Viêm loét dạ dày tá tràng
Về mặt kỹ thuật, thuật ngữ viêm dạ dày đề cập đến những phát hiện khi nội soi
hoặc thay đổi về mô học của niêm mạc dạ dày, tuy nhiên, trên lâm sàng, thuật ngữ
này thường được sử dụng để chỉ các triệu chứng khó tiêu. Những nguyên nhân phổ
biến nhất là nhiễm vi khuẩn H pylori, dùng các thuốc kháng viêm không steroid
(NSAIDs), aspirin. Các thuốc khác có liên quan đến viêm dạ dày bao gồm kali và
viên sắt. Cồn ethanol đã được chứng minh gây viêm dạ dày ở người uống nhiều
rượu. Những nguyên nhân ít phổ biến hơn bao gồm các rối loạn tự miễn, tia xạ,
chất kích thích độc hại, trào ngược dịch mật, dịch tụy, nhiễm vi khuẩn, virus, ký
sinh trùng và nấm.
Loét dạ dày tá tràng hay còn gọi là loét tiêu hóa (PUD) đề cập đến sự hình thành
một chỗ khuyết ở niêm mạc đường tiêu hóa (dạ dày hoặc tá tràng), tiếp xúc với
chất tiết acid và pepsin. Tại phòng cấp cứu, về mặt lâm sàng, thường không thể
phân biệt được giữa viêm và loét dạ dày tá tràng, do đó thái độ xử trí là như nhau.
Các biến chứng nổi trội bao gồm sốc do xuất huyết và viêm phúc mạc thứ phát do
thủng loét. Thầy thuốc lâm sàng cần quan tâm đến các bệnh lý khác đe dọa đến
tính mạng, có thể biểu hiện lâm sàng tương tự viêm dạ dày, như hội chứng mạch
vành cấp và phình động mạch chủ.
Sinh bệnh học của loét dạ dày tá tràng (loét tiêu hoá) là đa yếu tố và là hậu quả của
sự mất cân bằng giữa các yếu tố gây hại trong lòng ống tiêu hoá (acid và pepsin)
và chức năng bảo vệ (là hàng rào phòng thủ chất nhầy niêm mạc và bicarbonate).
Một số yếu tố từ môi trường và chủ thể người bệnh cũng góp phần hình thành loét
do làm tăng tiết acid dạ dày hoặc làm suy yếu hàng rào bảo vệ niêm mạc. Các yếu
tố môi trường bao gồm sử dụng NSAIDs, hút thuốc lá, uống rượu quá nhiều, stress
tâm lý thể lực khắc nghiệt. Các yếu tố chủ thể bao gồm nhiễm H pylori và các
viêm nhiễm khác cùng tình trạng tăng tiết acid như trong hội chứng Zollinger-
Ellison.
Việc sử dụng NSAID và aspirin đã trở thành nguyên nhân phổ biến nhất gây tổn
thương niêm mạc đường tiêu hóa và xuất huyết tiêu hoá ở các nước phương Tây.
Ước tính có đến 30% bệnh nhân thường xuyên sử dụng NSAID có một hoặc nhiều
• Biến chứng của viêm dạ dày bao gồm loét tiêu hoá và hiếm gặp hơn, là xuất
huyết tiêu hoá nặng.
• Loét tiêu hoá vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây xuất huyết ở đường tiêu hóa trên.
• Thủng ổ loét có thể gây viêm phúc mạc và nhiễm trùng huyết (hiếm).
• Các biến chứng khác bao gồm hẹp môn vị và carcinom tuyến.
• Tỷ lệ tử vong chung ước tính là 1/100.000.
Giới tính
• Trước kia, loét dạ dày (PUD) là một bệnh chủ yếu ở nam giới, nhưng ngày
nay, tỷ lệ viêm dạ dày và loét tiêu hoá giữa nam và nữ vào khoảng 1/1.
Tuổi
• Tuổi vào thời điểm chẩn đoán ngày càng tăng.
• Nhiễm H pylori tăng tỷ lệ thuận với sự gia tăng tuổi tác.
