Thị Hoàng Oanh, Trần Công Bình và Trần Tấn Huy
1
ABSTRACT
This study investigated the possibility to use yeast as a cheap food in intensive and
recirculating culture system of rotifer (Brachionus plicatilis). The first experiment was done
to compare the growth rate of rotifers fed with Culture Selco 3000
®
and yeast. The
production and quality of rotifers were determined in the second experiment with 3
different treatments: 1/yeast only; 2/ yeast combined 3% Chlorella and 3/ yeast combined
5% Chlorella. Rotifer with stocking density of 250 ind/mL and 3.000 ind/mL was
maintained in the first and second experiment, respectively. The results indicated that
rotifers fed with Culture Selco 3000
®
and yeast had the same growth rate. In diets of yeast
combined 3-5% Chlorella, rotifers presented higher and more stable harvested productivity
than those fed with Selco 3000
®
. Moreover, the supplimentation of 5% Chlorella to yeast
diet increased significantly LNA and total HUFA contents of cultured rotifers.
Keywords: Brachionus plicatilis, recirculating, intensive, yeast
Title:
Study on the replacement of Selco by yeast in feeding diet of rotifer (Brachionus
plicatilis) in intensive culture system
cứu thay thế thức ăn này bằng men bánh mì trong nuôi luân trùng tuần hoàn là rất
cần thiết nhằm sử dụng ưu thế của hệ thống tuần hoàn với men bánh mì sẵn có và
rẻ tiền để hạ giá thành sản xuất luân trùng trong các tại sản xuất giống hải sản ở
Việt Nam.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng thí nghiệm
Luân trùng nước lợ (Brachionus plicatilis) có nguồn gốc từ Bỉ được nuôi và giữ
giống tại phòng thí nghiệm nuôi thức ăn tự nhiên thuộc Bộ môn Thủy sinh học ứng
dụng. Quá trình nhân giống được tiến hành trong hệ thống nước tĩnh. Mật độ ban
đầu là 50 ct/mL. Khi luân trùng đạt đến mật độ 300-500 ct/mL thì có thể thu hoạch
để làm thí nghiệm
2.2 Bố trí thí nghiệm
2.2.1 Thí nghiệm 1: So sánh tăng trưởng của quần thể luân trùng trong hệ thống
thâm canh tuần hoàn được nuôi bằng Culture Selco 3000
®
và men bánh mì
Thí nghiệm được thực hiện trong phòng điều hoà nhiệt độ ở 25°C. Mật độ thả luân
trùng ban đầu 250 ct/mL. Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 3
lần lặp lại.
- Nghiệm thức 1 (CS3000): sử dụng thức ăn Culture Selco3000
®
- Nghiệm thức 2 (Men): sử dụng men bánh mì.
Các yếu tố thủy hóa được theo dõi hàng ngày bao gồm TAN và N-NO
2
-
Thức ăn được cho luân trùng ăn bằng máy cho ăn tự động và được tính theo công
thức do Suantika et al. (2000) đề nghị áp dụng cho thức ăn nhân tạo Culture Selco®
trong hệ thống nuôi luân trùng mật độ cao (3000 ct/mL) có thu hoạch hàng ngày:
mức duy trì (3000ct/mL).
Bảng 1: Mô tả tóm tắt thí nghiệm 2
Tên nghiệm thức Mật độ luân
trùng duy trì
Mô tả nghiệm thức
NT Men (đối chứng) Cho luân trùng ăn hoàn toàn
bằng men bánh mì
NT 3% tảo Cho luân trùng 3% tảo + 97%
men bánh mì
Thí nghiệm 2
(thực hiện trong
phòng, ăn tảo cô
đặc)
NT 5% tảo
3000 ct/mL
Cho luân trùng 5% tảo + 95%
men bánh mì
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1 Thủy lý
- Nhiệt độ và ánh sáng được đo 2 lần/ngày vào 8 giờ sáng và 2 giờ chiều bằng
nhiệt kế thủy ngân và light meter LT lutron (LX-103, Taiwan).
- pH (đo bằng máy pH Scan2, Eutech, Singapore) được đo 1 lần/ngày vào buổi sáng
- Nồng độ muối: đo 1 lần/ngày bằng salinometer lúc 8 h.
2.3.2 Thủy hóa
Các chỉ tiêu thủy hóa được thu 1 ngày/lần vào buổi sáng.
Chỉ tiêu Phương pháp phân tích
TAN Indo-phenol blue
N-NO
3
-
Nt: Mật độ luân trùng, tảo tại thời gian t (ct/mL)
No: Mật độ luân trùng, tảo ban đầu.
t: Thời gian nuôi (ngày)
- Phân tích HUFA mẫu luân trùng: thu 2 mẫu ở thí nghiệm 2, 1 mẫu khi bắt đầu
thu hoạch (thu vào ngày thứ 4) và 1 mẫu khi kết thúc thí nghiệm (ngày thứ 16).
