giải pháp cho việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở việt nam - Pdf 19

1
Lời mở đầu
Thị trờng chứng khoán - cho đến nay khái niệm này hẳn là không còn xa lạ
đối với chúng ta, hầu hết trên các phơng tiện thông tin đại chúng, các thông tin về
thành lập ủy Ban chứng khoán hay làm thế nào để tạo ra hàng hóa cho thị trờng
chứng khoán hoặc vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp đã trở thành những thông tin
sốt dẻo rất đáng quan tâm. Bên cạnh đó, hàng loạt những tài liệu, sách tham khảo về
thị trờng chứng khoán đợc xuất bản. Mặc dù vậy, mỗi tác giả có một cách hiểu và
cách nhìn nhận về thị trờng chứng khoán khác nhau, không nhất quán. Hơn nữa,
tuy đã rất nỗ lực và cố gắt, đến giờ phút này chúng ta vẫn cha có một trung tâm
giao dịch chứng khoán nh hằng mong đợi, chứ cha nói đến một sở giao dịch
chứng khoán bề thế nh sở giao dịch chứng khoán New York Và hằng ngày các
doanh nghiệp vẫn huy động vốn vay bằng cách qua ngân hàng - kênh dẫn vốn gián
tiếp - nhng cách này cũng có rất nhiều nhợc điểm, tồn tại.
Qua lịch sử phát triển thị trờng chứng khoán, chúng ta không thể phủ nhận
vai trò ngày càng quan trọng của nó trong sự vận hành của nền kinh tế quốc gia
cũng nh trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Thị trờng chứng khoán là công cụ huy
động vốn hết sức hữu hiệu (kể cả vốn nớc ngoài) để hớng trực tiếp vào mục tiêu
đầu t, ở những nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển thị trờng chứng khoán là
kênh dẫn vốn lớn nhất sau kênh ngân hàng. Thị trờng chứng khoán nâng cao tính
nhạy cảm và năng động của nền kinh tế, đợc ví nh phong vũ biểu của nền kinh tế,
cung cấp thông tin để Chính phủ điều chỉnh và định hớng phát triển kinh tế kịp
thời. Thị trờng chứng khoán là giải pháp giúp Chính phủ huy động vốn nhanh
chóng với quy mô lớn để tài trợ việc thực hiện những chơng trình kinh tế xã hội.
Không những thế, nhờ đặc tính công khai, công bằng, trung thực trong hoạt động,
thị trờng chứng khoán vừa tạo điều kiện vừa bắt buộc các doanh nghiệp phải hoạt
động nghiêm túc, có hiệu quả, đây là nơi cung cấp những dữ liệu đáng tin cậy để
đánh giá và kiểm soát hoạt động của các công ty.
Từ thực tiễn chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán ở
Việt Nam và tầm quan trọng của thị trờng chứng khoán đối với hoạt động nền kinh
tế, phải khẳng định rằng việc nghiên cứu để có một phơng pháp luận đúng đắn về

Thị
trờng tài
chính
Thị trờng
tiền tệ
Thị trờng
vốn
Thị trờng
vốn
Thị trờng
vốn ngắn
hạn
Thị trờng
chứng khoán
4
+TTCK là thị trờng gần với thị trờng cạnh tranh hoàn hảo. Tất cả mọi ngời
đều đợc tự do tham gia vào thị trờng. Không có sự áp đặt giá cả trên TTCK mà
giá cả ở đây đợc xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trờng và phản ánh
các thông tin có liên quan đến chứng khoán.
+TTCK về cơ bản là một thị trờng liên tục, sau khi các chứng khoán đợc
phát hành trên thị trờng sơ cấp nó có thể đợc mua bán nhiều lần trên thị trờng
thứ cấp. TTCK đảm bảo cho những ngời đầu t có thể chuyển các chứng khoán họ
nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn.
1.2-/ Chức năng của thị trờng chứng khoán
TTCK thực hiện các chức năng chủ yếu sau đây:
1.2.1- Chức năng huy động vốn đầu t cho nền kinh tế.
Sự hoạt động của TTCK tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa
đến nơi thiếu. TTCK cung cấp phơng tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân c
cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nh đầu t phát triển
sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới Chức năng này đợc thực hiện khi công ty