• Loét tá tràng thường xảy ra ở những người từ 30-50 tuổi
• Loét dạ dày phổ biến ở độ tuổi 50-70. H2-Viêm xuất huyết lan tỏa ở dạ dày
I- Lâm sàng
A-Bệnh sử
• Bệnh nhân thường có những cơn đau bụng với các đặc điểm sau:
+ đau thượng vị góc phần tư trên trái
+ thường được miêu tả là rát nóng
+ Có thể lan ra sau lưng
+ Thường xảy ra 1-5 giờ sau bữa ăn
+ Triệu chứng có thể thuyên giảm sau khi ăn một chút thức ăn, dùng chất
• Rượu
• Trào ngược dịch mật
• Trào ngược dịch tụy
• Tia xạ
• Bệnh Crohn
• Nhiễm vi khuẩn hoặc virus
III-Chẩn đoán phân biệt
• Hội chứng mạch vành cấp
• Viêm dạ dày ruột
• Phình động mạch chủ bụng
• Viêm gan
• Viêm đường mật
• Viêm loét đại tràng
• Viêm túi mật và co thắt đường mật
• Thiếu máu mạc treo ruột
• Sỏi mật
• Nhồi máu cơ tim
• Viêm túi thừa đại tràng
• Viêm tụy
• Thủng, vỡ, rách thực quản
• Thuyên tắc phổi
• Viêm thực quản
• Sỏi thận
Các vấn đề khác cần lưu ý loại trừ:
• Ung thư dạ dày
• Giãn tĩnh mạch thực quản
• Hội chứng Mallory-Weiss
• Viêm teo dạ dày
• Khó tiêu không loét
• Rối loạn vận động ống tiêu hóa
tuổi trở lên, những bệnh nhân nghi ngờ loét dạ dày tá tràng (PUD) có các dấu hiệu
tắc nghẽn, xuất huyết, viêm phúc mạc, những bệnh nhân đã thất bại trong điều trị
tiệt trừ.
+ Xét nghiệm urease nhanh xác định nhiễm H pylori hoạt động trong mẫu sinh
thiết. Độ nhạy giảm khi có xuất huyết, dùng PPI, bismuth và kháng sinh.
+ Cấy mẫu mô sinh thiết giúp xác định nhiễm H pylori và tính nhạy cảm của vi
khuẩn đối với kháng sinh.
+ PCR đang được phát triển như một thử nghiệm rất nhạy và chuyên biệt đối với
nhiễm H. pylori.
B-Chẩn đoán hình ảnh
• Chụp X quang ngực có thể giúp phát hiện không khí khi có thủng tạng rỗng.
• CT scan chỉ hữu dụng để loại trừ các nguyên nhân khác.
C-Các xét nghiệm khác
• Nên kiểm tra điện tâm đồ ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch.
• Giảm đau sau khi dùng thuốc không có nghĩa là đã chẩn đoán đúng.
• Chụp kiểm tra ổ bụng hàng loạt để xác định rằng tình trạng đang được cải thiện
và không có các dấu hiệu của viêm phúc mạc.
D-Thủ thuật
• Đặt ống sonde mũi dạ dày hiếm khi hữu ích và ít được chỉ định.
V-Điều trị
A-Chăm sóc trước nhập viện
• Tích cực hồi sức bằng dịch truyền những bệnh nhân có bằng chứng xuất huyết
nặng ở đường tiêu hóa trên.
B-Chăm Sóc Cấp Cứu
hợp xuất huyết đang diễn tiến.
VII-Thuốc
Mục tiêu điều trị đối với các trường hợp cấp là giảm thiểu triệu chứng và bảo vệ
rào cản ở niêm mạc dạ dày nhằm thúc đẩy sự lành bệnh. Diệt H pylori là một quá
trình phức tạp kéo dài, đòi hỏi phải xác nhận sự hiện diện của vi khuẩn và bằng
chứng tiệt trừ, do đó không thuộc phạm vi cấp cứu.
Loại trừ tác nhân gây viêm loét và dùng thuốc kháng acid (antacids) có thể được
áp dụng trong điều trị ngoại trú đối với các trường hợp nhẹ. Đa số bệnh nhân đều
cần dùng đến thuốc đối kháng thụ thể H2 (H2RA) hoặc thuốc ức chế bơm proton
(PPI), đã được chứng minh là có hiệu quả và đáng tin cậy hơn so với thuốc kháng
acid. Bước đầu, có thể sử dụng thuốc kháng H2 hoặc PPI để điều trị. Nếu bệnh
nhân vẫn chưa hết đau, có thể kết hợp các thuốc trên với nhau. Trong các trường
hợp kháng trị, có thể chỉ định thêm sucralfat.
