48
Con ngời luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất
lơng thực và tái tạo môi trờng. Con ngời có thể gia tăng không gian sống
cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng các
loại không gian khác nh khai hoang, cải tạo các vùng đất và nớc mới. Tuy
nhiên, việc khai thác và chuyển đổi không gian sống phải đợc tiến hành trên
cơ sở có ý thức và có kế hoạch, nếu lạm dụng quá mức việc khai thác và
chuyển đổi này có thể làm cho chất lợng lợng không gian sống mất đi khả
năng tự phục hồi.
3. Bảo vệ môi trờng là công việc của ai?
Bảo vệ môi trờng là những hoạt động giữ cho môi trờng trong lành,
sạch đẹp, cải thiện môi trờng, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc
phục các hậu quả xấu do con ngời và thiên nhiên gây ra cho môi trờng;
khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Nhà nớc bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trờng, thống nhất
bảo vệ quản lí môi trờng trong cả nớc, có chính sách đầu t, bảo vệ môi
trờng, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu
khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ
môi trờng. Điều 6 trong Luật Bảo vệ Môi trờng của Việt Nam ghi rõ:
Bảo vệ môi trờng là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có
trách nhiệm bảo vệ môi trờng, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trờng, có
quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trờng.
4. Phải làm gì để bảo vệ môi trờng?
Để bảo vệ môi trờng, Luật Bảo vệ Môi trờng của Việt Nam nghiêm
cấm các hành vi sau đây:
a) Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại
môi trờng, làm mất cân bằng sinh thái.
b) Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát
phóng xạ, bức xạ quá giới hạn cho phép vào môi trờng xung quanh.
c) Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép,
hoá, khô hạn.
e) Nguồn nớc bị ô nhiễm.
g) Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng.
h) Rừng đang suy giảm về số lợng và suy thoái về chất lợng.
i) Số chủng loài động vật, thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng.
k) Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lợng và mức độ độc hại.
6. Vì sao nói con ngời cũng là một nguồn gốc gây ô nhiễm môi trờng?
Con ngời sống trên trái đất chủ yếu sử dụng không khí, nớc và thực
phẩm để nuôi dỡng cơ thể. Mỗi ngời lớn một ngày hít vào 100 lít không khí
và thở ra lợng khí cacbonic cũng nhiều nh vậy. Khí cacbonic là khí thải, tụ
lại nhiều trong một không gian hẹp sẽ làm vẩn đục không khí trong phòng,
gây khó chịu. Nếu buổi tối đi ngủ đóng kín cửa phòng, khí cacbonic sẽ đầu
độc chính ngời thải nó ra. Chúng ta phải có ý thức tạo ra sự lu thông
không khí trong phòng, bởi đó là điều vô cùng cần thiết cho sự sống của mỗi
con ngời.
Con ngời phải ăn uống để tồn tại, nhng những chất cặn bã (phân, nớc
tiểu) do con ngời thải ra môi trờng cũng chính là một trong những nguyên
50
nhân thờng xuyên làm ô nhiễm môi trờng sống. Xử lí các chất thải này nh
thế nào, nhất là ở các đô thị lớn không phải chỉ là trách nhiệm của một vài cơ
quan hữu quan, mà quan trọng hơn, mang tính quyết định hơn, lại chính là ý
thức của mỗi thành viên trong cộng đồng.
Quá trình thay đổi các tế bào trong cơ thể con ngời thờng toả ra một
nhiệt lợng nhất định và kèm theo những mùi vị nhất định. Mùi vị của cơ thể
mỗi ngời là rất khác nhau, trong đó có những mùi vị rất nặng, thậm chí là
hôi thối Những mùi vị này có thể gây ức chế thần kinh, ức chế tâm lí và
đó cũng là một nguồn ô nhiễm không thể coi thờng. Nó đòi hỏi mỗi ngời
cần phải có ý thức trong khi khi làm việc, sinh hoạt, quan hệ ở gia đình,
nhiệm sở, nơi công cộng để giảm đến mức thấp nhất những ảnh hởng tiêu
cực đối với những ngời xung quanh.