các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Chính vì vậy TTCK đợc gọi là phong vũ
biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các
chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu
chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.
Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào
TTCK nhằm định hớng đầu t đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
Tổ chức tốt tạo điều kiện cho thị trờng phát huy đợc chức năng của nó sẽ làm
cho thị trờng hoạt động có hiệu quả từ đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh
tế- xã hội. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng TTCK cũng ẩn chứa những khuyết tật,
nó mang tính chất đầu cơ rất cao. Vì thế, nếu nh thị trờng không đợc tổ chức tốt,
sự vận hành của nó không đợc đảm bảo bằng một khung pháp lý đủ hiệu lực và một
bộ máy điều hành có năng lực thì TTCK có thể rơi vào tình trạng trục trặc, rối loạn từ
đó, gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ đe doạ sự ổn định, phát triển của nền
kinh tế và làm thiệt hại đến lợi ích của đông đảo công chúng.
II-/ Các công cụ của thị trờng chứng khoán
2.1-/ Khái niệm về chứng khoán
Nh phần trên đã nêu, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế làm nảy sinh nhu
cầu vốn ngày càng lớn nhất là nhu cầu vốn dài hạn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cấc
6
doanh nghiệp và Nhà nớc đã phát hành loại giấy ghi nợ để vay vốn công chúng,
loại giấy này đợc gọi là trái phiếu. Mặt khác, với sự ra đời của công ty cổ phần đã
nảy sinh một phơng tiện huy động góp vốn vào công ty là cổ phiếu. Đây là chứng
chỉ xác nhận phần sở hữu công ty tơng ứng với phần vốn góp vào công ty.
Trái phiếu và cổ phiếu đều là bằng chứng xác nhận ngời ta đã bỏ tiền ra đầu
t dới hình thức cho vay trực tiếp hay góp vốn vào công ty cổ phần và cũng là
bằng chứng đa lại cho ngời ta những quyền nhất định, trong đó quyền cơ bản là
đợc hởng những khoản thu nhập. Do vậy, trái phiếu và cổ phiếu đều đợc gọi là
chứng khoán. Ngày nay, ngoài trái phiếu và cổ phiếu là hai loại chứng khoán chủ
yếu, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng đã nảy sinh nhiều loại chứng
khoán mới rất đa dạng. Mặt khác, với sự ơhát triển của khoa học và công nghệ thay

nhất định. Trong những thời điểm nhất định cũng có những chứng khoán mất khả
năng thanh toán, tuy nhiên những chứng khoán này sẽ nhanh tróng bị loại bỏ khỏi thị
trờng. Xem xét các loại đặc trng của chứng khoán có thể thấy rằng, cùng với sự
phát triển của TTCK ngày càng có nhiều loại chứng khoán khác nhau, mỗi loại chứng
khoán có đặc trng khác nhau về khả năng đa lại thu nhập hay nói cách khác đi là
mức lợi tức, mức độ rủi ro và mức độ thanh khoản. Đối với ngời phát hành điều
quan trọng là cần phải lựa chọn phát hành loại chứng khoán thích hợp để thu hút
đợc ngời đầu t đảm bảo cho việc phát hành thành công thực hiện đợc mục tiêu
huy động vốn. Đối với ngời đầu t cần nắm đợc đặc trng của từng loại chứng
khoán để cân nhắc lựa chọn đi đến quyết định đầu t đúng vào loại chứng khoán
thích ứng đáp ứng các yêu cầu mong muốn đề ra về thu nhập và mức độ mạo hiểm.
2.3-/ Phân loại chứng khoán.
Có nhiều cách phân loại chứng khoán dựa trên những tiêu chí khác nhau. Sau
đây là một số cách phân loại chứng khoán thờng đợc sử dụng.
2.3.1- Căn cứ vào chủ thể phát hành: Có thể phân loại chứng khoán thành
ba nhóm lớn.
-Chứng khoán doanh nghiệp: Là các chứng khoán do doanh nghiệp phát hành
bao gồm các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
-Chứng khoán Chính phủ và chứng khoán chính quyền địa phơng: Là các
chứng khoán do Chính phủ và chính quyền địa phơng phát hành. Các chứng khoán
8
này thờng là các trái phiếu đợc Chính phủ hoặc chính quyền địa phơng đảm bảo
thanh toán tiền gốc và lãi.
Chứng khoán của ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng: Là các chứng
khoán do các ngân hàng và tổ chức tín dụng phát hành, nhằm phục vụ các hoạt
động nghiệp vụ của mình. Các chứng khoán này thờng là các trái phiếu hay một số
hình thức khác nh chứng chỉ thụ hởng
2.3.2- Căn cứ vào tính chất huy động vốn: Có thể phân loại chứng khoán
thành cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh.
- Cổ phiếu (chứng khoán vốn): Là chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một

