Lời mở đầu
Để có thể đạt đợc những mục tiêu đề ra trong qua trong chiến lợc ổn
định và phát triển kinh tế XHVN từ nay đến năm 2020 là phấn đấu đa nớc ta
về cơ bản trở thành một quốc gia có cơ sở vật chất kinh tế hiện đại, có tốc độ
tăng trởng GDP bình quân hàng năm ở mức 8% -10% và thực hiện thành công
sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc thì vốn là yếu tố quan trọng thiết yếu đợc đặt
lên trên hàng đầu .
Theo ớc tính của một số chuyên gia kinh tế thì từ năm 2001- 2020 VN
cần khoảng 500- 550 tỷ USD vốn đầu t . Vậy làm thế nào để nớc ta có thể huy
động đợc lợng vốn khổng lồ nh vậy.
Chúng ta biết vốn có thể huy động từ nhiều nguồn (kênh dẫn truyền vốn) nh:
Tín dụng ngân hàng(TDNH), thị trờng chứng khoán(TTCK) , Đầu t nớc
ngoài (FDI), tài trợ phát triển chính thức (ODA) nhng trong điều kiện hiện
nay khi nguồn vốn FDI, ODA có xu hớng giảm do ảnh hởng của những biến
động về kinh tế - chính trị trên thế giới và trong khu vực.Đồng thời vốn huy
động từ kênh TDNH chủ yếu là vốn Ngân hàng.
Vậy thì, việc huy động vốn từ TTCK - cái nôi tập trung của mọi nguồn
vốn mang tính chất trung dài hạn là mục tiêu quan tâm của cảu hầu hết các dự
án đầu t phát triển.
Và ngày 20/07/2000 TTGDCK đầu tiên của nớc ta đã đi vào hoạt
độngtại Thành phố HCM. Tuy nhiên để tổ chức thành lập đợc một TTCK
không khó mà cái khó là làm sao các thị trờng đó phải hoạt động đợc và có
sức sống phát huy đợc vai trò là công cụ thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi vào
đầu t.
1
TTCK VN mới đang ở những bớc đi đầu tiên, ban đầu trên con đờng
tiến tới thành lập Sở giao dịch chứng khoán(SGDCK) hoàn chỉnh. TTCK VN
ra đời và hoạt động trên bối cảnh các yếu tố thị trờng còn đang trong quá trình
hoàn thiện, cha đồng bộ và cha thực sự phát triển, hệ thống các thị trờng tài
chính(TTTC), TTCK của nớc ta đang phải đơng đầu và vợt qua rất nhiều khó
khăn, hạn chế nội tại để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển.
Chơng I
3
Những vấn đề cơ bản về hàng hoá và sự tạo
hàng hóa cho TTCK.
1.1 Giới thiệu chung về Thị trờng chứng khoán.
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển TTCK.
Sự hình thành TTCK:
TTCK xuất hiện vào thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của Chủ nghĩa t bản, lúc này
nhu cầu về vốn của giai cấp t sản mứi ra đời và của Chính phủ rất lớn. TTCK
ban đầu phát triển một cách tự phát và sơ khai. Vào giữa thế kỷ XV tại những
trung tâm buôn bán ở phơng Tây, các thơng gia thơng tụ tập tại các quán cà
phê để trao đổi mua bán các vật phẩm hàng hoá ...lúc đầu chỉ dơn thuần là
nhóm nhỏ, sau đó phát triển dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ
XV, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ đã trở thành thị trờng với
việc thống nhất các quy ớc và dần dần các quy ớc dợc sửa đổi hoàn chỉnh
thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị
trờng.
Phiên chợ đầu tiên đợc diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của một nhà
buôn nhà môi giới tên là Van Ber Buerzo tại thị trấn Bruges (thuộc nớc Bỉ).
Trớc lữ quán có một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là
Bourse tức là Mậu dịch thị trờng. Ba túi da tợng trng cho ba nội dung
của Mậu dịch trờng là: mậu dịch trờng hàng hoá, mậu dịch trờng ngoại tệ
và mậu dịch trờng giá khoán động sản. Đến năm 1547, thị trấn Bruges mất
hẳn sự phồn vinh vì eo biển Evin dẫn vào thị trấn bị cát lấp mất. Mậu dịch tr-
ờng đợc chuyển sang thị trấn Antwerpen, một hải cảng lớn của Bỉ thời đó.