Hiện tợng này diễn ra theo cơ chế tơng tự nh nhà kính trồng cây và đợc
gọi là Hiệu ứng nhà kính.
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài ngời làm cho nồng độ
khí CO
2
của khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO
2
và các khí nhà kính khác
trong khí quyển trái đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo tính toán của các
nhà khoa học, khi nồng độ CO
2
trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ bề
mặt trái đất tăng lên khoảng 3
0
C. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ
trái đất đã tăng 0,5
0
C trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940 do
thay đổi của nồng độ CO
2
trong khí quyển. Dự báo, nếu không có những biện
pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên từ 1,5 đến
4,5
0
C vào năm 2050.
Nhiệt độ trái đất tăng sẽ làm tan băng và dâng cao mực nớc biển. Nh
vậy, nhiều vùng sản xuất lơng thực trù phú, các khu đông dân c, các đồng
bằng lớn, nhiều đảo thấp sẽ bị chìm dới nớc biển.
Sự nóng lên của trái đất làm thay đổi điều kiện sống bình thờng của
các loài sinh vật trên trái đất. Một số loài sinh vật có thể thích nghi với điều
quản thực phẩm đợc lâu là vì trong hệ thống ống dẫn khép kín phía sau tủ
lạnh có chứa loại dung dịch freon thể lỏng (thờng gọi là "gas"). Nhờ có dung
dịch hoá học này tủ lạnh mới làm lạnh đợc. Dung dịch freon có thể bay hơi
thành thể khí. Khi chuyển sang thể khí, freon bốc thẳng lên tầng ozon trong
khí quyển trái đất và phá vỡ kết cấu tầng này, làm giảm nồng độ khí ozon.
Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch
giặt tẩy, bình cứu hoả cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng freon.
Trong quá trình sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi việc
thất thoát một lợng lớn hoá chất dạng freon bốc hơi bay lên phá huỷ tầng
ozon. Các hoá chất làm thủng tầng ozon vốn không có sẵn trong tự nhiên, mà
do con ngời tạo ra; vì vậy chính con ngời là thủ phạm gây ra những lỗ
thủng ở tầng ozon và tự làm hại mình.
Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp hữu
hiệu nhất để cứu tầng ozon. Các nớc thuộc khối Cộng đồng châu Âu (EEC)
đã nhất trí đến cuối thế kỉ này sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các hoá chất
thuộc dạng freon. Các nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất loại hoá chất
khác thay thế các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao công nghệ
cho các nớc đang phát triển. Tóm lại, tất cả các quốc gia trên thế giới đều
phải có tiếng nói chung và một quyết tâm cao thì mới có thể bảo vệ đợc tầng
ozon của trái đất.
Tham khảo
Thông báo
Nhân Ngày Môi trờng thế giới, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đội TNTP
Hồ Chí Minh nhà trờng tổ chức buổi tổng vệ sinh toàn trờng để góp phần
làm cho trờng ta xanh, sạch, đẹp hơn nữa.
1.Thời gian làm việc: từ 6h30 ngày 5 tháng 6 năm 2006
2. Nội dung công việc:
a) Thu gom rác các loại trong phạm vi khuôn viên của nhà trờng.
b) Khai thông hệ thống cống rãnh tiêu thoát nớc trong trờng.
53
Ngày 2 tháng 9 năm nay, chúng ta chúc mừng lần thứ hai mơi Cách
mạng tháng Tám thành công và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hai mơi tuổi.
Nhiều cháu thanh niên gái và trai năm nay cũng vừa đúng hoặc xấp xỉ tuổi
hai mơi.
54
Nhân dịp này, Bác thân ái chúc mừng các cháu thanh niên trong cả nớc
và Bác có mấy lời nhắc nhủ các cháu nh sau:
Hai mơi năm trớc đây, thực dân Pháp cùng bọn vua quan phong kiến
còn thống trị nớc ta, dân ta còn là những ngời nô lệ.
Cách mạng tháng Tám thành công đã giải phóng hai mơi lăm triệu đồng
bào ta. Nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập là Nhà nớc đầu tiên của
nhân dân ta. Từ đó, nhân dân ta làm chủ đất nớc của mình, cùng nhau ra sức
xây dựng cuộc đời độc lập, tự do, hạnh phúc.
