1
Lời nói đầu
Kể từ sau Đại hội VI, Việt Nam đã thực sự bớc vào công cuộc CNH -
HĐH đất nớc để trang bị cho một nền sản xuất đại công nghiệp XHCN, cơ sở
vật chất kỹ thuật tiên tiến. Để có đợc một hệ thống trang bị kỹ thuật hiện đại
đáp ứng đợc đòi hỏi của một nền đại công nghiệp, Việt Nam đã đang và sẽ cần
rất nhiều vốn, một lợng vốn khổng lồ. Do đó, chúng ta đang hớng tới những
giải pháp tạo vốn, đặc biệt là trung và dài hạn để phục vụ cho nhu cầu đầu t dài
hạn của nền kinh tế.
Trên thực tế, việc huy động vốn còn tồn tại nhiều nghịch lý. Nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân c rất lớn nhng lại không đợc huy động, nguồn vốn trong
ngân hàng không cho vay đợc, nhiều doanh nghiệp còn có vốn nhàn rỗi. Trong
khi đó, trong nền kinh tế còn nhiều doanh nghiệp thiếu vốn để đầu t vào những
dự án có hiệu quả.
Một trong những nguyên do của nghịch lý trên một phần là do hiệu quả
hoạt động của chính các doanh nghiệp còn một phần quan trọng là cha có thị
trờng chứng khoán, cung và cầu vốn cha gặp nhau. Do vậy, để giải quyết
nghịch lý trên chúng ta cần thành lập thị trờng chứng khoán.
Tuy nhiên, để thành lập thị trờng chứng khoán chúng ta cần phải nắm
đợc những lý thuyết cơ bản kết hợp với những thực trạng ở Việt Nam trong
những năm qua và quan trọng hơn cả là những điều kiện tiền đề để thành lập thị
trờng chứng khoán.
Nhằm phục vụ cho những nhu cầu đó, đề tài xin đề cập đến những lý luận
cơ bản về thị trờng chứng khoán, thực trạng hàng hoá chứng khoán ở Việt Nam
và những giải pháp tăng lợng chứng khoán khả mại cho một thị trờng chứng
khoán trong tơng lai.
Trong quá trình viết do hạn chế về thời gian và trình độ không tránh khỏi
nhiều sai sót rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn sinh viên.
Sau đây là nội dung của đề tài.
Chơng I
Cơ Sở lý luận
da tợng trng cho 3 nội dung của Sở Giao dịch là: mậu dịch trờng hàng hoá, mậu
dịch trờng ngoại tệ và mậu dịch trờng giá khoán động sản.
Đến năm 1547, mậu dịch trờng tại thành phố Bruges bị suy sụp và dời
đến hải cảng Auvers( Bỉ). Mậu dịch trờng này phát triển nhanh và theo đó mậu
dịch trờng ở các nớc khác cũng bắt đầu hình thành.
Vào giữa thế kỉ 18, mậu dịch trờng ở Luân Đôn đã đợc hình thành theo
mẫu của mậu dịch trờng Auvers gọi là Stock exchange, nơi mà sau này ngời ta
gọi là Sở Giao dịch Chứng khoán(SGDCK) Luân Đôn. Và các mậu dịch
3
trờng(MDT) khác cũng lần lợt đợc thành lập tại Pháp, Đức, Italia, Bắc Âu và
ít nhiều đợc cải tiến tuỳ theo điều kiện của từng nớc.
Sau một thời gian hoạt động, mô hình của MDT bao gồm 3 nội dung
không còn phù hợp với xu thế phát triển nữa. Vì vậy, giao dịch hàng hoá tách
thành khu thơng mại. giao dịch ngoại tệ thành thị trờng hối đoái và giao dịch
khoán động sản tách thành TTCK và các giao dịch hợp đồng cho tơng lai thành
thì trờng tơng lai.
Nh vậy, TTCK đã xuất hiện từ thế kỷ 15 và sự xuất hiện của nó đã kéo
theo sự hình thành một loạt các thị trờng khác. Quá trình hình thành và phát
triển của TTCK thế giới đã trải qua nhiều bớc thăng trầm. Có thể nói, thời kỳ
phồn thịnh nhất của TTCK là thời kỳ những năm từ 1875 đến 1915, TTCK phát
triển gắn với sự tăng trởng mạnh của các nền kinh tế trên thế giới. Nhng sau
đó, đến ngày 29/10/1929-Ngày thứ năm đen tối- mở đầu cuộc khủng hoảng tại
TTCK New york, từ đó, kéo theo khủng hoảng của các TTCK Tây Âu, Bắc Âu
và Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giới thứ II, TTCK các nớc phát triển mạnh và
tơng đối ổn định. Cho đến 1987 TTCK thế giới lại lâm vào cuộc đại khủng
hoảng làm cho kinh té các nớc kiệt quệ và suy yếu. Nhng chỉ 2 năm sau đó,
TTCK thế giới lại đi vào ổn định và phát triển trở thành một nhân tố không thể
thiếu trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia.