4
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các giao lu kinh tế trong tong quốc gia
cũng nh giữa các quốc gia với nhau, các mậu dịch trờng không còn phù hợp và
đủ sức cho các giao dịch với ba nội dung hoàn toàn khác nhau. Do đó theo lẽ
tự nhiên, nó đợc tách thành các thị trơng khác nhau : giao dịch hàng hoá đợc
hồi và phát triển trở lại. Thế nhng vào năm 1987, Cuộc khủng hoảng tài
chính một lần nữa làm rung động và gây hiện tợng sụp đổ cho không ít các
TTCK lớn trên thế giới. Lần này, hậu quả của nó để lại mang tính chất nghiêm
trọng và nặng nề hơn cuộc đại khủng hoảng những năm 1929-1933.
Tuy nhiên chỉ 2 năm sau,TTCK thế giới lại đi vào hoạt động ổn định, phát
triển và trở thành một định chế tài chính không thể thiếu đợc đối với những
quốc gia có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng.
Ngày nay, TTCK của nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển lớn
mạnh cả về qui mô lẫn trình độ và có xu hớng toàn cầu hoá cao.
1.1.2 Khái niệm và vai trò của TTCK đối với nền kinh tế.
A-Khái niệm
Trong lịch sử hình thành phát triển thị trờng tài chính, thị trờng tiền tệ đợc
hình thành trớc do ban đầu nhu cầu vốn cũng nh tiền tiết kiệm trong dân c cha
cao và ban đầu nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn .Sau đó, cùng với sự
phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu t phát triển ngày càng cao
và thị trờng vốn đã ra đời để đáp ứng những nhu cầu này.Để huy động đợc các
6
Thị trờng
tài chính
nguồn vốn dài hạn bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài
chính gián tiếp, Chính phủ và một số công ty còn thực hiện huy động thông
qua việc phát hành CK.
Khi một bộ phận nhất định các CK có giá đã đợc phát hành thì tất yếu sẽ làm
nảy sinh nhu cầu về mua bán trao đổi các CK đó, chính vì vậy, TTCK đã ra
đời với t cách là một bộ phận của thị trờng vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua
bán, trao đổi CK các loại.
Vị trí của TTCK trong hệ thống thị trờng tài chính có thể đợc biểu thị khái
quát nh sau:
bán.
Thực chất đây là định nghĩa truyền thống cổ điển, phù hợp với loại hình
TTCK đầu tiên ra đời một cách tự phát trong lịch sử, ngày nay loại hình TTCK
này đợc gọi là TTCK phi chính thức hay thị trờng thứ ba.
Có lẽ do cơ cấu TTCK ngày nay phức tạp nên khó có một định nghĩa đầy đủ
trọn vẹn. Tuy nhiên, đối với một quốc gia,TTCK tập trung là hạt nhân tiêu
biểu cho TTCK, nên thông thờng ngời ta đồng nghĩa TTCK tập trung với
TTCK. Trong xu hớng đó, ngời ta chấp nhân định của tài liệu Longman
dictionary of Business English, 1985 nh sau: TTCK là một thị trờng có tổ
chức, nơi các CK đợc mua và bán tuân theo những nguyên tắc đã đợc ấn
định
8
TTCK ở bất kỳ nớc nào, dù mới thành lập hay đã phát triển,đều cấu thành bởi
hai bộ phận thị trờng có tổ chức khác nhau:
* Thị trờng sơ cấp (primary market ):
Thị trờng sơ cấp là thị trờng mua bán các CK mới phát hành. Trên thị trờng
này, vốn từ nhà đầu t sẽ đợc chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà
đầu t mua các CK mới phát hành. Vì vậy, thị trờng sơ cấp còn đợc gọi là thị tr-
ờng phát hành CK, là nơi tạo ra hàng hoá cho thị trờng giao dịch và làm tăng
vốn đầu t cho nền kinh tế.
Vai trò của thị trờng sơ cấp:
+ Chứng khoán hoá nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty đợc huy động
qua việc phát hành CK.
+ Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đa các khoản tiền nhàn
rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu t, chuyển sang dạng vốn dài hạn.
Đặc điểm của thị trờng sơ cấp:
+ Thị trờng sơ cấp là nơi duy nhất mà các CK đem lại vốn cho ngời phát hành.