Nhng thực dân Pháp lại xâm lợc nớc ta một lần nữa. Đồng bào cả
nớc ta, từ Nam đến Bắc đã kháng chiến cực kì anh dũng trong suốt chín
năm. Cuối cùng chúng ta đã đánh thắng thực dân Pháp và bè lũ bù nhìn. Hoà
bình đợc lập lại. Miền Bắc nớc ta hoàn toàn đợc giải phóng đã chuyển
sang một giai đoạn mới: giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Mời một năm qua, miền Bắc ta xây dựng không ngừng, ngày càng đổi
mới. Chúng ta đã xoá bỏ chế độ ngời bóc lột ngời, nhân dân lao động hoàn
toàn làm chủ cuộc đời của mình, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã
thu đợc nhiều thành tích rực rỡ.
Trong sự nghiệp vĩ đại ấy, thanh niên ta ở miền Bắc đợc sự giáo dục của
Đảng và sự dìu dắt của Đoàn đã tỏ ra rất xứng đáng là thế hệ của Cách mạng
tháng Tám vẻ vang. Đại đa số các cháu thanh niên đều hăng hái thi đua trên
mọi mặt trận: nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, khoa học kĩ thuật, giáo
dục, văn hoá, y tế,
Cũng trong mời một năm qua, dới ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mĩ
và bè lũ tay sai, đồng bào miền Nam ta đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ngày
nay đang liên tiếp đánh mạnh kẻ địch trên khắp các chiến trờng và đã giành
Tăng cờng đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỉ luật.
Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.
Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống
kiêu căng tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình
nghiêm chỉnh để giúp nhau tiến bộ mãi.
Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật
và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.
Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gơng
tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo.
Bác gửi lời thân ái đến:
Các cháu thanh niên Việt kiều ở nớc ngoài luôn luôn hớng về Tổ quốc.
Các cháu thanh niên Hoa kiều kề vai sát cánh với thanh niên Việt Nam
trong công cuộc chống Mĩ cứu nớc.
Các cháu thanh niên các nớc hăng hái ghi tên tình nguyện cùng nhân
dân Việt Nam đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lợc.
Các cháu thanh niên thân mến.
Các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng. Bác mong các cháu
đều xứng đáng là những anh hùng trong sự nghiệp cách mạng tiêu diệt chủ
nghĩa đế quốc và xây dựng xã hội mới.
Bác hôn các cháu.
Ngày 2 tháng 9 năm 1965
Bác Hồ
56
Tiết 6
Tiếng Việt
Văn bản
A. Kết quả cần đạt
1. Kiến thức: Nắm đợc khái niệm văn bản và các đặc điểm cơ bản, và
các loại văn bản.
2. Tích hợp với Văn qua bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam, với
Văn bản 3: kêu gọi cả cộng đồng thống nhất ý chí và hành động để
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Các vấn đề trên đã đợc triển khai nhất quán trong toàn văn bản.
3. Phân tích bổ sung văn bản 3:
Văn bản gồm 3 phần:
+ Mở bài (từ đầu đến "nhất định không chịu làm nô lệ"): nêu lí do của lời
kêu gọi.
+ Thân bài (tiếp theo đến "Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu
nớc"): nêu nhiệm vụ cụ thể của mỗi công dân yêu nớc.
+ Kết bài (phần còn lại): khẳng định quyết tâm chiến đấu và sự tất thắng
của cuộc chiến đấu chính nghĩa.
4. Về hình thức ở văn bản (3):
Mở đầu: tiêu đề "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến"
Kết thúc: dấu ngắt câu (!)
(Phần "Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946" và tên tác giả "Hồ Chí
Minh" không nằm trong nội dung của văn bản).
5. Mục đích:
Văn bản 1: nhắc nhở một kinh nghiệm sống.
Văn bản 2: nêu một hiện tợng trong đời sống để mọi ngời cùng suy
ngẫm.
Văn bản 3: kêu gọi thống nhất ý chí và hành động của cộng đồng để
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
GV chỉ định 3 HS lần lợt đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK.