Thông thờng các chứng khoán ghi danh bị hạn chế khả năng chuyển nhợng, thể
hiện sự ràng buộc chặt chẽ của ngời sở hữu chứng khoán với ngời phát hành.
Chứng khoán ghi danh có thể là cổ phiếu hoặc trái phiếu. Cổ phiếu ghi danh thờng
là cổ phiếu của các sáng lập viên hoặc của các thành viên trong hội đồng quản trị.
-Chứng khoán không ghi danh: Là các chứng khoán không ghi tên ngời sở
hữu, các chứng khoán này đợc tự do chuyển đổi.
2.3.5- Căn cứ theo thị trờng nơi chứng khoán giao dịch:
Có thể chia chứng khoán thành hai loại:
-Chứng khoán đợc niêm yết: Là các chứng khoán đợc chấp nhận đủ tiêu
chuẩn và đợc giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán.
-Chứng khoán không đợc niêm yết: Là các chứng khoán không đợc niêm yết
tại sở giao dịch và đợc giao dịch trên thị trờng phi tập trung.
III-/ Cơ cấu, mục tiêu và các nguyên tắc hoạt động của TTCK.
3.1-/ Cơ cấu của TTCK.
Nghiên cứu về cơ cấu của TTCK là phân tích xem TTCK bao gồm những bộ
phận nào, và tìm hiểu mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Có thể xem xét cơ cấu
TTCK dới một số góc độ sau:
-Căn cứ vào tính chất của chứng đợc giao dịch: TTCK có thể đợc chia thành
thị trờng cổ phiếu, thị trờng trái phiếu và thị trờng các sản phẩm phát sinh.
10
Thị trờng cổ phiếu là thị trờng nơi các cổ phiếu đợc phát hành và giao dịch.
Thị trờng cổ phiếu gồm có thị trờng cổ phiếu sơ cấp và thị trờng cổ phiếu thứ cấp.
Thị trờng trái phiếu là thị trờng nơi các trái phiếu đợc phát hành và giao
dịch, thị trờng trái phiếu cũng gồm có thị trờng trái phiếu sơ cấp và thị trờng trái
phiếu thứ cấp.
Thị trờng các sản phẩm phát sinh bao gồm thị trờng các hợp đồng tơng lai,
các hợp đồng lựa chọn
-Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn: TTCK đợc chia thành thị trờng
sơ cấp và thị trờng thứ cấp:
Thị trờng sơ cấp: Thị trờng sơ cấp là thị trờng mua bán các chứng khoán

năng xác định giá cả thị trờng của các chứng khoán một cách chính xác nhất.
-Cơ chế và các thủ tục giao dịch chứng khoán cần phải đợc tiêu chuẩn hoá để
có thể thực hiện đợc một số lợng lớn các giao dịch một cách thông suốt. TTCK
phải đảm bảo tính thanh khoản cao giúp cho các nhà đầu t có thể mua và bán
chứng khoán bất cứ lúc nào họ muốn.
-Chi phí giao dịch trên thị trờng phải đợc tối thiểu hoá, đảm bảo những lợi
ích thu đợc từ đầu t vào chứng khoán không bị chi phí giao dịch ăn mòn. Muốn
vậy, hệ thống giao dịch chứng khoán phải đợc tổ chức sao cho tiết kiệm nhất về
mặt chi phí.
-TTCK phải đợc tổ chức một cách thuận tiện cho những ngời sử dụng, có
nh vậy mới thu hút đợc nhiều nhà đầu t tham gia vào thị trờng.
3.2.2- Điều hành công bằng.
Điều hành công bằng TTCK là việc đảm bảo sự bình đẳng giữa những ngời
tham gia vào thị trờng, muốn điều hành công bằng TTCK cần đảm bảo:
-Các cơ quan điều hành thị trờng phải xác lập các quy chế đảm bảo sự cạnh
tranh tự do, bình đẳng trên thị trờng. Các nhà đầu t và các tổ chức có liên quan
đến chứng khoán đợc tự do tham gia và rút khỏi thị trờng. Mọi giao dịch không
bình đẳng nh giao dịch tay trong, u tiên cho đơn mua hàng của một số nhà đầu t
sai nguyên tắc đều bị nghiêm cấm.
-Bảo đảm quyền lợi của các nhà đầu t thông qua việc duy trì thị trờng hoạt
động lành mạnh, chống lại các trờng hợp lũng đoạn thị trờng và bóp méo giá gây
thiệt hại cho nhà đầu t.
12
3.2.3- Phát triển ổn định TTCK.
Để đảm bảo TTCK phát triển ổn định và lành mạnh phải chú trọng phát hiện
và loại trừ các khả năng xảy ra khủng hoảng thị trờng do mất khả năng thanh
khoản hoặc do biến động giá cả quá lớn.
Trên TTCK, do nhiều khi ngời mua không biết nhiều về ngời bán và khả
năng thanh toán của họ, nên nhiều khi việc một vài chứng khoán mất khả năng
thanh khoản sẽ làm cho nhiều nhà đầu t rời bỏ thị trờng, dẫn tới phản ứng dây