2-/ Bản chất TTCK
Quá trình phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ một quốc gia nào cũng làm
Để tạo lập vốn cho sản xuất kinh doanh, DN có thể thông qua hai hình
thức chủ yếu. Một là, vay vốn từ các ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu. Hai là,
tăng nguồn vốn tự có bằng cách phát hành cổ phiếu. Trên TTCK các chứng
khoán (trái phiếu, cổ phiếu ) đợc mua bán, trao đổi thông qua một cơ chế nhất
định. Nh vậy, TTCK sẽ thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ các khoản tiết kiệm
trong dân c, những luồng vốn đầu t nớc ngoài, nguồn vốn nhàn rỗi trong các
quỹ của DN, các tổ chức kinh tế xá hội và Chính phủ để tạo nên một luồng vốn
khổng lồ cho đầu t, phát triển kinh tế. Nhờ đó, TTCK tạo điều kiện cho các DN
hoạt động có hiệu quả hơn, tăng thêm lợi nhuận cho DN, giúp Nhà nớc và chính
phủ bù đắp các khoản thâm hụt Ngân sách và thu hút nguồn vốn cho đầu t phát
triển cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, TTCK còn giúp cho dân c và các tổ chức xã hội
tâng thêm đợc nguồn thu nhập chính đáng.
2-/ TTCK tạo điều kiện cho các DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn
Vốn kinh doanh của một DN bao gồm: vốn cố định và vốn lu động.
Trong ngắn hạn, vốn cố định của DN là không đổi, vì vậy, để tăng nguồn vốn
kinh doanh của mình, DN phải tăng nguồn vốn lu động. Thông qua TTCK DN
có thể chủ động về quy mô, thời hạn thu hút vốn lu động. Nguồn vốn huy động
này giúp DN huy động đợc nguồn vốn trung và dài hạn, chủ động trong sử dụng
vốn. Khi phát hành chứng khoán trên thị trờng, DN thực hiện chức năng của
ngời vay vốn, ngời mua chứng khoán sẽ là nhà đầu t vốn.
Về phía các nhà đầu t, họ mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, do
đó, khi mua họ sẽ chọn những chứng khoán có khả năng sinh lời cao nhất. Khả
năng này tuỳ thuộc chủ yếu vào hiệu quả hoạt động của DN phát hành chứng
5
khoán. Nh vậy, giá của những chứng khoán mà chủ phát hành là những DN
hoạt động có hiệu quả sẽ tăng cao hơn so với những chứng khoán của các DN
hoạt động kém hiệu quả. Để đảm bảo giá chứng khoán, DN cần phải sử dụng
vốn linh động và đạt hiệu quả cao nhất.
3-/ Công cụ đánh giá DN và dự đoán tơng lai
Cùng với sự phát triển của KTTT, TTCK biến hoá ngày càng đa dạng và
1.1- TTCK khuyến khích dân chúng tiết kiệm và thu hút những nguồn
vốn nhàn rỗi vào đầu t.
Bất kể một nền kinh tế nào muồn phát triển đều phải đầu t. Có hai biện
pháp đầu t chủ yếu:
Một là, doanh nghiệp tự tích luỹ vốn để đầu t. Qua các chu kỳ kinh
doanh, doanh nghiệp sẽ trích một phần lợi nhuận của mình vào quỹ đầu t. Biện
pháp này chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và quy
mô hoạt động lớn.
Hai là, doanh nghiệp huy động từ nguồn vốn bên ngoài. Biện pháp này
phổ biến hơn qua hai hình thức: vay tín dụng và phát hành cổ phiếu.
Nhờ TTCK cổ phiếu và trái phiếu của DN phát hành dễ dàng hơn, dân c
có thể tiết kiệm tích cực và các quỹ nhàn rỗi trong các thành phần kinh tế có thể
đợc đầu t vào sản xuất kinh doanh.
1.2- TTCK là phơng tiện huy động vốn
Khi cha có TTCK việc huy động vốn của các DN hoặc Chính phủ chủ
yếu thông qua vay tín dụng Ngân hàng. Kể từ khi xuất hiện TTCK các DN và
Chính phủ có thể chủ động vay vốn trực tiếp thông qua phát hành chứng khoán.