Những ngời bán trên thị trờng sơ cấp đợc xác định thờng là Kho bạc, Ngân
hàng nhà nớc, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành...
+ Giá CK trên thị trờng sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và thờng đợc
nhau bằng mạng đIện tử. Giá cả trên thị trờng này đợc hình thành theo phơng
thức thoả thuận.
B- Vai trò của TTCK trong nền kinh tế quốc dân:
10
TTCK đã xuất hiện từ rất sớm ở các nớc TBCN và các nớc XHCN khi từ
bỏ con đờng phát triển kinh tế theo cơ chế quản lý kinh tế mệnh lệnh, kế
hoạch hoá tập trung duy ý chí sang cơ chế quản lý thị trờng thì một số nớc đã
thành lập TTCK của nớc mình.
Rõ ràng là TTCK phải có một vai trò đáng kể trong nền kinh tế thị trờng
và đặc biệt trong thị trờng tài chính quốc gia.
Tác động của TTCK đối với nền kinh tế:
+ Trớc hết, TTCK phản ánh tính hiệu quả của nền kinh tế quốc dân. Có
thể nói mọi biến động của nền kinh tế thực sẽ đợc phản ánh vào hoạt động của
TTCK. Thông qua TTCK ngời ta có thể đánh gía một DN, một ngành kinh tế,
sự tiến triển của nhu cầu. Thị trờng này phản ánh thực trạng của kinh tế vĩ mô
cả xu thế ngắn hạn và dài hạn. Vì thế ngời ta ví TTCK là phong vũ biểu
của nền kinh tế. Chỉ tiêu quan trọng cho phong vũ biêủ đó là chỉ số giá CK.
+ TTCK là một kênh huy động vốn để đầu t vào sản xuất kinh doanh và
các nhu cầu chi tiêu của Chính phủ một cách trực tiếp. Thị trờng này có khả
năng thu hút vốn ở khu vực t và công rất lớn. Nhờ có thị trờng này mà các thể
nhân và các pháp nhân có thêm nhiều cơ hội đầu t đồng thời vẫn có thể thanh
toán nhanh khi có nhu cầu. TTCK khuyến khích đầu t và tiết kiệm, làm phong
phú hình thức sở hữu. Nhờ vào việc mua đI bán lại cổ phiếu trên thị trờng thứ
cấp, TTCK góp phần đIều hòa vốn giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân,
do đó tạo nên sự phát triển nhanh và đồng đều của nền kinh tế.
+ TTCK còn thúc đẩy CPH, t nhân hóa, hình thành chế độ đa sở hữu về
t liệu sản xuất và tài sản trong nền kinh tế, tính chất sở hữu toàn dân mở rộng
và làm cho quan hệ sản xuất sớm phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản
xuất. Chính đó là cơ sở cho sự phát triển. TTCK phân bổ rủi ro cho các thành
11
cho TTCK ta cần phải hiểu rõ thế nào là CK?
1.2 Hàng hoá trên TTCK.
Để có thể vận hành đợc thị trờng thì hàng hoá đóng một vai trò vô cùng
quan trọng.Đối với TTCK cũng vậy số lợng và chất lợng hàng hoá giao dịch
trên thị trờng là yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của thị trờng.
Tuy nhiên không giống các thị trờng hàng hoá khác hàng hoá trên TTCK là
loại hàng hoá đặc biệt đợc gọi là Chứng khoán.
1.2.1 Khái niệm về Chứng khoán.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Chứng khoán, nhng tự
chung lại Chứng khoán dợc hiểu nh sau:
+ Chứng khoán theo nghĩa nguyên thuỷ là các chứng th ding thay cho tiền bạc.
+ Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ hợp
pháp có thể chuyển nhợng đợc của ngời sở hữu Chứng khoán đối với Vốn, Tài
sản và các lợi ích khác của ngời phát hành.
Hiện nay, các thị trờng tài chính nói chung và TTCK nói riêng đợc mở rộng và
hiện đại hoá, đặc biệt ở các nớc công nghiệp phát triển, do đó khái niệm
Chứng khoán cũng đợc mở rộng thêm. Công ty tài chính quốc tế ( IFC) có da
ra một định nghĩa về Chứng khoán nh sau:
+ Quyền hởng lãi hay lợi nhuận đối với vốn, tài sản, sở hữu, lợi tức, thu nhập,
tô của chính phủ, công ty hay pháp nhân hoặc quỹ đầu t do đóng góp cổ phần
hoặc vay nợ.