3.3.3- Nguyên tắc công khai.
Một yếu tố hết sức quan trọng đối với ngời đầu cơ chứng khoán là thông tin.
Để TTCK hoạt động có hiệu quả và công bằng thì các tin tức có tác động đến sự
thay đổi giá cả của chứng khoán cần phải công khai cung cấp cho các nhà đầu t
nhằm tạo cho họ có cơ hội đầu t nh nhau, đồng thời cũng là biện pháp quan trọng
để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán lũng đoạn thị
trờng. Các thông tin đợc công khai thông qua các phơng tiện thông tin đại
chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác.
3.3.4- Nguyên tắc trung gian mua bán.
Trên TTCK, các giao dịch đợc thực hiện thông qua tổ chức môi giới để đảm
bảo các loại chứng khoán đợc giao dịch là chứng khoán thực tế và hợp pháp, tránh
sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịch. Các công ty chứng khoán, bằng việc thực hiện
các nghiệp vụ của mình đảm nhận vai trò trung gian cho cung và cầu chứng khoán
gặp nhau. Trên thị trờng sơ cấp, các nhà đầu t thờng không mua trực tiếp của
các nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trờng thứ cấp,
thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh các công ty chứng khoán mua chứng
khoán giúp các nhà đầu t hoặc mua chứng khoán của nhà đầu t này để mua và
bán cho các nhà đầu t khác.
14
IV-/ Các tổ chức và cá nhân tham gia vào TTCK.
Các tổ chức và cá nhân tham gia vào TTCK đợc chia thành ba nhóm sau: Nhà
phát hành, nhà đầu t và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
4.1-/ Nhà phát hành.
Nhà phát hành là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn thông qua
TTCK. Nhà phát hành là ngời cung cấp các chứng khoán- hàng hoá của TTCK.
Thông thờng nhà phát hành bao gồm:
-Chính phủ và chính quyền địa phơng là nhà phát hành các trái phiếu Chính
phủ và trái phiếu địa phơng.
-Doanh nghiệp là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
-Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính nh các trái

4.3.1- Công ty chứng khoán.
Là các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp chứng khoán với các
nghiệp vụ chính là bảo lãnh và phát hành môi giới chứng khoán và kinh doanh.
Không phải công ty chứng khoán nào cũng đợc thực hiện cả ba nghiệp vụ nh
trên. Để có thể đợc thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm
bảo đợc một số vốn nhất định và phải đợc phép của cơ quan có thẩm quyền.
4.3.2- Các ngân hàng thơng mại.
Hoạt động của các ngân hàng thơng mại trong lĩnh vực kinh doanh chứng
khoán là tuỳ theo điều kiện và luật pháp của mỗi nợc quy định. Trên thế giới có
hai kiểu mẫu của vấn đề này.
Kiểu mẫu thứ nhất là Ngân hàng Vạn năng nh ở Hà Lan, Đức, Thụy Sỹ.
Theo kiểu mẫu này không có sự tách biệt giữa công nghiệp ngân hàng và công
nghiệp chứng khoán. Trong một hệ thống ngân hàng vạn năng, các ngân hàng
thơng mại hoạt động cung cấp một loạt đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng
khoán và bảo hiểm.
Kiểu mẫu thứ hai là có một sự tách biệt pháp lý giữa công nghiệp ngân hàng và
công nghiệp chứng khoán mà điển hình là ở Mỹ và Nhật. Tuy nhiên, trong những
16
năm gần đây xu hớng ở các nớc này là nới lỏng hàng rào tách biệt bằng cách cho
phép các ngân hàng thơng mại đợc phép hoạt động kinh doanh chứng khoán
thông qua việc thành lập các công ty con chuyên hoạt động trong lĩnh vực này với
tài sản riêng và hạch toán riêng, và ngợc lại các công ty chứng khoán cũng đợc
hoạt động kinh doanh ngân hàng theo cách trên. Đây là xu hớng khá phổ biến hiện
nay ở nhiều nớc đang phát triển. ở Việt Nam, cũng sẽ thực hiện theo hớng này
chỉ đợc đầu t vào chứng khoán trong những giới hạn nhất định để bảo vệ ngân
hàng khỏi sự thay đổi giá chứng khoán. Ngân hàng cúng có thể đợc thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
4.3.3- Công ty t vấn đầu t chứng khoán.
Là công ty có chức năng t vấn, giúp đỡ các nhà đầu t trong việc ra quyết
định đầu t và thực hiện các quyết định đầu t đó. Công ty t vấn đầu t cũng có

