CÂU KHÁI QUÁT TRONG TIẾNG ANH
VÀ PHƯƠNG THỨC TRUYỀN ĐẠT CHÚNG
SANG TIẾNG VIỆT
GENERIC SENTENCES IN ENGLISH AND EQUIVALENT TRANSLATION
IN VIETNAMESE HOÀNG PHƯỚC THU UYÊN
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Bài này bàn về vấn đề nhận diện câu khái quát (generic sentence) với các dấu hiệu hình thức
khác nhau từ cấp độ cấu trúc câu cho đến các dấu hiệu vi mô trên cấp độ từ với chức năng
bổ ngữ và các dấu hiệu ngữ pháp như thì (tense). Kết quả khảo sát được thuyết giải định tính
như là cơ sở nhận diện câu khái quát đối với người Việt học tiếng Anh.
ABTRACT
This paper discusses the linguistic realizations of the generic sentence from the structure of
the sentence to the markers on the extra and intra-clausal level such as disjuncts, adjuncts,
subjuncts and tense markers. The result is expected to be used as the qualitative information
for the Vietnamese learners of English. 1. Đặt vấn đề
Khi bàn về cú pháp, ngữ nghĩa của các kiểu câu, các nhà ngôn ngữ học thường chú trọng
các kiểu câu hỏi chính danh, câu phủ định và các kiểu câu bất thường như câu một thành phần
hay thậm chí cả ngữ trực thuộc. Về phương diện ngữ nghĩa, ít mấy ai lưu tâm đến một kiểu
câu được gọi là câu khái quát (generic sentences) được dùng nhiều trong các ngữ cảnh giao
tiếp hằng ngày và các thể loại văn bản mang tính chất học thuật. Phần lớn các câu chúng ta
nói hằng ngày để phản ánh hiện thực và khái quát về các mảng hiện thực đó được xem là câu
khái quát.
Theo Hurford (2001), câu khái quát là một câu phát biểu về toàn bộ nhóm cá nhân không
giới hạn, phân biệt với bất kỳ cá nhân cụ thể nào. Câu khái quát là câu phát biểu về toàn bộ
chủng loài nào đó, không nhằm nói riêng lẻ một cá nhân nào trong chủng loài hay nhóm đó.
(Hurford, 2001, p. 56)
(3) The whale is a mammal. [4, p.56]
Cá voi là loại động vật có vú. (Nguyễn Minh)
(4) Dogs are animals. [2, p.81]
Chó là động vật. (Nguyễn Minh)
Trong những câu này chúng ta không định danh hay ám chỉ một con cá voi riêng biệt
trong ngữ cảnh cụ thể ở một thời điểm cụ thể nào. Cá voi và chó ở đây ám chỉ đến tất cả các
thành viên thuộc về loài cá voi và loài chó.
Cụ thể hơn, Filip và Carlson (1997) phát biểu rằng câu khái quát là câu biểu hiện những
sự việc hiện tượng mang ý nghĩa thường xuyên, chứ không phải là một sự việc hay biến cố
xảy ra với một cá nhân mà từ đó sự lặp lại của sự kiện đó sẽ là cơ sở suy ra ý nghĩa thường
xuyên.
(Filip & Carlson, 1997, p. 167)
Theo quan điểm của tôi, câu khái quát là một mô hình ngôn ngữ lý tưởng của sự kết hợp
các từ theo các qui luật ngữ pháp mà với sự kết hợp các từ đó cùng với những dấu hiệu hình
thức đặc biệt, chúng ta phát ngôn sự khái quát về các vật thể thuộc các chủng loại với những
đặc điểm mà các vật thể đó sở hữu hay đáp ứng.
Quan niệm này của chúng tôi có cơ sở, điểm tựa từ các nhà nghiên cứu trước như Rosch
(1978), Putnam (1975), Kratzer (1997), và đặc biệt là Declerck (1991) người đã đưa ra lý
thuyết định lượng được sử dụng cho việc phân tích câu khái quát.
3. Đặc trưng cú pháp của câu khái quát trong tiếng Anh và tiếng Việt
3.1. Các điểm tương đồng
3.1.1. Kiểu câu
Có thể nhận thấy câu khái quát trong tiếng Anh và tiếng Việt xuất hiện dưới hình thức cú
pháp của cấu trúc câu đơn và câu phức. Dữ liệu chúng tôi thu thập được cho thấy các loại
động từ trong dữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt trong cả hai phạm trù: nội động (intensive) và
trung tâm chỉ định.
(10) An honest woman always has friends, and never is separated from her family. [17, p.