Hoạt động 2
các loại văn bản
GV yêu cầu HS sử dụng kết quả ở HĐ 1 để trả lời các câu hỏi:
1. So sánh văn bản 1 và 2 với văn bản 3:
58
Vấn đề đợc đề cập đến trong mỗi văn bản là vấn đề gì? Thuộc lĩnh vực
nào trong cuộc sống?
Một đơn xin nghỉ học hoặc một giấy khai sinh là văn bản hành chính,
có mẫu sẵn.
59
Còn văn bản 2 là văn bản nghệ thuật, văn bản 3 là văn bản chính luận.
Nh vậy:
Văn bản 2 dùng trong lĩnh vực giao tiếp có tính nghệ thuật.
Văn bản 3 dùng trong lĩnh vực giao tiếp chính trị xã hội.
Các văn bản trong Toán, Vật lí, Hoá học trong SGK dùng trong lĩnh
vực giao tiếp khoa học.
Đơn từ, giấy khai sinh dùng trong lĩnh vực giao tiếp hành chính.
Nhận xét:
Văn bản 2 nhằm bộc lộ cảm xúc, có mục đích biểu cảm. Văn bản 3
nhằm kêu gọi, có mục đích thuyết phục. Các văn bản Toán, Vật lí, Hoá học,
nhằm cung cấp tri thức, có mục đích mở rộng và nâng cao hiểu biết cho ngời
học. Đơn từ, giấy khai sinh nhằm đề đạt nguyện vọng hoặc xác nhận sự việc,
có mục đích trình bày hoặc thừa nhận một sự thật nào đó.
Văn bản 2 dùng lớp từ ngữ giao tiếp xã hội.
Văn bản 3 dùng lớp từ ngữ chính trị xã hội.
Các văn bản Toán, Vật lí, Hoá học, trong SGK dùng lớp thuật ngữ.
Đơn từ, giấy khai sinh dùng lớp từ ngữ hành chính.
Văn bản 2 có kết cấu của ca dao, theo thể thơ lục bát.
Văn bản 3 có kết cấu của một văn bản quy phạm trong nhà trờng, tức là
gồm 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) rõ ràng, mạch lạc.
Các văn bản Toán, Vật lí, Hoá học, trong SGK cũng thờng có kết cấu
điển hình (3 phần) hoặc biến thể chỉ gồm hai phần: thân bài và kết bài.
Đơn từ, giấy khai sinh là những văn bản có mẫu in sẵn, chỉ cần điền nội
dung cụ thể.
GV chỉ định 3 HS lần lợt đọc chậm, rõ Ghi nhớ trong SGK.
Đọc tham khảo
1. Khái niệm về văn bản
thờng đợc nêu ra trong định nghĩa văn bản của họ. Sau đây là những đặc
trng xuất hiện dày đặc nhất trong những lời bàn về văn bản, những đặc trng
mà một mặt làm nên thuộc tính nội tại của văn bản, mặt khác có tác dụng
phân biệt văn bản với những cái có liên quan đến nó.
Mỗi văn bản thờng bao gồm đồng thời những đặc trng sau đây:
1. Yếu tố chức năng
Văn bản có đích hay chủ định của ngời tạo ra văn bản (ngời nói, ngời
viết), cụ thể là ngời tạo văn bản dùng lời nói (miệng hay viết) của mình để
thực hiện một hành động nào đó nhằm tác động đến ngời nghe, ngời đọc
(nh trình bày một việc gì, nhận xét, giải thích, chứng minh, bác bỏ một
61
việc gì; hỏi, sai khiến, yêu cầu, đề nghị, hứa hẹn, cam kết, tuyên bố, mời,
chào, cảm ơn, xin lỗi, biểu lộ những cảm xúc khác ). Chính chức năng này
của văn bản gắn trực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chức năng
giao tiếp. Và những chức năng này cũng có những tác động nhất định đến loại
hình cấu tạo của bản thân các văn bản.