Nguồn vốn huy động đợc bảo đảm và thời gian sử dụng lâu dài. Đơn vị lại chủ
động hơn về mặt thanh toán cũng nh không bận tâm khi giá của cổ phiếu biến
động. Đối với chính phủ, thay vì phất hành tiền có thể phát hành CK để bù đắp
thâm hụt NS mà không gây ra lạm phát. Tuy nhiên, nếu không có TTCK vẫn có
thể phát hành đợc trái phiếu song đó chỉ là trung và ngắn hạn.
7
1.3- TTCK là một công cụ giúp cho nhà nớc thực hiện các chơng
trình phát triển kinh tế xã hội
Trong khi thực hiện các chơng trình phát trỉen kinh tế xã hội, CP các nớc
thờng bị thâm hụt NS. Để bù đắp cho thâm hụt Nhà nớc có hai biện pháp:
Một là, các NH TW sẽ phát hành tiền cho CP. Biện pháp này rất dễ gây ra
lạm phát cao.
Hai là, Chính phủ đi vay từ nớc ngoài (các tổ chức tài chính quốc tế), từ
đầu cơ là việc mua liên tục một loại cổ phiếu nào đó với giá cao và bán ra với giá
thấp nhằm thao túng thị trờng. TTCK không chấp nhận những hoạt động này.
2.2- Mua bán nội gián
Đó là việc một cánhân lợi dụng những thông tin của một công tin đẻ mua
bán CP của công ty đó một cách bất thờgn nhằm thu đợc lợi nhuận. Hoạt động
mua bán nh vậy là phi đạo đức về mặt thơng mại và đi ngợc lại nguyên tác
công bằng của TTCK.
2.3- Mua bán cổ phiếu ngoài thị trờng
ở hầu hết các nớc luật đều hạn chế các nhà môi giới cũng nh các nhà
đầu t mua bán ngoài thị trờng vì điều này gây ảnh hởng xấu đến những công
ty và tạo áp lực với các nhà đầu t mua bán cổ phiếu trên thị trờng chính thức.
2.4- Phao tin đồn không chính xác về hoạt động của một đơn vị kinh tế
Đây là hoạt động đi ngợc lại nguyên tắc công khai của thị trờng. Thông
thờng, đó là các thông tin xấu. Những thông tin này sẽ tác động đến các nhà
đầu t làm cho họ bán ồ ạt các cổ phiếu ra thị trờng khiến cho giá CP giảm
mạnh. Những kể tung tin sẽ đứng ra mua cổ phiếu và thao túng mọi hoạt động
của công ty nhằm hởng lợi bất chính cho đến khi tin đồn đợc kiểm chứng.
9
IV-/ Phân loại TTTC
1-/ Thị trờng tài chính bao gồm thị trờng cấp 1 và thj trờng cấp 2
1.1- Thị trờng cấp I
TT cấp 1 là thị trờng mà tại đó các chứng khoán mới đợc phát hành và
bán cho ngời mua đầu tiên.
Để CK từ nhứng nhà phát hành đến đợc tay của những nhà đầu t cần
phải qua các trung gian tài chính (TGTC). Nhứng trung gian này sẽ đứng ra thực
hiện hộ nhà phát hành việc phát hành những chứng khoán mới. Có hai phơng
thức phát hành:
Thứ nhất, Các TGTC sẽ đứng ra nhận bán hộ các lô chứng khoán, sau khi
bán xong dù hết CK hay không thì các công ty phát hành vẫn phải thanh toán
cho TGTC một khoản phí hoa hồng. Đồng thời, các TGTC sẽ không chịu trách
2-/ TTTC gồm TT nợ và TT vốn cổ phần
2.1- Thị trờng nợ
TT nợ là thị trờng mà ở đó những giấy tờ ghi nợ đợc mua bán và trên
những giấy tờ đó có ghi rõ ai là chủ nợ, ai là con nợ
Hàng hoá trển thị trờng nợ là những công cụ nợ, đó là những giấy tờ ghi
nợ. Những giấy tờ này xác định quan hệ giữa chủ nợ và con nợ, hay nói cách
khác nó xác định quan hệ tín dụng giữa ngời vay và ngời cho vay theo nguyên
tắc có hoàn trả trực tiếp. Theo nguyên tắc tín dụng, những công cụ nợ sau một
thời hạn nhất định( đã ghi trên công cụ), ngời phát hành ra công cụ nợ ấy phải
có trách nhiệm hoàn trả số tiền mà họ đã vay kèm theo phân lợi tức cho việc vay
tiền. Chính vì vậy, giá cả trên thị trờng nợ chính là lãi suất tín dụng.