Mẫu HUFA được gửi phân tích tại Đại Học Gent, Bỉ.
2.3.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý với chương trình Excel và xử lý thống kê bằng phần mềm
Statistica, version 6. Tất cả các số liệu đều được kiểm tra tính đồng nhất và phân
phối chuẩn trước khi đưa vào xử lý one-way ANOVA. Sự khác biệt giữa các
nghiệm thức được kiểm tra bằng Tukey HSD test.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các yếu tố thủy lý hóa
Thí nghiệm kéo dài trong khoảng 14 ngày (thí nghiệm 2) đến 16 ngày (thí nghiệm
1). Giá trị trung bình của các yếu tố thủy lý hóa ở hai thí nghiệm được trình bày
trong Bảng 1 và 2. Giá trị pH trung bình trong các thí nghiệm thấp hơn khoảng tối
thích cho sinh trưởng của luân trùng (pH = 7,5-8,5) nhưng vẫn còn trong khoảng
thuận lợi cho đời sống của chúng (pH = 5-10). Các yếu tố thủy lý khác của cả hai
thí nghiệm đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của luân trùng
Bảng 2: Giá trị trung bình các yếu tố thủy lý ở thí nghiệm 1 và 2
Chỉ tiêu Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2
Nhiệt độ (°C) 25,0 ± 0,0 25,95 ± 0,68
PH 7,19 ± 0,51 7,40±0,81
Độ mặn (‰) 25,0 ± 0,0 25,2±0,9
Giá trị trung bình của các yếu tố thủy hóa đều nằm trong khoảng thích hợp của
luân trùng và không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (P>0,05)
(Bảng 3). Hàm lượng các chất dinh dưỡng gốc đạm đều có khuynh hướng tăng
theo thời gian nuôi do sự tích tụ chất thải và thức ăn dư thừa trong hệ thống tuần
hoàn vượt quá khả năng của lọc sinh học. Với điều kiện pH và nhiệt độ của các thí
nghiệm này (Bảng 2), nồng độ NH
N-NO
3
-
(ppm)
2,26 ± 0,19
a
2,42 ± 0,04
a
2,53 ± 0,06
a
Ghi chú: các trị số trên cùng một hàng của cùng một thí nghiệm với ký tự gi ống nhau để chỉ sự sai biệt không có
ý nghĩa thống kê (P>0,05, Tukey HSD test)
3.2 Sự phát triển của luân trùng
Ở thí nghiệm 1, sự phát triển của luân trùng gia tăng liên tục trong 16 ngày nuôi
(Hình 1). Mật độ luân trùng sau 16 ngày nuôi của NT Men và NT CS3000 lần lượt
là 8.467 ± 126 ct/mL và 8.550 ± 85 ct/mL. Hệ số trứng trung bình trong suốt thời
gian thí nghiệm của NT men và NT CS3000 lần lượt là 18,4 ± 5,4% và 18,5 ±
5,1%. Phân tích thống kê cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa (P> 0,05) giữa
2 nghiệm thức cả về mật độ luân trùng hàng ngày, hệ số trứng trung bình và tốc độ
tăng trưởng đặc thù (Bảng 4).