+ Quyền chọn hay bảo chứng, hay quyền mua các chứng khoán đó.
13
+ Mọi thoả thuận mà theo đó, lợi ích của mỗi bên đợc đáng giá theo mục đích
phát hành, chuyển nhợng hay nhợng lại quy chiếu với giá trị của lợi nhuận, tỷ
lệ thuận trong tổng lợng kỳ phiếu của tài sản, hay trong số lợng tiêu chuẩn của
tiền tệ hay hàng hoá.
+ Một hợp đồng đầu t mà theo đó, nhà đầu t có phần vốn trong tài sản và phần
vốn này có thể đợc sử dụng chung vớicác đồng vốn khác, hoặc theo đó ngời
góp vốn đợc kỳ vọng về khoản lợi nhuận,tiền thuê hay thu nhập do nỗ lực của
- CK có lợi tức ổn định( Fixed income securities): là loại CK có xác định tỷ
lệ lãi cụ thể phải trả cho ngời sở hữu khi đến kỳ hạn. Thông thờng, vốn và lãi
của loại CK này đợc hoàn trả khi đến kỳ hạn. Điển hình của loại CK này là cổ
phiếu u đãi, trái phiếu.
- CK có lợi tức không ổn định(Variable income securities): là loại CK
không xác định trớc tỷ lệ lãi đợc hởng. Tỷ lệ lãi ( còn đợc gọi là cổ tức) phụ
thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty tốt hay xấu, phụ thuộc
vào kế hoạch phân chia lợi nhuận của công ty.
C- Căn cứ vào mục đích huy động vốn:
- CK vốn: cổ phiếu( Stock):
Cổ phiếu là một loại chứng th, chứng minh quyền sở hữu của một cổ
đông đối với một công ty cổ phần, hay nói một cách khác, cổ phiếu là một
giấy chứng nhận việc đầu t vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần. Nh
vậy, chính công ty cổ phần đã khai sinh ra cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần
15
mới có cổ phiếu. Các cổ đông- ngời mua cổ phiếu của công ty không phải
là chủ nợ đối với công ty mà là ngời hùn vốn cùng công ty hoạt động, là ngời
chủ sở hữu một phần công ty. Vì vậy cổ phiếu còn đợc gọi là CK vốn.
Trong lịch sử, loại cổ phiếu ra đời đầu tiên là loại cổ phiếu có ghi tên sở
hữu chủ- gọi là cổ phiếu ghi danh. Hình thức cổ phiếu này có nhợc điểm là
việc chuyển nhợng rất phức tạp. Khi muốn chuyển nhợng cho ngời khác phải
đăng kí tại cơ quan phát hành và phải đợc Hội đồng quản trị của công ty cổ
phần cho phép. Điều đó làm trở ngại cho việc lu thông cổ phiếu trên thị trờng.
Đến thế kỉ XVIII, cổ phiếu vô danh ra đời. Và đến thế kỷ XIX với u thế
chuyển nhợng đơn giản dễ dàng bằng cách trao tay mà không cần phải có thủ
tục pháp lý rờm rà, cổ phiếu vô danh đã thay thế hoàn toàn cổ phiếu ghi danh.
Cổ phiếu có rất nhiều loại tuỳ theo căn cứ phân loại. Tuy nhiên có thể
quy cổ phiếu thành hai loại chính:
- Cổ phiếu thờng( Common Stock):
Tơng tự nh các loại hình cổ phiếu, cổ phiếu thờng là một CK vốn,
lỗ vốn hoặc lãi không đủ chia thì cổ tức u đãi sẽ đợc tích luỹ lại để trả lại vào
những năm sau.
+ Khi có chủ trơng hoàn vốn cho cổ đông thì cổ đông u đãi đợc xếp vào trật tự
u tiên trớc cổ đông thờng.
+ Khi DN bị giải thể thì sẽ hoàn vốn cho cổ phiếu u đãi theo nguyên tắc ngang
giá, nếu nh đủ vốn hoàn trả.
17
+ Đối với gía trị còn lại của DN mà cần phân chia, cổ đông u đãi đợc quyền
phân chia trớc cổ đông thờng.