2.2- Thị trờng vốn cổ phần
TT vốn cổ phần là TT mà ở đó ngời ta mua bán cổ phần(CP) của các
công ty cổ phần(CT CP) biểu hiện ở sự mua bán cổ phiếu của các CT CP.
CP là những phần vốn bằng nhau đợc chia ra từ vốn điều lệ của doanh
nghiệp. Những giấy tờ xác nhận quyền sở hữu CP là cổ phiếu. Ngời sở hữu cổ
phiếu là cổ đông. Cổ phiếu thờng không có kỳ hạn do vậy ngời phát hành ra
nó sẽ không chịu trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho ngời mua cổ phiếu trừ 2
trờng hợp: khi công ty hết hạn hoạt động và khi công ty phá sản. Trong cả hai
trờng hợp này, các cổ đông chỉ đợc hoàn vốn sau khi công ty đã thanh toán hết
các khoản nợ.
Để thu hồi lại tiền các cổ đông có thể bán lại cổ phiếu trên TT theo giá
TT. Giá TT đợc xác định theo công thức:
Giá thị trờng = (Thu nhập do cổ phiếu mang lại) / ( lãi suất ngân hàng)
Nh vậy, thị giá cổ phiếu không chỉ phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng mà
còn phụ thuộc chủ yếu vào thu nhâp do cổ phiếu mang lại. Do đó, kêt squả hoạt
động của CT sẽ quyết định giá TT của cổ phiếu. Tuy nhiên, khi còn giữ cổ phiếu
11
trong tay tất cả các cổ đông đều có quyền tham gia quyết định hoạt động của
công ty thông qua đại hôi cổ đông.
chung TTCK có 3 nguyên tắc chủ yếu: công khai, đấu giá và trung gian.
1-/ Nguyên tắc trung gian
Theo nguyên tắc này, những CK lu hành trên thị trờng đợc bảo đảm là
những chứng khoán thực. Nguyên tắc này giúp cho TTCK hoạt động lành mạnh
12
hơn, đều đặn và hợp pháp. Hơn nữa, nó còn bảo vệ quyền lợi của nhứng nhà đầu
t. Bởi lẽ nhà môi giới CK sẽ giúp cho các nhà đầu t nắm đợc đầy đủ thông tin
về CK của một công ty, từ đó, giúp họ xác định đúng giá trị của CK ấy. Có hai
loại môi giới: môi giới trung gian và thơng gia CK.
Môi giới trung gian là ngời môi giới mua bán CK cho khách hàng để
hởng hoa hồng.
Thơng gia CK là những ngời trung gian mua bán CK không phải cho
khách hàng mà cho bản thân mình để hởng lợi từ chênh lệch giá mua bán CK.
Để đảm bảo cho TT diễn ra theo nguyên tắc và t;uân thủ những quy định
của pháp luật, buộc các nhà môi giới phải tập trung lại và chịu sự quản lý của
một hiệp hội. Thông thờng hiệp hội đó là những công ty CK và tồn tại dới
hình thức CTCP.
2-/ Nguyên tắc đấu giá
Việc định giá trên thị trờng chủ yếu do các nhà môi giới quyết định. Mỗi
nhà môi giới định giá theo thời điểm, theo phán đoán và theo tác động qua lại
của cung cầu CK trên TT. Việc định giá sẽ đợc thực hiện qua việc đấu giá CK
giữa ngời bán và ngời môi giới, giữa ngời môi giới này và ngời môi giới
khác. Sau mỗi cuộc đấu giá CK sẽ đợc bán cho ai mua đợc với giá cao nhất.
Do vậy, giá CK sẽ không chịu sự tác động của bất kì cá nhân nào. Đó cũng là lý
do mà ngời ta thờng gọi TTCK là một thị trờng cạnh tranh tự do.
3-/ Nguyên tắc công khai
Tất cả mọi hoạt động mua bán, trao đổi hay giao dịch trên thị trờng đều
phải đợc thực hiện công khai. Các kết quả hoạt động cùng với những báo cáo về
tình hình tài chính của các công ty có cổ phiếu đợc niêm yết trên TTCK thì đều
đợc thông báo công khai. Số lợng và giá cả của các loại CK đợc đa lên bảng
tiết kiệm và nhà đầu t trên thị trờng có rất nhiều loại CP. Sau đây là hai loại
CP thông dụng.
1.1- Cổ phiếu thờng
Cổ phiếu thờng là loại CP không có kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại
của công ty phát hành ra nó, không có mức lãi suất cố định, số lãi đợc chia vào
cuối niên độ kết toán đợc gọi là cổ tức. CP thờng có những đặc điểm sau:
Một là, các chủ nhân của nó phải chịu rủi ro lớn. Trong trờng hợp tồi tệ
nhất, khi công ty phá sản, cổ đông có thể bị mất trắng hoặc nếu chăng có đợc
hoàn lại thì chỉ là phần vốn còn lại của công ty sau khi đã thanh toán hết nợ. Khi
công ty hoạt động có hiệu quả, những cổ đông này lại là những ngời đợc lợi
nhiều nhất vì họ đợc hởng phần lớn lợi nhuận của công ty.