0
2000
4000
6000
8000
10000
12345678910111213141516
Ngày
Mật độ (ct/ml)
Hình 2: Mật độ và năng suất luân trùng ở thí nghiệm 2
Bảng 3: Các chỉ tiêu năng suất và tăng trưởng của luân trùng ở thí nghiệm 2
Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2
Các chỉ tiêu
NT Men NT CS3000 NT Men NT 3% tảo NT 5% tảo
Năng suất trung bình
hàng ngày (ct/mL/ngày)
433±185a 596±125a 630±23a
Tỉ lệ thu hoạch (%) 14,4±6,2a 19,9±4,2a 21,0±0,8a
S G R 0,198±0,004a 0,191±0,004a 0,12±0,07a 0,18±0,04a 0,19±0,01a
Tổng năng suất (ct/mL) 5.130±2.062a 6.557±1.375a 6.953±271a
Mật độ cuối TN
(ct/mL)
8.467±126a 8.550±85a
Hệ số trứng trung bình
(%)
18,4±5,4a 18,5±5,1a 18,5±0,4a 20,2±1,1b 21,0±0,1b
Ghi chú: các trị số trên cùng một hàng của cùng một thí nghiệm với ký tự gi ống nhau để chỉ sự sai biệt không có
ý nghĩa thống kê
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 92-101 Trường Đại học Cần Thơ
98
3.3 Chất lượng luân trùng
Hàm lượng acid béo của luân trùng ở đầu (ngày thứ 4, bắt đầu thu hoạch luân
trùng) và cuối chu kỳ nuôi (ngày thứ 14 trước khi kết thúc thí nghiệm) của các
nghiệm thức được trình bày ở Bảng 4. Hàm lượng của các acid béo thiết yếu và
∑HUFA ở NT Men là thấp nhất trong các nghiệm thức trong cả hai đợt thu mẫu và
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở ngày thứ 14. Tuy nhiên, ở ngày
thứ 4 sự khác biệt về mặt thống kê chỉ thấy ở LA, LNA, ARA và ∑HUFA nhưng
4,46±0,08
a
5,01±0,60
a
5,05±0,33
a
5,61±0,73
a
LNA
(18:3n-3)
0,08±0,01
a
0,21±0,11
a
0,77±0,06
a
1,07±0,14
b
1,14±0,05
a
1,51±0,06
b
ARA
(20:4n-6)
0,34±0,06
a
0,19±0,13
a
0,28±0,07
a
0,47±0,05
b
0,27±0,06
a
0,37±0,06
a
∑HUFA 2,90±0,16
b
2,17±0,36
a
3,62±0,16
a
4,21±0,51
a
4,00±0,26
a
4,94±0,20
b
DHA/EP
A
1,53±0,49
a
2,16±0,37
a
1,31±0,19
a
thuộc vào chất lượng thức ăn mà phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước trong các
hệ thống nuôi. Trong thí nghiệm 1, luân trùng ăn hoàn toàn bằng men bánh mì tăng
trưởng không sai khác gì so với luân trùng nuôi bằng thức ăn đặc chế Culture
Selco3000
®
. Thí nghiệm được thực hiện trong phòng điều hoà nhiệt độ với các yếu
tố thủy lý được giữ ổn định, hệ thống lọc sinh học tuần hoàn có kết hợp với bộ tách
bọt và ozone hoạt động tốt nên TAN và N-NO
2
-
được giữ ở mức rất thấp, các chất
cặn bả lơ lững được loại thải hiệu quả nên chất lượng nước trong bể nuôi luân trùng
của NT Men và NT CS3000 đều tốt và không có sự khác biệt. Đây có lẽ là lý do làm
cho tốc độ phát triển của luân trùng ở 2 nghiệm thức tương đương nhau trong suốt
16 ngày nuôi (Hình 2). Tương tự, ở thí nghiệm 2, chất lượng nước tốt trong các bể
nuôi luân trùng ở cả 3 nghiệm thức dẫn đến năng suất thu hoạch luân trùng sau 14
ngày nuôi không có sự khác biệt có ý nghĩa (Bảng 3). Tuy nhiên, vào cuối chu kỳ
nuôi, chất lượng nước trong các bể luân trùng của NT Men suy giảm nhanh hơn các
bể nuôi thí nghiệm khác, trùng tiêm mao xuất hiện nhiều hơn trong các bể ở NT
Men làm luân trùng của nghiệm thức này suy tàn nhanh hơn các nghiệm thức có bổ
sung tảo (Hình 3). Điều này phù hợp với nhận định của Hirayama (1987) và Komis
(1992) cho rằng nếu chỉ cho luân trùng ăn hoàn toàn bằng men bánh mì thì năng suất
không ổn định và quần thể luân trùng mau tàn mà nguyên nhân chủ yếu là do khó
quản lý chất lượng nước nuôi. Hoff & Snell (2004) cũng cho rằng cho luân trùng ăn
bằng men bánh mì rất khó giải quyết việc dư thừa thức ăn làm cho thành bể nuôi có
độ nhớt cao, nước có mùi hôi và thức ăn dư đóng thành cục trôi nổi trong nước. Mặc
dù hệ thống tuần hoàn với tốc độ tuần hoàn 500%/ngày có thể loại bỏ tương đối hiệu
quả chất thải và thức ăn thừa trong bể luân trùng nên không có hiện tượng thức ăn
dư đóng thành cục trôi nổi trong nước như mô tả, nhưng lượng thức ăn dư thừa
nhiều hơn trong NT Men của thí nghiệm 2 có lẽ là nguyên nhân làm cho trùng tiêm