Để tạo nên sự hấp dẫn hơn cho cổ phiếu u đãi, phù hợp với tâm lý muôn
vẻ của nhà đầu t, cổ phiếu u đãi đợc đa dạng hoá và phân chia thành nhiều loại
khác nhau:
* Cổ phiếu u đãi tích luỹ( Cumulative Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi không tích luỹ( Non- Cumulative Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi dự phần( Participating Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi hoàn vốn( Redeemable Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi thu hồi( Callable Preferered Stock)
* Cổ phiếu u đãi đảm bảo( Guaranteed Preferered Stock)
Tóm lại, với những đặc trng của mình, cổ phiếu đã tạo cho các công ty cổ phần
những u thế tuyệt diệu, có khả năng huy động tập trung đợc một khối lợng vốn
khổng lồ cho sự phát triển từ những số vốn lẻ tẻ trong dân chúng. Nhờ có cổ
phiếu, vốn đầu t của các cổ đông không bị bất động, họ có thể chuyển vốn đầu
t từ lĩnh vựu này sang lĩnh vực khác, từ công ty này sang công ty khác bằng
cách mua bán cổ phiếu trên TTCK thứ cấp.
- CK nợ: trái phiếu( Bonds):
Trái phiếu là một CK đợc phát hành dới hình thức chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ( bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát
hành trái phiếu đối với ngời sở hữu trái phiếu trong một thời hạn nhất định.
Trái phiếu là một CK nợ, ngời mua trái phiếu là trái chủ, là ngời chủ nợ
của tổ chức phát hành, là ngời chủ sở hữu trái phiếu đó. Sau một thời gian nhất
Trong đó:
-P: mệnh giá
-M: lãi suất
-F: giá mua
-N: số năm
* Ngày đáo hạn( Maturity date): đây là ngày công ty sẽ thanh toán mệnh giá
cho trái chủ, ngày này còn đợc gọi là ngày đến hạn (due date) của trái phiếu.
Ngày đáo hạn cũng đợc ghi trên bề mặt của trái phiếu. Ngày đáo hạn của trái
phiếu là ngày mà khoản nợ sẽ không tồn tại, vào ngày này nhà phát hành sẽ
hoàn trả toàn bộ số vốn cho nhà đầu t.
Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu. Vì vậy,
đây là dạng đầu t đợc các nhà đầu t và các chế định tài chính a chuộng. Trái
phiếu có thể đợc phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
A/ Căn cứ vào hình thức phát hành, trái phiếu có hai loại: trái phiếu
vô danh và trái phiếu ghi danh.
- Trái phiếu vô danh( Bearer bonds) là loại trái phiếu không mang tên trái
chủ, cả trên chứng chỉ cũng nh trên sổ sách của ngời phát hành.Những phiếu
trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, khi đến hạn trả lãi, ngời giữ trái phiếu chỉ việc
xé ra và mang tới NH nhận lãi, và khi trái phiếu đáo hạn, ngời nắm giữ có thể
mang chứng chỉ tới NH để nhận lại khoản cho vay, hoặc có thể bán nó trên
TTCK thứ cấp trớc khi đáo hạn. Trong trờng hợp này trải chủ sẽ nhận đợc giá
trị theo giá thị trờng có thể bằng, cao hơn hoặc thấp hơn mệnh gía.
- Trái phiếu ghi danh( registered/nominal bonds) là loại trái phiếu có ghi
tên và địa chỉ của trái chủ trên chứng chỉ và trên sổ của ngời phát hành. Hình
thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh
toàn bộ, cả gốc lẫn lãi, sẽ đợc ngời đại lý gửi cho một tờ séc trả cho khoản lãi
20
đó, chứ không phải xé các cuống phiếu gửi tới nơi đại lý để thanh toán tiền lãi
nh trái phiếu vô danh.
B/ Căn cứ vào tổ chức phát hành, trái phiếu gồm hai loại: trái phiếu
và đợc quyền chuyển đổi sang CK qua hành vi mua bán, cho nên ngời ta gọi là
chứng từ có nguồn gốc CK.
* Hợp đồng quyền chọn (Option contract): là một sự thoả thuận mua bán CK
với một giá quy định trong thời gian tơng lai và hy vọng giá CK sẽ tăng lên thì
thực hiện quyền mua CK hoặc hy vọng giá giảm xuống thì thực hiện quyền
bán CK để kiếm lời.
