KHẢO SÁT NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH
DẠY KỸ NĂNG NGHE HIỂU CHO SINH VIÊN
HỌC TIẾNG ANH KHÔNG CHUYÊN NGỮ
AN INVESTIGATION INTO THE DIFFICULTIES IN TEACHING LISTENING
COMPREHENSION SKILL TO NON-MAJOR ENGLISH LEARNERS TÔN NỮ XUÂN PHƯƠNG
Trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Nghe hiểu được xem là kỹ năng khó rèn luyện nhất trong bốn kỹ năng ngôn ngữ. Bài nghiên
cứu này nhắm đến việc khảo sát, tìm hiểu quá trình dạy và học kỹ năng nghe hiểu cho đối
tượng sinh viên không chuyên ngữ ở trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Trên cơ sở tìm hiểu
bản chất và yêu cầu của môn học, và phân tích những khó khăn chủ quan và khách quan các
đối tượng này gặp phải, ngưòi nghiên cứu mong muốn đề đạt một số giải pháp để cải thiện
tình hình.
ABSTRACT
Listening Comprehension has been considered the most difficult of the four language skills.
This study is aimed to investigate the teaching and learning of Listening Comprehension in the
non-major English classes at Danang College of Economics. On the basis of examining the
nature and requirements of the subject and analyzing the difficulties faced by the teachers and
learners of Listening Comprehension, the researcher wishes to explain the subjective and
objective reasons accounting for the unsatisfactory results in order to put forward some
suggestions for improvement. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua giảng dạy ngôn ngữ theo đường hướng giao tiếp là phương pháp
chủ đạo được áp dụng rộng rãi cho nhiều lớp học ngoại ngữ. Việc rèn luyện cho người học kỹ
dưới câu chữ, khả năng phân biệt giữa dữ kiện trình bày và quan điểm của người nói, là
những kỹ năng nghe cần thiết người học cần đuợc rèn luyện trong quá trình rèn luyện kỹ năng
nghe hiểu.
2.2. Thực trạng giảng dạy-học tập kỹ năng nghe hiểu cho đối tượng sinh viên
không chuyên ngữ và quan điểm của người học và người dạy về những khó khăn của việc
dạy-học kỹ năng nghe
Dựa trên kết quả của các phiếu điều tra đối với đối tượng người học (100 sinh viên
không chuyên ngữ) và đối tượng người dạy (10 giáo viên Khoa Tiếng Anh không chuyên
ngữ), đồng thời trên cơ sở đánh giá chủ quan của người nghiên cứu qua các buổi dự lớp và
các cuộc phỏng vấn không chính thức, có thể nhìn nhận thực trạng sau về tiến trình dạy và
học nghe cho đối tượng sinh viên không chuyên ngữ:
Về phía người học, phải thừa nhận thực tế là mặc dù đã qua 7 năm (81%), hoặc ít nhất
3 năm (16%) học tiếng Anh ở chương trình phổ thông, đối với đa số sinh viên (76%), nghe
hiểu là môn học khá mới mẻ và hầu hết (98%) cho rằng nghe hiểu là môn học khó nhất. Trong
khi đó, với 04 tiết học tiếng Anh mỗi tuần (học kỳ 1), và 03 tiết / tuần (học kỳ 2 và học kỳ 3)
trong 15 tuần mỗi học kỳ, thời lượng giành cho học nghe ở lớp quá ít ỏi. Thời gian tự học của
sinh viên càng ít ỏi hơn, chỉ có 27% sinh viên thừa nhận có luyện nghe thêm ở nhà từ 1 - 2 giờ
/ tuần. Điều này lý giải phần nào thực trạng một số sinh viên đọc phần ghi lại lời băng nghe
(Tapescript) trước khi đến lớp, thói quen xấu biến quá trình nghe trở thành vô nghĩa và lãng
phí thời gian.
Thói quen dịch sang tiếng Việt để hiểu từng câu chữ, mong muốn nghe và nhớ được
100% thông tin cũng làm không ít sinh viên (63%) không phân biệt được đâu là nội dung cốt
lõi cần nắm bắt, đâu là thông tin thứ yếu có thể bỏ qua trong quá trình nghe. Nhận thức lệch
lạc về yêu cầu của môn học kiểu này làm người học mệt mỏi và có khuynh hướng ngán ngại,
hoang mang trong các giờ học nghe tại lớp.
Về phía người dạy, việc áp dụng phương pháp truyền thống trong giảng dạy ngôn ngữ
kể cả dạy nghe hiểu ở một số giáo viên càng làm tình trạng này trở nên tồi tệ hơn. Vẫn còn
quan niệm cho rằng nghe là rèn luyện kỹ năng tiếp nhận ngôn ngữ (receptive skill). Người
học được yêu cầu tiếp nhận thông tin mà không hề được gợi ý trước về tình huống sắp nghe
hay không hề được đặt ra yêu cầu phản hồi sau khi nghe một cách rõ ràng. Một số giáo viên
tưởng người nói cần chuyển tải.