2. Yếu tố nội dung
Văn bản có một hoặc vài ba đề tài chủ đề xác định, giúp phân biệt văn
bản với chuỗi câu nối tiếp lạc đề, hoặc xa hơn nữa, phân biệt văn bản với
chuỗi câu không mạch lạc tình cờ đứng cạnh nhau tạo ra cái gọi là "chuỗi bất
thờng về nghĩa" hoặc "phi văn bản". Những chuỗi câu "phi văn bản" nh thế,
nếu xét mặt hình thức từ ngữ vẫn có thể có liên kết với nhau, nhng không
hình thành nên đợc một đề tài chủ đề xác định. Việc tạo ra đề tài chủ đề
xác định cho văn bản còn đợc coi là tạo ra tính thống nhất đề tài chủ đề
của văn bản.
3. Mạch lạc và liên kết
Cách tổ chức mặt nội dung của văn bản là yếu tố quyết định sự hình
thành văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài chủ
đề cho văn bản. Tính thống nhất đề tài chủ đề của văn bản có đợc là nhờ ở
mạch lạc. Mạch lạc giúp nhận ra đợc rằng các câu đang khảo sát (hoặc toàn
phân biệt văn bản này với văn bản khác, khi nhiều văn bản đợc tập hợp lại
nh trong tập bài nghiên cứu, trong một tờ báo, trong một số tạp chí, trong
một tuyển tập thơ hoặc văn
Tóm lại, văn bản có năm đặc trng thực tiễn là:
* Đích hay chủ định của ngời nói
* Đề tài chủ đề xác định
* Mạch lạc và liên kết
* Thờng gồm nhiều câu phát ngôn nối tiếp
* Có biên giới bên trái và biên giới bên phải (hay có đầu vào và đầu ra)
Mỗi đặc trng nh là một dấu hiệu có tác dụng nhất định góp phần làm
cho "một quãng lời nói là một văn bản". Trong số các đặc trng đó, mạch lạc
trong cách hiểu rộng đợc coi là đặc trng quyết định tính văn bản hay chất
văn bản cho văn bản.
3. Kết cấu của văn bản
1. Về khái niệm kết cấu của văn bản:
Kết cấu của văn bản (còn gọi là bố cục) là kết quả của việc sắp xếp, tổ
chức các bộ phận ngôn từ có ý nghĩa của văn bản theo một hình thức nhất
định (một cấu trúc nhất định). Kết cấu của văn bản còn đợc gọi là liên kết
tổng thể, liên kết theo chiều sâu của văn bản. Cần phân biệt kết cấu của các
bộ phận có nghĩa trong văn bản với việc sắp xếp, tổ chức các hành động nói
trong một văn bản (rõ nhất là trong các cuộc thoại). Trong điểm này chỉ cần
bàn đến kết cấu với t cách là kết cấu của các bộ phận có nghĩa trong văn
63
bản. Về cách tổ chức các hành động nói sẽ đợc đề cập phần nào khi bàn về
mạch lạc trong văn bản. Nói cách khác, ở đây chỉ xem xét chức năng tạo văn
bản của các bộ phận có nghĩa trong văn bản, cha tính đến chức năng giao
tiếp của các bộ phận đó.
1.1. Khuôn hình của văn bản:
Trong việc dạy học văn bản nói chung và làm văn nói riêng, những hiểu
biết tối thiểu về khuôn hình văn bản là có ích, giúp ngời tạo văn bản xác
64
Để cho tiện làm việc với văn bản theo tinh thần của Ngôn ngữ học văn
bản, cũng tức là trong những trờng hợp không cần thiết phải phân biệt "cái
đợc nói đến" (đề tài) với "vấn đề chủ yếu" (chủ đề) thì có thể gọi là đề tài
chủ đề hay gọi gọn là đề nói chung. Trong những trờng hợp khác thì có thể
tùy nghi mà gọi đề đề tài hay chủ đề. Chẳng hạn cái gọi là "câu chủ đề"
trong đoạn văn, có khi là câu nêu đề tài của đoạn văn, có khi là câu nêu chủ
đề của đoạn văn, bởi vậy nên gọi chung là "câu đề". Và có thể phân biệt câu
đề mở đoạn khi câu đề đứng đầu đoạn văn, câu đề kết đoạn khi câu đề đứng
cuối đoạn văn. Đó cũng là cơ sở để có thể gọi giản đơn câu đề là câu chốt.