Hai là, các cổ đông có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp và sở hữu
những tài sản pháp định. Quyền tham gia vào quản lý DN thể hiện qua Đại hội
cổ đông và thông qua việc bỏ phiếu quyết định mọi vấn đề đợc đa ra và quyết
định bầu lãnh đạo công ty.
Ba là, các cổ đông có quyền đợc biết những thômh tin cần thiết về tình
hình hoạt động và kết quả SXKD của công ty. Nếu công ty phát hành một đợt cổ
14
phiếu mới, những cổ đông này có quyền u tiên trong việc mua cổ phiếu với một
lợng tơng ứng với lợng cổ phiếu mà họ nắm giữ và vơí giá thấp hơn so với giá
thị trờng.
1.2- Cổ phiếu u đãi
Cổ phiếu u đãi cũng giống nh cổ phiếu thông thớng song cũng có mốt
số hạn chế nhất định nh ngời sở hữu cổ phiếu không đợc tham gia bầu cử
hoặc ứng cử vào HĐQT hay ban kiểm soát công ty. Họ đợc hởng những u đãi
về tài chính nhất định. Mức lợi tức của những CP loại này thờng cố định qua
các chu kỳ sản xuất kinh doanh và đợc chia trớc những CP thông thờng. Nếu
công ty bị phá sản họ sẽ đợc u tiên hơn. Do lợi tức của CP u đãi là cố định
nện giá TT của nó hầu nh không biến động hoặc biến động rất ít. Tuy vậy, lợi
tức của CP u đãi vẫn lớn hơn so với lãi suất tín dụng, lợi tức trái phiếu chính
về vốn cho đầu t trung và dài hạn sẽ phát hành trái phiếu công ty để huy động.
Khi đó, công ty là ngời đi vay (con nợ) và ngời mua TP là ngời cho vay (chủ
nợ) của công ty. Công ty phải cam kết thanh toán nợ cả gốc và lãi cho ngòi mua
trái phiếu theo những quy định đã nêu trong hợp đồng phát hành trái phiếu.
Nh vậy, một công ty khi phát triển đến một mức độ nào đó công ty sẽ có
nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Để huy động đợc vốn trên thị
trờng, công ty có thể sử dụng một trong hai cách. Hoặc công ty phát hành cổ
phiếu để tăng nguồn vốn tự có, hoặc công ty phát hành trái phiếu để tăng nguồn
vốn cho vay của mình. Việc quyết định một trong hai phơng thức trên tuỳ thuộc
vào những chỉ tiêu sau:
-Tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
trong kỳ trớc.
-Tình hình giá cả của CP hoặc TP của công ty trên TT.
-Lãi suất Ngân hàng.
-Tính chất của dự án đầu t.
-Những quyết định trong nội bộ công ty.
Trên TTCK ngoài CP và TP công ty còn có một loại hàng hoá quan trọng
khác xuất hiện ở hầu hết các TTCK trên thế giới, ở Việt Nam loại CK này là một
hàng hoá đầu tiên đợc giao dịch trên TTCK trong tơng lai, đó là trái phiếu CP.
TP Chính phủ & Chính quyền địa phơng là loại trái phiếu do Chính
phủ hay Chính quyền địa phơng phát hành và đợc đảm bảo chi trả bằng Ngân
sách. Mục đích của việc huy động các khoản vốn này là nhằm bù đắp cho thâm
hụt và cân bằng thu chi Ngân sách. Sử dụng công cụ phát hành trái phiếu nhà
nớc có thể bù đắp thâm hụt Ngân sách mà không phải phát hành tiền, gây ra
ảnh hởng tiêu cực đến giá trị tiền lu hành. Những khoản nợ này, sau một kì
hạn, sẽ đợc CP sử dụng NS quốc gia để thanh toán.
Một đặc điểm dễ thấy mà nhiều ngời rất thĩch mua TP CP đó là loại trái
phiếu này có độ rủi ro bằng không do nhà nớc luôn đảm bảo chi trả khi trái
phiếu đáo hạn. Thêm vào đó, trái chủ không phải nộp bất cứ một khoản thuế nào.