phần lớn ấu trùng cá biển. Vì vậy, các tác giả này đề nghị là khi nuôi luân trùng
bằng men bánh mì nên kết hợp với tảo nhằm giúp nâng cao chất lượng luân trùng
bằng các acid béo cao không no (HUFA) từ tảo. Trong thí nghiệm 2, hàm lượng
acid béo của luân trùng tăng theo mức độ tảo cho luân trùng ăn. Luân trùng được
cho ăn men bánh mì kết hợp tảo Chlorella nước ngọt mặc dù với các mức độ tảo cho
ăn không cao (3-5%) cũng cải thiện một cách có ý nghĩa hàm lượng một số acid béo
thiết yếu, đặc biệt là LNA, nhóm (n-6) gồm LA và ARA, và ∑HUFA so với luân
trùng chỉ cho ăn toàn men bánh mì. Mặc dù ∑HUFA tăng lên có ý nghĩa nhưng sự
gia tăng hàm lượng DHA và EPA lại không rõ ràng. Kết quả này cho thấy tảo
Chlorella nước ngọt rất giàu LNA, giàu (n-6) PUFA và HUFA nhưng nghèo DHA
và EPA. Điều này phù hợp với nhận xét của Hoff và Snell (2004), luân trùng ăn tảo
Chlorella nước ngọt có sinh trưởng tốt nhưng chất lượng dinh dưỡng không cao và
đặc biệt hàm lượng các acid béo thiết yếu (HUFA) của tảo Chlorella nước ngọt thấp
hơn so với tảo nước mặn Nannochloropsis và Isochrysis. Một khảo sát của Takeuchi
(1997) cho thấy sự biến thái của ấu trùng ghẹ xanh được cho ăn luân trùng nuôi
bằng tảo Chlorella nước ngọt không tốt bằng ấu trùng cho ăn luân trùng nuôi bằng
tảo Nannochloropsis vì tảo Chlorella nước ngọt chứa nhiều LNA nhưng thiếu EPA.
Mặc dù LNA là tiền chất để tổng hợp nên EPA và DHA cần thiết cho sinh vật biển
nhưng đối với giáp xác và các loài cá biển, sự tổng hợp này ít hoặc không xảy ra
được vì thiếu enzym ∆-5-desaturase (Sargent et al., 1989).
Một ưu điểm của luân trùng trong các nghiệm thức có bổ sung tảo là có hàm lượng
ARA tăng cao có ý nghĩa so với luân trùng trong NT Men. Hàm lượng ARA trong
luân trùng ở NT Men giảm từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 14. Điều này cho thấy, men
bánh mì rất thiếu hụt ARA trong khi tảo Chlorella nước ngọt lại giàu ARA, một
trong ba loại acid béo thiết yếu quan trọng nhất.
Như vậy, bổ sung tảo Chlorella nước ngọt vào khẩu phần ăn chính là men bánh mì
cho luân trùng mặc dù với tỉ lệ thấp (5%) vẫn có thể cải thiện được năng suất và
chất lượng luân trùng. Tuy nhiên, việc cải thiện chất lượng này còn hạn chế do đặc
tính sinh hóa của tảo Chlorella nước ngọt là thiếu DHA và EPA. Kết quả thí
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 92-101 Trường Đại học Cần Thơ
Farms, Florida,126 p.
Komis, A., 1992. Improve production and ultilization of the rotifer Brachionus plicatilis
Muller. in European sea bream (Sparus aurata Linnaeus) and sea bass (Dicentrachus
labrax Linnaeus) larviculture. PhD Thesis. University of Gent.
Sargent, J.R., R.J. Henderson and D.R. Tocher, 1989. The lipids. In: J. Halver (eds). Fish
nutrition, 2
nd
edition, Acadermic Press, NY, pp: 152-219.
Suantika, G., 2001. Development of a recirculation systemfor the mass culturing of the rotifer
(Brachionus plicatilis). PhD. thesis. Gent University, Gent, Belgium.
Suantika, G., P. Dhert, M. Nurhudah, P. Sorgeloos, 2000. High-density production of the
rotifer Brachionus plicatilis in a recirculation system: consideration of water quality,
zootechnical and nutritional aspects. Aquaculture Engineering 21, pp 201-214.
Takeuchi, T., 1997. Essential fatty acid requirements of aquatic animals with emphasis on fish
larvae and fingerlings. Reviews in Fisheries Science 5(1), pp: 1-25.
Watanabe, T., C. Kitajima and S. Fujita, 1983. Nutritional values of live organism used in
Japan for mass propagation of fish. A review. Aquaculture 34, pp: 115-143.
Trần Sương Ngọc (2003), “ Bước đầu tìm hiểu khả năng thu sinh khối tảo- luân trùng
(Brachionus plicatilis) trong hệ thống nuôi kết hợp luân trùng, tảo và cá rô phi”, luận văn
thạc sĩ năm 2003 chuyên ngành nuôi trồng thủy sản.