Tóm lại, cái gọi là "đề" của đoạn văn, văn bản có thể là đề tài mà cũng có
thể là chủ đề của đoạn văn tuỳ theo cách nêu nội dung khái quát của văn bản
trong câu đề của ngời tạo lập văn bản, hoặc cũng không loại trừ sự tùy thuộc
ở loại hình văn bản (chẳng hạn văn bản có tính chất miêu tả, tự sự thì cái nội
dung khái quát thờng đợc nêu là đề tài, văn bản có tính chất nghị luận thì
nội dung khái quát thờng gặp dới dạng chủ đề hơn).
1.3. Kiểu kết cấu thờng gặp của văn bản:
Nh đã nói ở điểm (1.1), văn bản có thể có khuôn hình cố định hoặc
khuôn hình không cố định. Trong loại thứ hai có một loại nhỏ là khuôn hình
thờng dùng, tức là không bắt buộc phải nh vậy, nhng thông thờng ngời
ta a dùng theo kiểu nh vậy. Nhiều văn bản viết thờng dùng là thuộc kiểu
văn bản gồm có ba phần. Kết cấu chung của kiểu văn bản này tuân theo trình
tự sau đây:
+ Phần mở
+ Phần thân (phần luận giải)
+ Phần kết (phần đóng, phần kết luận)
Ngoài ba phần vừa nêu, văn bản thuộc loại khuôn hình này còn có một
yếu tố không kém phần quan trọng, đó là "đầu đề". Tuy quan trọng, nhng
yếu tố này không có tính bắt buộc một cách tuyệt đối; vả lại nó không làm
thành một "phần" đích thực với ý nghĩa của từ này, và nói chung khi bàn đến
tợng hơn. Nhìn tổng quát có thể nêu những yếu tố nội dung của phần mở
nh sau:
+ Nêu đề tài chủ đề
+ Nêu khung cảnh chung của đề tài chủ đề
+ Giới hạn nội dung đợc đề cập đối với đề tài chủ đề nh: phơng diện
xem xét, cách tiếp cận, nhiệm vụ, mục đích của văn bản ; cũng tức là định
hớng cụ thể cho việc triển khai đề tài chủ đề ở phần tiếp theo.
1.3.3. Phần thân:
Phần thân thờng đợc coi là phần quan trọng nhất trong kết cấu của văn
bản. Nhiệm vụ trung tâm của phần thân là triển khai đầy đủ đề tài chủ đề
theo hớng đã đợc xác định ở phần mở của văn bản.
Trong văn bản, phần thân là phần thể hiện rõ nhất hai thao tác cơ bản của
việc sử dụng ngôn ngữ là lựa chọn và kết hợp. Lựa chọn và kết hợp ở đây
không chỉ giản đơn là làm việc với các từ, mà quan trọng hơn là làm việc với
các ý. Việc lựa chọn ở đây gồm có ba bớc kế tiếp nhau:
66
Chọn ý
Phân cấp các ý và xếp đặt các ý (làm dàn ý)
Trình bày các ý (đây là giai đoạn làm việc trực tiếp với câu chữ, cũng
theo hai thao tác cơ bản là lựa chọn và kết hợp)
Số lợng các ý đợc chọn phải theo tiêu chuẩn lô-gic là cần và đủ, nhờ đó
văn bản sẽ tránh đợc hiện tợng "thiếu ý" và "rờm rà". Thiếu ý là thiếu các
ý cần, rờm rà là thừa các ý không cần. Không thiếu ý và không rờm rà tức
là vừa đủ. Việc đánh giá các tiêu chuẩn cần và đủ ở đây không thể tách rời
năng lực của ngời tạo văn bản và vốn kiến thức nền của ngời tiếp nhận
văn bản.
Phân cấp các ý là biểu hiện của việc đánh giá tác dụng của các ý trong
văn bản đang đợc thực hiện. ở đây hai khái niệm "tơng đơng" và "bao
hàm" có vai trò quyết định, tức là phải xác định cho đợc ý nào tơng đơng
với ý nào, ý nào bao hàm những ý nào và ngợc lại, những ý nào bị bao hàm
chuẩn đánh giá công việc này là tính đúng, tính hợp lí (lô-gic).