thờng là một tổ chức tự điều hành.
4.4.4- Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán.
Là tổ chức nhận lu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh
toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán.
4.4.5- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán.
Là tổ chức phụ trợ, phục vụ cho các giao dịch chứng khoán. Công ty này cung
cấp hệ thống máy tính với các chơng trình để thông qua đó có thể thực hiện đợc
các lệnh giao dịch một cách chính xác, nhanh chóng. Thông thờng, công ty dịch
vụ máy tính chứng khoán ra đời khi TTCK đã phát triển đến một trình độ nhất định,
bắt đầu đi vào tự động hoá các giao dịch.
4.4.6- Các tổ chức ty tài trợ chứng khoán.
Là các tổ chức đợc thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng và tăng
trởng của TTCK thông qua các hoạt động cho vay bảo lãnh, cho vay để mua cổ
phiếu, cho vay chứng khoán cho các giao dịch chênh lệch (giao dịch margin) Các
tổ chức tài trợ chứng khoán ở các nớc khác nhau có đặc điểm khác nhau, có một
số nớc không có loại hình tổ chức này.
4.4.7- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.
Là công ty chuyên thực hiện công việc đánh giá về tình hình và triển vọng hoạt
động của các doanh nghiệp dới dạng các hệ số tín nhiệm. Các nhà đầu t có thể
18
dùa vµo c¸c hÖ sè tÝn nhiÖm do c¸c c«ng ty ®¸nh gi¸ hÖ sè tÝn nhiÖm cung cÊp ®Ó
c©n nh¾c ®a ra quyÕt ®Þnh ®Çu t cña m×nh.
19
Chơng II
Quá trình chuẩn bị cho việc hình thành và phát triển thị
trờng chứng khoán ở Việt Nam.
I-/ Sự cần thiết phải xây dựng TTCK hoàn chỉnh ở Việt Nam.
1-/ Vấn đề tạo lập vốn trong nền kinh té.
Sẽ không có nền kinh tế tăng trởng cao, thất nghiệp ở mức thấp nếu nhu cầu
về vốn của các doanh nghiệp không đợc đáp ứng một cách đầy đủ. Hiện nay nền