PPI có hiệu quả hơn H2RA trong giảm thiểu xuất huyết tiêu hoá trên ở bệnh nhân
dùng NSAID, aspirin, hoặc clopidogrel. Không thuốc kháng tiết nào có hiệu quả
đáng kể trong giảm nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân dùng các thuốc kháng đông
khác.
Một số bằng chứng cho thấy thuốc ức chế bơm proton có liên quan đến tăng nguy
cơ tim mạch và cho kết quả bất lợi ở những bệnh nhân xuất viện sau lần nhồi máu
cơ tim đầu tiên [8] Kết hợp PPI và clopidogrel không làm tăng nguy cơ tim mạch
so với dùng PPI đơn độc. Tác động này trên quần thể bệnh nhân cấp cứu chưa rõ
ràng.
A-Thuốc kháng acid
Các thuốc kháng acid chứa nhôm và magiê hữu ích trong việc giảm thiểu các triệu
chứng viêm dạ dày bằng cách trung hòa acid dạ dày. Các thuốc này rẻ và an toàn.
Hydroxit nhôm và magiê (Maalox, Mylanta)
itraconazole. Năm loại thuốc trong nhóm này hiện đã được FDA chấp thuận, và
omeprazole, lansoprazole, pantoprazole đều đã có ở dạng generic. Thuốc hiệu quả
nhất khi dùng 30-60 phút trước bữa ăn đầu tiên trong ngày. [9]
1-Omeprazole (Losec, Prilosec, Mepraz)
Giảm tiết acid dạ dày bằng cách ức chế bơm H+/K+ ATP ở các tế bào thành của
dạ dày.
Được sử dụng trong 4 tuần để điều trị và giảm triệu chứng loét tá tràng hoạt động.
Có thể sử dụng đến 8 tuần để điều trị tất cả các mức độ viêm thực quản bào mòn
(erosive esophagitis).
Liều lượng
Người lớn
20 mg uống mỗi ngày trong 4-8 tuần
Nhi
Chưa xác định
Tương tác
Có thể giảm tác dụng của itraconazole và ketoconazole, tăng độc tính của
warfarin, digoxin, và phenytoin
Chống chỉ định
Tiền sử mẫn cảm với thuốc
Thận trọng
Mang thai
Nhóm nguy cơ C - cho thấy có nguy cơ thai nhi trong các nghiên cứu ở động vật,
nhưng chưa được nghiên cứu ở người, có thể sử dụng nếu lợi ích đem lại lớn hơn
nguy cơ đối với thai nhi
Khả dụng sinh học của thuốc có thể tăng ở bệnh nhân cao tuổi
2-Esomeprazole (Nexium)
Đồng phân S của omeprazole.
Liều lượng
Người lớn
30 mg uống mỗi ngày trong 4-8 tuần
Nhi khoa
Chưa xác định
Tương tác
Giảm nồng độ huyết tương của ketoconazole và itraconazole, tăng độ thanh thải
theophylline
Chống chỉ định
Tiền sử mẫn cảm
Thận trọng
Mang thai
Nhóm nguy cơ B - nguy cơ cho thai nhi không được xác nhận trong các nghiên
cứu ở người nhưng đã được thể hiện trong một số nghiên cứu ở động vật
Điều chỉnh liều trong suy gan
4-Rabeprazole (Rabipril, Aciphex)
Giảm tiết acid dạ dày bằng cách ức chế bơm H+/K+ ATP của các tế bào thành.
Dùng điều trị ngắn hạn (4-8 tuần) để giảm triệu chứng của viêm dạ dày.
Được sử dụng cho đến 4 tuần để điều trị và giảm các triệu chứng của loét tá tràng
hoạt động. Có thể chỉ định đến 8 tuần để điều trị tất cả các mức độ viêm thực quản
bào mòn.
Liều lượng
Người lớn
20 mg uống mỗi ngày trong 4-8 tuần
Nhi khoa