Thứ hai, công việc hiện thực hoá văn bản (còn gọi là "lấp đầy" văn
bản). Tiêu chuẩn đánh giá công việc này là tốt không tốt, hay không hay.
Chẳng hạn trớc một dàn bài (đề cơng) cho sẵn, tức là trớc một kết cấu
văn bản cho sẵn; nhng có ngời sẽ "lấp đầy" bằng ngôn ngữ một cách sâu
sắc, hấp dẫn, thú vị và ngợc lại cũng có ngời "lấp đầy" một cách nhạt nhẽo,
hời hợt, vô vị. Đây chính là quan niệm phân biệt cấu tạo văn bản theo chiều
sâu, tức là phân biệt năng lực hiện thực hoá văn bản của mỗi ngời, cho dù
cái bề mặt câu chữ (tuyến tính) thoạt nhìn tởng chẳng có gì khác nhau.
2. Phân tích kết cấu văn bản:
Để minh hoạ phần trình bày trên, sau đây là một ví dụ về thực hành phân
tích mặt kết cấu của một văn bản cụ thể:
(I) Ngời thầy đạo cao đức trọng
(II) (1) Ông Chu Văn An đời Trần nổi tiếng là một thầy giáo giỏi, tính
tình cứng cỏi, không màng danh lợi.
(III) (2) Học trò theo ông rất đông. (3) Nhiều ngời đỗ cao và sau này giữ
những trọng trách trong triều đình nh các ông Phạm S Mạnh, Lê Bá Quát,
vì thế mà vua Trần Minh Tông vời ông ra dạy thái tử học. (4) Đến đời Dụ
Tông, vua thích vui chơi, không coi sóc tới việc triều đình, lại tin dùng bọn
nịnh thần. (5) Ông nhiều lần can ngăn nhng vua không nghe. (6) Lần cuối,
ông trả lại mũ áo triều đình, từ quan về làng.
(IV) (7) Học trò của ông, từ ngời làm quan to đến ngời bình thờng khi
có dịp tới thăm thầy cũ, ai cũng giữ lễ. (8) Nếu họ có điều gì không phải, ông
trách mắng ngay, có khi không cho vào thăm.
(V) (9) Khi ông mất đi, mọi ngời đều thơng tiếc.
(Theo Phan Huy Chú)
68
Các thành tố kết cấu của văn bản này nh sau:
(I): đầu đề
(II): phần mở
có chứng minh "đạo cao" và "đức trọng" của Chu Văn An.
69
+ Phần kết (V) chỉ có một câu ngắn nhng đã khái quát đợc về một
ngời thầy đạo cao đức trọng: "mọi ngời đều thơng tiếc", nghĩa là không
chỉ học trò mà tất cả mọi ngời đều thơng tiếc. Nói cách khác, tài đức của
Chu Văn An không chỉ đợc ngỡng mộ khi sống, mà còn đợc tôn vinh khi
ông đã qua đời, nghĩa là ông đã trở thành một tấm gơng sáng cho muôn
đời sau.
+ Mạng lới liên kết giữa các câu trong văn bản:
Câu (2) liên kết với câu (1) bằng phép thế đại từ lâm thời "ông", đồng
thời cũng là phép lặp từ vựng bộ phận.
Câu (3) liên kết với câu (2) bằng phép lặp từ vựng "ông"
Câu (4) không liên kết trực tiếp với câu (3)
Câu (5) liên kết với câu (3) bằng phép lặp từ "ông" và liên kết với câu
(4) bằng phép lặp từ "vua"
* Mối quan hệ giữa 3 câu (3 4 5) gọi là "liên kết bắc cầu"
Câu (6) liên kết với câu (5) bằng phép lặp từ "ông"
Câu (7) liên kết với câu (6) bằng phép lặp từ "ông"
Câu (8) liên kết với câu (7) bằng phép lặp từ "ông"
Câu (9) liên kết với câu (8) bằng phép lặp từ "ông".