Hợp đồng quyền chọn có hai loại: hợp đồng quyền chọn mua (Call option
contract) và hợp đồng quyền chọn bán (Put option contract).
- Hợp đồng quyền chọn mua (Call option) là hợp đồng trong đó cho
phép ngời mua hợp đồng đợc quyền mua một số cổ phiếu nhất định theo một
giá quy định trong một thời hạn quy định của tơng lai. Khi đáo hạn, ngời mua
hợp đồng có thể thực hiện hợp đồng nếu giá cả CK trên thị trờng biến động
theo hớng có lợi cho họ hoặc huỷ hợp đồng trong trờng hợp ngợc lại mà chỉ
mất phí chọn mua (Call premium).
- Hợp đồng quyền chọn bán (Put option) là hợp đồng trong đó cho
phép ngời mua hợp đồng đợc bán một số cổ phiêú nhất định theo giá quy định
trong một thời hạn quy định của tơng lai. Khi đáo hạn, ngời mua hợp đồng có
thể lựa chọn thực hiện hợp đồng hoặc huỷ hợp đồng tuỳ theo trờng hợp nào có
22
lợi hơn. Ngời mua hợp đồng phải trả cho ngời bán hợp đồng một khoản phí
chọn bán (Put premium).
Các hợp đồng quyền chọn đợc sử dụng để kiếm lời và để rào chắn rủi ro. Các
nhà đầu cơ chấp nhận rủi ro với hy vọng kiếm đợc lợi nhuận và hành động này
có thể cho phép những ngời rào chắn rủi ro loại trừ đợc rủi ro không mong
muốn.
Chức năng kinh tế của hợp đồng quyền chọn là nhằm cung cấp công cụ giảm
thiểu rủi ro.
* Chứng quyền (Right Certificate): là một chứng th do công ty phát hành cho
các cổ đông, trong đó quy định quyền của cổ đông đợc mua một số lợng cổ
phiếu mới do công ty phát hành theo giá quy định trong một thời hạn nhất
mua và một ngời bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối l-
ợng xác định, tại một thời đIểm trong tơng lai với một mức giá đợc ấn định
vào ngày hôm nay.
Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào: từ nông sản, các đồng tiền,
cho tới các CK.
Theo hợp đồng này chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên
tự thoả thuận với nhau, dựa theo những quy ớc mang tính chất cá nhân.Bằng
việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn đợc rủi ro
tiềm năng cũng nh hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình.
* Hợp đồng tơng lai (Futures Contract): là một thoả thuận mua và bán một
loại hàng hoá hoặc một công cụ tài chính nào đó vào một thời điểm nào đó
24
trong tơng lai mà giá cả, số lợng, chất lợng và mẫu mã của hàng hoá đợc xác
định rõ vào thời đIểm mở hợp đồng.
Một giao dịch hợp đồng tơng lai nói chung đợc giao dịch trên một SGD, với
một số lợng lớn ngời bán, ngời mua đợc tập trung lại, giá cho tơng lai đợc
niêm yêt trên SGD, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về ngời ở
phía bên kia của giao dịch. Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ nh một trung
gian trong tất cả các giao dịch.
Vào đầu những năm 1980, hầu hết toàn bộ khối lợng giao dịch hợp đồng tơng
lai đợc tập trung ở sàn giao dịch của Mỹ. Cho đến giữa những năm 1980 thì
tình hình có khác đi do có nhiều sở giao dịch mới hoạt động khắp Châu Âu,
Nam Mỹ và khu vực Châu á TháI Bình Dơng. Ngày nay giao dịch hợp đồng t-
ơng lai diễn ra trên toàn cầu với hơn 60 SGD trên khắp thế giới. Nớc Mỹ vẫn là
nơI hoạt động giao dịch hợp đồng tơng lai nổi tiếng nhất trên thế giới với hai
trung tâm giao dịch chính là: Chicago và NewYork.
* Chứng chỉ quỹ đầu t :
Chứng chỉ quỹ đầu t là một loại CK do quỹ đầu t theo mô hình tín thác
phát hành ( trờng hợp Quỹ đầu t đợc thành lập theo mô hình công ty thì khi đó
Quỹ đầu t là một công ty cổ phần và Quỹ đợc phép phát hành cổ phiếu để huy