16
trạng tạo lập vốn ở Việt Nam hiện nay cho thấy, nguồn vốn mà các DN vay trung
và dài hạn từ các NHTM là rất hạn chế. Bởi nguồn vốn mà các NHTM huy động
chủ yéu là vốn ngắn hạn nên cha đáp ứng đợc phần lớn nhu câù về vốn trung
và dài hạn của DN. Một hình thức vay khác là DN có thể phát hành TP trên thị
trờng. hìnhthức này, hiện nay, đang gặp rất nhiều khó khăn. Từ sau luật công ty
năm 1990, trên thị trờng đã xuất hiện một số loại TP. Tuy nhiên con số đạt
đợc rất khiêm tốn chủ yuế tập trung vào TPCP , TP công ty chỉ chiếm một tỷ lệ
17
nhỏ. Đối với DNNN, trái phiếu của hai doanh nghiệp ngành Xi măng chỉ dừng
lại ở 330 tỷ và theo một báo cáo mới nhất tổng giá trị các khoản vay trong nớc
chỉ đạt xấp xỉ 5%GDP.
Qua thực trạng trên, chúng ta có thể nhận định rằng nhu cầu về vốn đầu t
là rất lớn. Trong nền kinh tế đang còn tồn tại nhiều nghịch lý. Trong khi các tổ
chức kinh doanh đang cần vốn thì trong các ngân hàng và một số doanh nghiệp
khác vốn bị ứ đọng không giải ngân đợc. Bên cạnh đó, trong dân c vẫn phổ
biến tâm lý giữ tiền mặt, cha mạnh dạn đầu t. Các NHTM có xu hớng thắt
chặt tín dụng nên cha hạ đợc lãi suất. Xã hội cần các kênh giải ngân mà chúng
ta cha có. Nh vậy, TTCK là một hớng khả dĩ để tích tụ, tập trung vốn, đẩy
nhanh quá trình CNH-HĐH. Có nhiều nhà kinh tế cho rằng: "TTCK có thể tạo ra
những CTCP mà cổ đông là những bà nội trợ tiết kiệm tiền đi chợ".
18
chơng II
thực trạng về việc chuẩn bị hàng hoá cho
thị trờng chứng khoán ở Việt nam
Từ những phân tích và tính tất yếu phải hình thành TTCK ở Việt Nam,
chúng ta có thể thấy TTCK ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần thiết hơn bao
giờ hết. Để chuẩn bị cho ra đời một TTCK hoàn chỉnh, đòi hỏi chúng ta phải nỗ
lực tạo mọi điều kiện ban đầu. Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về điều kiện
tiền đề để thành lập TTCK ở Việt Nam nhng nhìn chung thống nhất ở những
điểm sau: ổn định kinh tế-chính trị-xã hội; kiểm soát đợc lạm phát; chuẩn bị
cầu, đối tợng, của CPH đến phơng thức tiến hành, nguyên tắc xác định giá trị
doanh nghiệp, chế độ u đãi đối với doanh nghiệp và lao động trong các doanh
nghiệp thực hiện CPH.
Trong 2 năm thực hiện, tốc độ CPH tăng lên rõ rệt. Cả nớc có 27 doanh
nghiệp hoàn thành CPH, gấp hơn 5 lần so với giai đoạn trớc. Đến tháng 6/1998
cả nớc có 32 DNNN hoàn thành CPH và đi vào hoạt động theo luật công ty.
Tiến trình CPH không chỉ đợc mở rộng theo số lợng doanh nghiệp mà còn mở
rộng cả về phạm vi địa lí: 3 bộ, 9 tỉnh, thành phố. Trong thời kì này quy mô
doanh nghiệp CPH đã lớn hơn: có doanh nghiệp có số vốn lên tới trên 120 tỷ
đồng; có 5 doanh nghiệp có vốn lớn hơn 10 tỷ đồng.
Trong số 27 DNNN đợc CPH có 1 doanh nghiệp Nhà nớc không nắm
giữ cổ phần (Công ty Đầu t sản xuất và thơng mại Hà nội). Số còn lại Nhà
nớc nắm ít nhất 10% và cao nhất là 50% vốn cổ phần.
Ngoài Nhà nớc nắm phần lớn số cổ phần còn một bộ phận khác cũng
nắm giữ không ít là: ngời lao động, t bản ( 42%-42,86%). Số cổ phần còn lại
do những cổ đông ngoài xí nghiệp nắm giữ, t bản chiếm từ 19%-20%. Điều này
chứng tỏ hiệu quả huy động vốn trong dân của công tác CPH là đáng kể.