ra tơng tự đối với các doanh nghiệp nhà nớc, chỉ tính riêng hai doanh nghiệp
ngành xi măng số trái phiếu phát hành mới ở mức 330 tỷ- một con số khiêm tốn so
với nhu cầu hàng nghìn tỷ của doanh nghiệp. Theo thống kê mới nhất, việc huy
động vốn thông qua phát hành trái phiếu chỉ chiếm 5%GDP của cả nớc. Nh vậy,
các doanh nghiệp Việt Nam vẫn bị đặt trớc tình trạng làm thế nào để có vốn, để
mở rộng sản xuất một cách có hiệu quả?
Câu hỏi dờng nh có giải đáp khi ta xem xét việc tạo vốn từ cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc (DNNN). Tuy nhiên không hẳn là nh vậy, bởi vì chúng ta
đã tiến hành cổ phần hoá một cách cỡng ép, không tạo đợc động cơ khuyến khích
DNNN cổ phần hoá cũng nh thiếu kiên quyết với một số doanh nghiệp, dẫn đến rất
ít DNNN đợc cổ phần hoá, các loại trái phiếu phát hành cho đến nay ở Việt Nam
có tổng giá trị chiếm khoảng 1%GDP, tập trung vào 10 công ty cổ phần và 10
DNNN đã cổ phần hoá.
Tóm lại, từ những phân tích trên chúng ta thấy rằng đã đến lúc cần phải có một
thị trờng vốn hoàn chỉnh, hoạt động một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức
năng làm cầu nối, chuyển vốn từ những ngời có nhu cầu cho vay sang những ngời
có nhu cầu vay. Có nh vậy các doanh nghiệp sản xuất mới thoát khỏi sự lệ thuộc
về vốn vào hệ thống Ngân hàng thơng mại- hoạt động còn yếu kém, thủ tục hành
chính còn rờm rà, khơi đợc nguồn tiền tiết kiệm còn tiềm tàng với quy mô lớn
trong dân, làm cho các doanh nghiệp linh động hơn về vốn, dân c có khả năng
quyết định việc cho vay hay đầu t của mình để thu đợc nhiều lợi nhuận nhất- đây
chính là yếu tố thúc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế, làm cho các hoạt động của
nền kinh tế trở nên sôi động, kích thích các nhân tố trong nền kinh tế tham gia một
cách tích cực.
2-/ TTCK- một hình thức kinh tế hiện đại.
21
Hiện nay, hầu hết nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới đều vận hành theo
cơ chế thị trờng- trong lịch sử phát triển, kinh tế thị trờng đã chứng tỏ tính u việt
hơn của nó so với kinh tế tự cấp tự túc hay nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Ưu
việt rõ hơn ở chỗ nào, mỗi chúng ta đều đã thấy rõ. TTCK ra đời trong nền kinh tế

có TTCK bởi tất cả các quốc gia muốn có một nền kinh tế hiện đại, ổn định, tăng
trởng, phát triển bền vững đều cần phải có TTCK- với t cách là một hình thức
kinh tế hiện đại và phải biết cách để có một TTCK hoạt động hữu hiệu.
Bớc ra từ hàng nghìn cuộc chiến tranh giành độc lập đầy máu và nớc mắt,
đất nớc Việt Nam nh là một cơ thể ốm yếu đầy thơng tích, nghèo đói với một
nền kinh tế còn mang nặng tính tự cung tự cấp phát triển què quặt. Trong khi đó thế
giới đã chứng kiến những thành tựu rực rỡ về khoa học kỹ thuật và có những tiến bộ
vợt bậc về kinh tế, chủ nghĩa t bản với những cái vòi bạch tuộc của nó vơn ra
chiếm lĩnh thị trờng mọi ngóc nghách trên thế giới làm cho nền kinh tế toàn cầu
trở nên sôi động, xuất hiẹn sự gắn kết giữa những nền kinh tế quốc gia nhỏ để tạo
nên nền kinh tế quốc tế với những hình thức kinh tế tiên tiến hiện đại. Với xu hớng
nh vậy, nền kinh tế Việt Nam- một bộ phận của nền kinh tế thế giới phải thay đổi,
phải nỗ lực khắc phục khó khăn do chiến tranh để lại, áp dụng những cái sẵn có để
phát triển, để bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại.
Chúng ta đã phát triển sau các nớc t bản, mà lại gặp nhiều khó khăn, chính
vì vậy chúng ta cần rút ngắn thời gian phát triển kinh tế bằng cách tạo ra các điều
kiện cho phép vận dụng sớm những hình thức kinh tế hiện đại, có nh vậy khả năng
bắt kịp nhịp độ phát triển kinh tế thế giới mới có cơ hội xảy ra. Đây không phải là
nhận định máy móc, lý thuyết, mà nó đã đợc chứng minh bằng thực tiễn hơn 10
năm đổi mới tính từ năm 1986, chúng ta đã áp dụng cơ chế thị trờng vào nền kinh
tế, sử dụng ngay từ đầu các công cụ tài chính tiền tệ nh là đòn bẩy và xung lực chủ
yếu để đa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng khắc phục đợc siêu lạm phát, nền
kinh tế có sự tăng trởng đáng kể cao nhất là 9-10%. Chúng ta đã thoát khỏi những
năm kinh tế kế hoạch hoá, có một nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị
trờng, nh vậy việc xây dựng và phát triển TTCK là một tất yếu phù hợp với xu thế
thời đại để chúng ta có những điều kiện thuận lợi hơn, rút ngắn khoảng cách giữa
tốc độ phát triển của kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới.
Kết luận: Việc hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam trở thành một
nhiệm vụ cấp bách và có tầm quan trọng lớn lao và đã đợc cụ thể hoá trong nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 Đảng Cộng Sản Việt Nam: Chuẩn bị