Vấn đề tâm lý cũng là một khó khăn khác đối với người học trong tiếp nhận và phản
hồi thông tin. Một trong những yếu tố tâm lý dẫn đến tình trạng không nắm bắt được thông tin
được nhiều sinh viên (58%) chia sẻ là người nghe không thể quyết định nhịp độ hay chẻ nhỏ
thông tin thành từng mảng dễ kiểm soát như khi đọc, viết hoặc nói. Người học chỉ có thể điều
chỉnh cho kịp với nhịp độ đang diễn ra. Nếu không có tâm lý vững người nghe không thể làm
được điều này. Khó hơn nữa là lời nói lập tức biến mất ngay sau khi thốt ra. Người nghe nếu
không nắm bắt được sợi chỉ xuyên suốt, mải lo chú ý đến tiểu tiết hoặc quá sa đà vào việc
diễn nghĩa những gì nghe được, sẽ bỏ mất thông tin kế tiếp, dẫn đến hoảng sợ bỏ luôn thông
tin tiếp theo. Sự chăm chú giả tạo (faking attention) (Steil, Barker & Watson) của người học
cũng là thói quen xấu cần tránh trong quá trình rèn luyện kỹ năng nghe.
Các yếu tố khách quan về cơ sở vật chất và tài liệu giảng dạy cũng như môi trường
ngôn ngữ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả dạy và học môn nghe. Trong lớp học cả
thầy và trò đều không phải là người bản xứ, nguời học ít có điều kiện nghe đúng thứ tiếng
Anh của người bản địa, hay sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp thực. Sinh viên
vì thế có khuynh hướng phản ứng chậm, thậm chí không giao tiếp được khi được đặt vào các
tình huống giao tiếp cụ thể. Tình trạng lớp đông và trình độ không đồng đều cũng gây nhiều
khó khăn cho người dạy trong việc xử lý các tình huống ở lớp. Thái độ học thụ động trong giờ
học nghe ở một số lớp người nghiên cứu có dịp dự giờ cũng cho thấy người học dường như
chưa quan tâm đúng mức đến việc tự nâng mình lên trong quá trình học nghe.
2.3. Các giải pháp khắc phục
Trước hết người dạy và người học cần hiểu rõ bản chất của quá trình nghe hiểu. Theo
Anderson & Lynch (1988) [1] và David Nunan (1991) [3], người nghe đóng vai trò là một chủ
thể tích cực (active model builder), xây dựng cho mình kỹ năng nắm bắt thông tin bằng
phương pháp ‘bottom-up’, phân đoạn lời nói thành từng đơn vị từ nhỏ đến lớn dần để hiểu;
hoặc phương pháp ‘top-down’, dùng kiến thức nền sẵn có của mình để nắm bắt được vấn đề.
Mặt khác, cũng theo quan điểm của Anderson & Lynch (1988) [1], có mối liên hệ mật
thiết giữa kỹ năng nghe và kỹ năng nói, giữa nghe hiểu và đọc hiểu, trong đó nói là kết quả
của việc theo dõi và hiểu những gì nghe được (“Speaking results from the process of
following and interpreting the listening input”) [1], và phát triển kỹ năng nghe không những
chuẩn bị một số băng đĩa nghe không nằm trong chương trình như bài hát, những mẩu chuyện
sinh động, hoặc một số tài liệu ghi âm từ các cuộc phỏng vấn, trò chuyện truyền hình, hay
môt đoạn thoại trong một bộ phim đang ăn khách, để làm thay đổi khẩu vị và làm đa dạng
hoá các hoạt động nghe hiểu tại lớp.
Các lớp học cần được bố trí trang thiết bị thuận lợi cho việc dạy và học kỹ năng nghe,
và tốt hơn hết là ở khu vực tách biệt để khỏi ảnh hưởng đến giờ dạy của các giáo viên khác.
3. KẾT LUẬN
Thành công trong dạy học ngôn ngữ nói chung, trong dạy và học kỹ năng nghe hiểu
nói riêng phải là kết quả của những nỗ lực toàn diện không chỉ từ phía người dạy, người học,
mà còn từ những yếu tố liên quan như tài liệu giảng dạy, phương pháp giảng dạy, phương
pháp đánh giá, Xuất phát từ bản chất của môn học, người nghiên cứu mong muốn lý giải
những khó khăn đối với người dạy và người học ở các lớp không chuyên ngữ gặp phải trong
quá trình giảng dạy và học tập kỹ năng nghe để từ đó đề xuất một sồ ý kiến nhằm để cải thiện
tình hình. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Anderson, A. & Lynch, T., Listening, OUP, 1998.
[2] Brown, G, & Yule, G., Teaching Spoken English, CUP, 1983a.
[3] Nunan, D., Language Teaching Methodology, Prentice Hall International (UK) Ltd,
1991.
[4] Steil, L. et al, Effective Listening, Mc. Graw Hill, Inc. 1983.
[5] Underwood, M., Teaching Listening, Longman, 1989.
[6] Wardhaugh, R., An Introduction to Sociolinguistics, Basil Blackwell Ltd, 1986.