Để hỗ trợ và giám sát công tác CPH, trong thời gian này các cấp, các
ngành đã tăng cờng bổ sung đội ngũ cán bộ vào ban chỉ đạo CPH, kiện toàn và
thành lập các ban chỉ đạo CPH ở địa phơng. trong quá trình thực hiện CPH
31/61 địa phơng đã thành lập ban chỉ đạo CPH, các địa phơng còn lại do ban
đổi mới doanh nghiệp kiểm nghiệm hoặc giao cho một số chuyên viên giúp việc.
Về phía các bộ, ngành, các tổng công ty đã có 16 đơn vị thành lập ban chỉ đạo
CPH DNNN. Mặc dù vậy, việc thành lập các ban chỉ đạo diễn ra còn rất chậm và
cha có kế hoạch triển khai cụ thể.
20
Tiến hành song song với việc thành lập ban chỉ đạo, một số Bộ, ngành và
địa phơng đã chú trọng đến công tác tuyên truyền, hớng dẫn, giải thích cho
các cán bộ và ngời lao động hiểu về chủ trơng CPH của Đảng và Nhà nớc.
Thực tế tiến trình CPH đã cho thấy công tác tuyên truyền rất quan trọng. Song
thuộc tổng công ty 91 là đáng kể. Do vậy, nếu các đơn vị thuộc tổng công ty 91
21
thực hiện nhanh tiến độ CPH thì sẽ góp phần không nhỏ thúc đẩy tiến trình CPH
trong cả nớc.
2-/ Những khó khăn và nguyên nhân trong quá trình CPH.
Phải khẳng định rằng, trong những năm thực hiện, tiến trình CPH các
DNNN đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể. Một trong số những thành tựu đó
là đẩy mạnh quá trình sản xuất kinh doanh trong DNNN và bớc đầu tạo ra 1
loại hàng hoá cho TTCK. Để đạt đợc những kết quả đó không thể không kể đến
những thuận lợi của tiến trình CPH.
Thứ nhất, CPH các DNNN đợc coi là một chủ trơng lớn của Đảng và
Nhà nớc, là vấn đề thu hút sự quan tâm lớn nhất của Chính phủ, các cấp, các
ngành và đông đảo các tầng lớp nhân dân trong những năm qua. Đây là thuận lợi
lớn nhất và cũng là điều kiện tiên quyết để có thể CPH thành công.
Thứ hai, trong việc thực hiện CPH Việt Nam là nớc đi sau so với khu
vực và Thế giới,vì vậy chúng ta có điều kiện để tiếp thu những kinh nghiệm và
bài học rút ra từ những thành công cũng nh thất bại của các nớc đã CPH.
Thứ ba, thực tiễn và hoạt động của các DNNN từ những năm 1992 đến
nay đều làm tăng kết quả kinh doanh, tăng lao động và tăng nguồn thu cho Ngân
sách Nhà nớc (NSNN).
Bên cạnh những thuận lợi to lớn đã nêu trên, tiến trình CPH cồn tồn tại
những mặt khó khăn nhất định trong công tác thực hiện. Biểu hiện rõ nhất là
trong thời gian qua tiến trình CPH đã diễn ra quá chậm so với tiến trình đã đề ra.
Trên thực tế, mặc dù đã qua 9 năm triển khai chủ trơng CPH (1990-1999),
nhng cả nớc mới CPH đợc 168 DNNN. Những văn bản Pháp luật về CPH đã
đợc ban hành từ năm 1992 nhng đến hết năm 1996 mới tiến hành đợc 11
DNNN, mục tiêu 2 năm 97-98 là 150 DNNN, nhng đến hết năm 1997 mới CPH
đợc thêm 4 doanh nghiệp, 6 tháng đầu năm 1998 là 14 doanh nghiệp. Nh vậy
thì con số 168/5756 DNNN so với mục tiêu chúng ta đặt ra: 20% DN CPH trớc
năm 2000 quả là còn rất ít ỏi. Vậy do đâu mà tiến trình CPH ở Việt Nam lại
ngày 29/6/1998 đã đơn giản hoá nhiều nhng để xác định giá trị thực tế cho
ngời mua và ngời bán cổ phần chấp nhận không phải vấn đề đơn giản.
2.3- Công tác chỉ đạo của Nhà nớc còn chậm chạp và lúng túng.
Do chủ trơng CPH là một vấn đề mới nên Chính phủ cha có đủ những
văn bản Pháp luật đủ tầm cỡ mà chỉ thực hiện theo những văn bản dới luật. Vì
vậy, những ách tắc, ngừng trệ trong tiến trình CPH là không thể tránh khỏi. Đơn
cử trờng hợp một công ty cổ phần và hoạt động thì khuôn khổ pháp luật của nó
chỉ là NĐ 44 CP (trớc đây là 28CP) còn luật công ty, luật DNNN lại cha đợc
hoàn chỉnh.