538]
- Đàn bà đứng đắn, ai là chẳng có bè bạn, và có bao giờ lại cắt đứt hoàn toàn quan hệ với
gia đình. [16, p. 514]
(11) Every beauty of art or nature made him thankful as well as happy. [17, p. 509]
- Bất cứ vẻ đẹp nào của nghệ thuật hoặc của tạo vật cũng chỉ giúp cho con người thêm
hạnh phúc. [12, p. 514]
(12) No men embarrassed are altogether honest, very likely. [17, p. 143]
- Người ta đã lâm vào cảnh khó khăn thì không có ai là thực thà. [12, p. 326]
(13) Mỗi người đàn bà đều có thiên tính làm mẹ. [13, p. 342]
- Every woman has a mother’s nature. (Greg Lockhart, 1993)
b. Bổ nghĩa hậu tố
(14) He that talks much errs much. [7, p. 56]
- Đa ngôn, đa quá. (Lê Đình Bích, Trầm Quỳnh Dân)
(15) A crust well-earned was sweeter far than a feast inherited; [14, p.512]
- … một mẩu bánh kiếm được một cách lương thiện còn ngon hơn trăm lần một bữa tiệc
nhờ có gia tài; [12, p. 141]
Cấu trúc mệnh đề Cấu trúc câu Cú pháp
Tiếng
đơn phức ghép Thông báo
Nghi vấn Cảm thán
Anh + + + + + +
Việt + + + + + +
16) Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. [8, p. 34]
Trong tiếng Việt các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau có chức năng bổ ngữ mang lại đặc
trưng cho cụm danh từ khái quát. Nhưng ý nghĩa tăng cường xác định này là do các yếu tố
đứng sau danh từ trung tâm trong khi cả yếu tố phía trước và phía sau đều tham gia và giúp
- Mọi + danh từ
- Mỗi + danh từ
- Tất cả + danh từ
- Những + danh từ
- Các + danh từ
- Không + danh từ
Cụm danh từ với
biến đổi hậu bổ
ngữ
- Ø danh từ bổ nghĩa hậu tố
- Mạo từ A + danh từ bổ nghĩa hậu
bổ ngữ như cụm tính từ, mệnh đề
tính ngữ, cụm giới từ
- Ø danh từ số nhiều bổ nghĩa hậu
bổ ngữ như cụm tính từ, mệnh đề
tính ngữ, cụm giới từ
- Ø danh từ bổ nghĩa hậu bổ ngữ
- Một + danh từ bổ nghĩa hậu bổ
ngữ như cụm tính từ, mệnh đề tính
ngữ, cụm giới từ
- Ø danh từ bổ nghĩa hậu bổ ngữ
như cụm tính từ, mệnh đề tính ngữ,
cụm giới từ
3.1.3. Cấu trúc cụm động từ trong câu khái quát
Trong tiếng Anh.
BE + Cụm danh từ
(17) A friend in need is a friend indeed. [7, p. 22]
MAKE + Cụm danh từ + động từ
(18) Absence makes the heart grow fonder. [7, p. 27]
- Động từ nguyên nhân MAKE
- Động từ liên kết LÀ
- Động từ nguyên nhân LÀM
Biến đổi bên trong
- Phó từ chỉ sự thường xuyên
+ always, usually, never,
sometimes, rarely
- Phó từ chỉ sự đặc trưng, thường
thường
+ characteristically, typically,
generally
-Bổ ngữ tình thái
+ Will, can, may, must
- Mệnh đề bổ nghĩa
+ Mệnh đề When, If
- Phó từ chỉ sự thường xuyên
+ luôn luôn, thông thường, không
bao giờ, đôi khi, hiếm khi
- Phó từ chỉ sự đặc trưng, thường
thường
+ vốn, lúc nào cũng, tiêu biểu
- Bổ ngữ tình thái
+ sẽ, có thể, phải
- Mệnh đề bổ nghĩa
+ Khi, nếu
Biến đổi bên
ngoài
- Cấu trúc động từ tường thuật
+ Tell, say, hear
với ý nghĩa khái quát.
(26) The leopard cannot change its spot. [7, p.85]
(Một) con báo không thay đổi được các đốm của nó. (Lê Đình Bích, Trầm Quỳnh Dân)
Tiếng Anh THE Cụm danh từ
Tiếng Việt Ø/ Những/ Một Cụm danh từ
Sơ đồ 3.1: Dấu hiệu nghĩa khái quát với mạo từ trong tiếng Anh
và chuyển dịch tương đương tiếng Việt
3.2.3. Mệnh đề HE + THAT
Cấu trúc HE THAT là một trong những cấu trúc thường xuyên được sử dụng để biểu
hiện sự khái quát của tình huống trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt chúng ta không tìm thấy
ví dụ của cấu trúc này và khi dịch tương đương, cấu trúc NGƯỜI ĐÀN ÔNG NÀO MÀ x
THÌ y chỉ có thể liên quan đến thành viên của tập hợp giống đực.
(27) a man can die but once: We owe God a death and let it go which way it will, he
that dies this year is quit for the next. [15, p. 98]
… con người ta chỉ chết một lần. Đối với Thượng đế, dù ở hoàn cảnh nào, chúng ta
đều có một lần trả món nợ đó. Kẻ nào chết năm nay thì khỏi chết năm sau. [15, p.99]
(28) He that fears you present will hate you absent. [7, p.54]
- Dạ trước mặt, chửi sau lưng. (Lê Đình Bích, Trầm Quỳnh Dân)
Tiếng Anh Mệnh đề HE THAT Mệnh đề chính
Cụm danh từ + that + Cụm động từ Cụm động từ
Tiếng Việt Ø Cụm động từ Cụm động từ
Sơ đồ 3.2: Dấu hiệu giống của nghĩa nguyên mẫu trong tiếng Anh và tiếng Việt
4. Kết luận
Tiếng Anh và tiếng Việt có một số điểm giống nhau như sự xuất hiện của cụm danh từ với
[11] Song Hong Publisher (1993), Chi Pheo and other stories (A Translated version of the
original copy Tuyển tập chuyện ngắn của nhà văn Nam Cao).
[12] W. M. Thackơrê (1988), Hội chợ Phù Hoa, Người dịch: Trần Kiêm, Tập 1, 2 Nxb Văn
học, Nxb Đà Nẵng.
[13] Nguyễn Huy Thiệp (2003), Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Trẻ.
[14] Dickens, Charles (1992), David Copperfield, Wordsworth Classics.
[15] Ernest Hemingway (1986), The short happy life of Francis Macomber (Hạnh phúc
ngắn ngủi của Franxit Macombơ). Foreign Languages Publishing House.
[16] Maugham, W. Somerset (1996), The moon and six pence, Mandarin.
[17] Thackeray, W.M. (1948), Vanity fair, The zodiac press.