kích thích sự tăng lên về nhu cầu vốn đầu t, nhất là đầu t dài hạn.
Bên cạnh đó, cùng với những chính sách hợp lý, chúng ta đã đẩy lùi đợc lạm
phát, đa lạm phát từ mức ba con số xuống một con số, lạm phát đợc kiểm soát
chặt chẽ.
Năm
1991
1992
1993
1994
1995
1996
24
Tỷ lệ lạm phát
14,4%
17,5%
5,2%
14,4%
12,7%
4,5%
Những tháng đầu năm 1997 tỷ lệ lạm phát là 1,4% đợc dự đoán là 2% cho
cả năm. Việc giữ lạm phát ở mức cho phép làm giá trị đồng tiền nội tệ, tỷ giá hối
đoái đợc ổn định, cán cân thanh toán đợc kiểm soát chặt chẽ. Đây là những yếu
tố làm yên lòng các nhà đầu t khi muốn đầu t vào những mục đích sinh lời khác
nhau trong đó có các chứng khoán mua bán trên thị trờng. Không những thế, cộng
thêm yếu tố về chính trị, kinh tế, một nguồn tài nguyên thiên nhiên cha đợc thăm
dò khai thác, chúng ta sẽ khuyến khích đợc đầu t nớc ngoài trực tiếp (FDI) và
tiến tới khai thác theo hớng đầu t gián tiếp qua TTCK (FPI- Foreign Portfolio
Investment) từ đó sẽ thúc đẩy việc mở rộng TTCK Việt Nam trong tơng lai thị
trờng quốc tế.
Tuy nhiên, nói nh trên không có nghĩa là ngay lập tức nay mai chúng ta đã có

ta không có thị trờng thứ cấp, có nhng nó cha đi vào hoạt động một cách chính
thức công khai, đơn cử một ví dụ: trong đợt phát hành công trái thời hạn 5 năm vừa
qua của Chính phủ đã xuất hiện những tổ chức hoặc cá nhân thu mua công trái trong
dân và bán cho ngân hàng với mệnh giá thấp hơn - đây chính là những biểu hiện
manh nha của việc xuất hiện thị trờng cấp hai (thứ cấp ) ở Việt Nam.
Chủ thể kinh tế có vai trò không kém phần quan trọng so với công ty cổ phần
là hệ thống ngân hàng. Nh chúng ta đều biết, không có những ngân hàng- những
trung gian tài chính- thị trờng tài chính không có đợc lợi ích trọn vẹn. Lý do là:
nếu không có ngân hàng- ngời thu gom những nguồn tiền tiết kiệm ít ỏi, và đáp
ứng nhu cầu vay khiêm tốn, trong một thế giới chỉ có tài chính trực tiếp, những
ngời đi vay và cho vay những khoản nhỏ đó không thể đợc thoả mãn do chi phí
mà họ phải trả cho những dịch vụ đó là quá cao.
Trong quá trình cải cách ở Việt Nam, một loạt các Ngân hàng thơng mại, các
tổ chức tài chính, tín dụng, cơ quan bảo hiểm và một số quỹ đã ra đời nh: hệ thống
ngân hàng cổ phần (có 52 ngân hàng cổ phần trong đó có 31 ngân hàng thành thị và
21 ngân hàng nông thôn) hợp tác xã tín dụng, hệ thống ngân hàng thơng mại quốc
doanh, ngân hàng nớc ngoài. Các ngân hàng này trong quá trình phát triển phải
cạnh tranh, kết quả là sự giảm sút về lãi suất cho vay dẫn đến kích thích việc vay
tiền. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng là một yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự ra đời
của TTCK trên cơ sở một thị trờng vốn phát triển.
2.1.2- Hệ thống pháp luật.
Để đảm bảo cho TTCK hoạt động đều đặn, lành mạnh, có hiệu quả, yêu cầu
phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Sở dĩ nh vậy là do không phải bất cứ
một doanh nghiệp nào khi cần vốn đầu t là có thể phát hành chứng khoán và dùng
nó nh một công cụ để huy động vốn. Muốn phát hành chứng khoán, doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status