23
Thiếu những văn bản đủ mạnh về pháp lý nhng công tác chỉ đạo CPH vẫn
thiếu thống nhất và ăn khớp. Thực trạng này xuất phát từ nguyên do công tác này
mới đợc tái thiết lập, một phần do bộ máy tài chính các ban cha đợc tổ chức
độc lập, chuyên trách mà đa phần vẫn là kiêm nghiệm. Do vậy, hiệu quả thấp là
đơng nhiên.
2.4- Mức độ khuyến khích cha đủ sức hấp dẫn các doanh nghiệp
CPH.
Có thể nói, các DNNN theo luật DNNN và các văn bản pháp quy khác có
những u đãi nhất định mà các loại hình doanh nghiệp khác (Công ty t nhân,
công ty cổ phần, doanh nghiệp t nhân ) không có, chẳng hạn về vốn, kĩ thuật
Chính vì vậy, khi chuyển sang loại hình công ty cổ phần, các DNNN sẽ mất đi
những quyền lợi trớc mắt nên tâm lý phổ biến là họ không muốn CPH. Sự u
đãi rõ nhất đối với các DNNN đợc thể hiện trong mối quan hệ giữa DNNN với
Ngân hàng Nhà nớc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến
trình CPH.
2.5- Mức độ khuyến khích đối với ngời lao động trong doanh nghiệp
cha thực sự hấp dẫn.
Chế độ u đãi đối với ngời lao động khi thực hiện CPH vẫn đợc coi là
vấn đề nóng nhất từ trớc đến nay. Vậy mà chúng ta vẫn cha thực sự quan
tâm. Chính điều này đã dẫn đến sự không nhiệt tình ủng hộ CPH từ phía ngời
Từ phần cơ sở lý luận chúng ta có thể thấy trái phiếu công ty cũng là một
loại d nợ chủ yếu của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đợc trực tiếp gọi
vốn từ công chúng mà không thông qua trung gian là các NHTM.
Mặc dù có lợi thế nh vậy nhng trên thị trờng nợ Việt Nam phần lớn
trái phiếu có tính chất ngắn hạn, việc phát hành trái phiếu công ty vẫn ở mức dè
chừng, cha đều đặn, với phơng thức tự phát hành là chủ yếu. Lợng trái phiếu
lu hành trên thị trờng còn rất ít ỏi. Loại trái phiếu DNNN chỉ mới do 2 nhà
máy xi măng Hoàng Thạch và Anh Sơn phát hành với hơn 63 tỷ đồng. Các loại
trái phiếu mà những NHTM đã phát hành chủ yếu có kỳ hạn ngắn ( từ 1-3 năm)
với tổng số vốn khoảng 10 tỷ đồng tính đến năm 1997. Đó chỉ là những con số
tổng hợp, nếu xét theo từng năm, các Ngân hàng thơng mại quốc doanh
(NHTMQD) chỉ phát hành kỳ phiếu vào những lúc thời vụ, nên tính chất thờng
xuyên của việc phát hành cũng rất hạn chế. Tơng tự nh trái phiếu, các hối
phiếu và thơng phiếu cha đợc quan tâm sử dụng giữa các doanh nghiệp với
nhau và giữa doanh nghiệp với Ngân hàng. Bên cạnh những tồn tại về thời hạn và
giá trị, các trái phiếu phần lớn mới chỉ đợc phát hành ở phạm vi trong nớc.
Trên thị trờng mới chỉ có trái phiếu của công ty Cơ điện lạnh Việt Nam
đang trong giai đoạn thí điểm phát hành ra nớc ngoài với tổng giá trị 5 triệu USD
25
vào tháng 6/1996, lãi suất 4,5%, kỳ hạn 2 năm. Tuy nhiên, đây là loại trái phiếu
phát hành riêng ra nớc ngoài mà không phải là loại phát hành ra công chúng. Do
đó, trên thị trờng loại trái phiếu đợc định giá bằng ngoại tệ còn rất ít.
Nh vậy, quang cảnh của việc mua bán trao đổi trái phiếu công ty trên thị
trờng vốn Việt Nam còn khá ảm đảm. Nếu tiếp tục duy trì tình trạng này mà
không có những giải pháp khắc phục, trên TTCK Việt Nam sẽ thiếu một loại
hàng hoá quan trọng và các doanh nghiệp sẽ mất đi một công cụ huy động vốn
hiệu quả.
2-/ Trái phiếu Chính phủ-NHTM.
Trong khi tiến trình CPH đang diễn ra rất chậm chạp và thị trờng các trái
phiếu công ty rất ảm thì thị trờng mua bán trái phiếu Chính phủ lại rất sôi động.