(Theo Diệp Quang Ban (Chủ biên) Hoàng Dân,
Ngữ pháp tiếng Việt, Giáo trình CĐSP. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001)Lm Văn
Viết bi lm văn số 1
(Bài làm ở nhà)
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em trớc một hiện tợng đời sống (hoặc một
tác phẩm văn chơng mà em đ đọc).
Cảm nghĩ về một vấn đề đợc đặt ra trong tác phẩm (thiện ác, nhân
tính, khát vọng hoàn lơng, bi kịch làm cha, tình bạn, tình yêu ).
3. Yêu cầu về phơng pháp:
Trong chơng trình Tập làm văn trớc khi thay SGK THCS (1985
2001) có một kiểu bài là: "Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật hoặc một tác
phẩm văn học", nhng từ khi thay SGK THCS (2002) đến nay, không còn
kiểu bài đó nữa và đợc thay bằng kiểu bài "Văn bản biểu cảm". Tuy hai kiểu
bài này không hoàn toàn đồng nhất, nhng giữa chúng vẫn có một điểm
chung cơ bản là "bộc lộ những ý nghĩ và tình cảm" về một đối tợng nào đó.
71
Nói cách khác, đây là kiểu bài trung gian giữa "văn bản nghệ thuật" và "văn
bản nghị luận", trong đó:
+ Văn bản nghệ thuật coi yếu tố cảm xúc là hàng đầu, mang tính quyết
định, bởi:
Ngời viết phải xúc động trớc thiên nhiên và cuộc sống thì mới có
cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Sức mạnh chủ yếu của văn bản nghệ thuật là
sức mạnh của hình tợng nghệ thuật.
Ngời đọc phải thông qua xúc động mới có thể tự rút ra những bài học
nhân sinh nào đó.
+ Văn bản nghị luận coi lập luận là yếu tố hàng đầu, mang tính quyết
định, bởi:
Ngời viết phải trình bày t tởng của mình thông qua một hệ thống
luận điểm, luận cứ chặt chẽ và có sức thuyết phục. Sức mạnh chủ yếu của văn
bản nghị luận là sức mạnh luận thuyết.
Ngời đọc phải thông qua những lập luận của ngời viết để bày tỏ thái
độ đồng thuận hoặc không đồng thuận của mình.
Tóm lại, để viết tốt bài văn này, HS phải:
Có cảm xúc chân thành, sâu sắc trớc một hiện tợng đời sống hoặc
một tác phẩm văn chơng.
cảnh khó khăn và sự lúng túng của mình trong việc tiếp đãi bạn:
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Cách vào đề nh vậy vừa thông báo rõ đợc sự việc, vừa tế nhị và dí dỏm
để lộ ra cách tiếp đãi bạn tất yếu phải đạm bạc theo kiểu "cây nhà lá vờn"
của mình.
Với hai câu đề nh vậy, Nguyễn Khuyến đã tạo nên một tình huống khá
oái oăm: bạn thân lâu ngày mới đến chơi, rất yêu bạn, muốn tiếp đãi bạn tử tế
mà không đợc. Để làm nổi bật tình huống đó, nhà thơ đã dùng thủ pháp
phóng đại, cờng điệu lên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của mình nhằm tạo
nên tiếng cời hóm hỉnh:
Ao sâu nớc cả khôn chài cá
Vờn rộng rào tha khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mớp đơng hoa
Lời thơ thật tự nhiên, cứ nh là buột miệng nói ra. Vậy mà nghệ thuật đối
trong những câu thực và luận vẫn rất chỉnh. Cách nói sự khó khăn thiếu thốn
cũng không hề đơn điệu. Những thứ ngon và sang thì có đấy, nhiều là đằng
khác, nhng cá thì không bắt đợc vì ao sâu nớc cả, gà thì không đuổi đợc
vì vờn rộng rào tha. Những thứ thực phẩm thông thờng nh rau quả thì
trong vờn có sẵn, nhng khốn nỗi cà và mớp mới có nụ và hoa, cải cha
thành cây, bầu còn non vừa rụng rốn Sự kể lể, phân bua về cái khó, cái
nghèo ấy kéo sang cả câu thứ 7, vốn thuộc phần kết, phá vỡ kết cấu vốn rất
nghiêm ngặt của thơ Đờng luật: