Cơ sở, nội dung chính sách kinh tế của nhà nước –
Phần 1
1.1 Cơ sở pháp lý đưa ra các chính sách kinh tế của Nhà nước
- Chế độ kinh tế dưới góc độ của Luật Hiến pháp là tổng thể những quy định của
Nhà nước nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế cơ bản như: mục đích, chính
sách phát triển kinh tế, các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các nguyên
tắc tổ chức, quản lý nền kinh tế quốc dân cũng như các nguyên tắc sản xuất, phân
phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội.
- Chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước ta hiện nay được ghi nhận tại điều 15
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
1.2 Nội dung chính sách kinh tế của Nhà nước theo Hiến định
- “Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở
hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Phần 2: Phân tích nội dung chính sách kinh tế của nhà nước
2.1. Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước
2.1.1. Cơ sở hiến định
- Các chính sách và mục tiêu phát triển kinh tế được đưa vào nội dung Hiến pháp
của nước ta từ Hiến pháp 1959 đến nay. Những chính sách và mục tiêu này thay
đổi qua từng thời kỳ lịch sử, tương ứng với những lần thay đổi, chỉnh sửa Hiến
pháp.
- Trong Hiến pháp 1992, chính sách phát triển kinh tế được quy định tại Điều 15
và Điều 16 như sau:
Điều 15: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu
theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
- Theo Điều 15 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001), Nhà nước ta hiện nay
đang theo đuổi 2 chính sách phát triển kinh tế. Một là “Nhà nước xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”
Hai là “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa” Trong đó xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là
chính sách mới.
2.1.2. Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế như thế nào?
- Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước
khác hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển,
không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, chính trị để áp đặt, khống chế,
làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc. Ví dụ: Khả năng
đảm bảo an ninh lương thực.
- Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị trường
bên ngoài, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới ở bên ngoài, nó vẫn có
khả năng cơ bản duy tri sự ổn định và phát triển kinh tế tài chính quốc gia cũng
như sự ổn định định hướng phát triển;
Ví dụ: Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, tuy chịu ảnh hưởng rất lớn
nhưng Việt Nam đã nhanh chóng khắc phục khó khăn và là một trong những quốc
gia phục hồi sớm sau khủng hoảng.
- Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế đứng trước sự bao vây, cô lập và chống
phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ,
không bị rối loạn về kinh tế và chính trị.
Ví dụ: Cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam từ 1976 đến 1994; các vụ kiện chống
bán phá giá giày dép, tôm cá…và gần đây là việc WFF đưa cá basa của Việt Nam
vào danh sách đỏ trong Cẩm nang hướng dẫn tiêu dùng thủy sản 2010 cho Châu
Âu.
2.1.3. Vì sao phải bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế?
- Bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế gắn liền với độc lập tự chủ về chính trị và chủ
Một là, phải có đường lối chính sách kinh tế độc lập, tự chủ về phát triển kinh tế -
xã hội.
Hai là, phải có thực lực và tiềm lực kinh tế đủ mạnh ở mức độ cần thiết.
Ba là, phải xây dựng được thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vững
mạnh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
- Độc lập tự chủ về kinh tế nhưng phải gắn với mở cửa và hội nhập thị trường bên
ngoài, chủ động tham gia vào sự giao lưu, hợp tác với thị trường thế giới. Nhà
nước thống nhất và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức
quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng
độc lập chủ quyền và cùng cố lợi ích, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.
- Chính sách phát triển của Nhà nước phải đưa nước ta từ một nước nông nghiệp
nghèo nàn, lạc hậu thành một nước công nghiệp hóa hiện đại hóa.
2.1.5 Định hướng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
- Phát huy nội lực: việc phát huy nội lực cũng là biện pháp tránh phụ thuộc vào
bên ngoài.
Ví dụ: Việt Nam cần phát huy, khai thác tốt hơn nữa các nguồn nội lực như vị trí
địa chính trị quan trọng, nguồn nhân lực trẻ, thời kì dân số vàng, tài nguyên dồi
dào.
- Chủ động hội nhập kinh tế thế giới
Ví dụ: Việt Nam đã và đang chủ động trong việc phát triển các mối quan hệ song
và đa phương như gia nhập WTO năm 2006 kí BTA với Nhật Bản, Hoa Kì, …
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Cơ giới hóa các hoạt động sản xuất,
đồng thời phải xây dựng một nền kinh tế hiện đại, đi tắt đón đầu những công nghệ
mới, không chấp nhận những công nghệ lạc hậu
2.1.6. Đánh giá về sự độc lập, tự chủ của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
- Một nền kinh tế độc lập tự chủ theo cách hiểu thông thường và truyền thống là
một nền kinh tế phát triển toàn diện, có khả năng tự thỏa mãn những nhu cầu mọi
mặt của đời sống xã hội, của an ninh, quốc phòng và quá trình tái sản xuất; không
bị lệ thuộc vào bên ngoài cả từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, để có thể vận
hành một cách bình thường và bảo đảm được nền tảng cho việc duy trì an ninh
các quốc gia chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng.
2.1.6.1. Về yêu cầu xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ an
toàn cần thiết
- Mặc dù có những đóng góp to lớn và có những bước phát triển mới nhưng nhìn
tổng thể và khách quan thì những năm qua sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn quá
chậm, thậm chí có một số lĩnh vực vẫn còn trong tình trạng lạc hậu so với sự phát
triển. Sự chậm chễ này biểu hiện ở những bằng chứng sau:
- Chuyển dịch từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế công nghiệp là
một trong những điểm yếu nhất của chúng ta hiện nay. Mô hình tăng trưởng chủ
yếu của Việt Nam là dựa vào những lợi thế so sánh tĩnh đó là nguồn tài nguyên thô
và lao động rẻ chưa có kỹ năng. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn là gia công,
lắp ráp, rất ít sản phảm có hàm lượng trí tuệ cao. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn còn rất lúng túng. Đến nay sản xuất nông nghiệp vẫn
luôn luôn bị động trước những đòi hỏi của thị trường, nhiều địa phương vẫn không
xác định được định hướng nuôi trồng cây gì, con gì… Tỷ trọng dịch vụ trong GDP
còn thấp, nhưng trong quá trình phát triển khu vực này cũng đang bộc lộ khá nhiều
thách thức như: phát triển các khu du dịch, sân gôn, khu công nghiệp … tuỳ tiện
làm giảm diện tích cấy trồng của nông nghiệp, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới
đời sống của nông dân…
Cơ cấu GDP của một số quốc gia phân theo ngành kinh tế năm 2009
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Việt Nam 20.7% 41.58% 39.1%
Singapore 0% 34.8% 65.2%
Úc 3.8% 26.2% 70%
Hoa Kỳ 0.9% 20.6% 78.5%
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2009
Ví dụ: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt ra mục tiêu đến năm 2015: cơ
giới hóa 100% việc chế biến hạt giống, 70-75% việc làm đất, áp dụng các thiết bị
sạ lúa, cấy mạ, bơm thuốc, gặt lúa, gặp đập liên hợp… Thực tế đến nay, ở đồng
bằng sông Cửu Long mới chỉ cơ giới hóa được 28% diện tích canh tác lúa đông
lúng túng, chậm chễ, khả năng dự báo và phát hiện chưa cao, chưa nhạy bén trước
sự phát triển mau lẹ của tình hình trong nước và quốc tế.
- Các chính sách và giải pháp vẫn chưa đủ mạnh, chưa kịp thời. Hiệu quả và hiệu
lực quản lý nhà nước về kinh tế chưa cao, cải cách hành chính còn rất chậm và đặc
biệt đội ngũ cán bộ vẫn chưa đáp ứng kịp với tình hình và nhiệm vụ hiện nay.
2.1.6.2. Về việc xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững và có năng lực cạnh
tranh cao
- Hiện nay, với tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 60
thế giới (trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF) nếu tính
theo GDP và xếp thứ 133 nếu tính theo GDP bình quân đầu người.
Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
% 5,8 4,8 6,8 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,5 6,2 5,3 6,5
(ước)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2009
GDP bình quân đầu người nước ta qua các năm
Năm 1995 2000 2005 2007 2008 2009
USD/người 289 402 639 823 1024 1040
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2009
- Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới vào tháng 09/2010, Việt Nam đứng
thứ 59 trong tổng số 139 nước tham gia xếp hạng chỉ số cạnh tranh quốc gia.
- Ở hạng mục Yêu cầu cơ bản, Việt Nam đạt điểm số 4,4 và xếp hạng thứ 74; ở
hạng mục Các nhân tố cải thiện hiệu quả, điểm số dành cho Việt Nam là 4,2 tương
đương vị trí thứ 57; còn ở hạng mục Các nhân tố về sáng tạo và phát triển Việt
Nam đạt 3,7 điểm, xếp thứ 53.
- Khi đánh giá các yếu tố trong từng trụ cột, WEF xếp Việt Nam ở các vị trí khá
cao ở các yếu tố như: tiền lương và năng suất (hạng 4/139), mức độ tin tưởng của
dân chúng vào các chính trị gia (32), mức độ đáng tin cậy của lực lượng cảnh sát
(41), hệ thống điện thoại cố định (35), sự phủ sóng Internet tại trường học (49), tỷ
lệ tiết kiệm quốc gia (17), trình độ của người tiêu dùng (45), mức độ tham gia của
trình hội nhập của Việt Nam.
- Ngoài ra một số mặt hàng trong nước chúng ta còn quá lệ thuộc vào nước ngoài:
Ví dụ 1: Việc không kiểm soát được giá thuốc. Nguyên nhân của việc không kiểm
soát được giá thuốc là do công nghiệp dược Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn là
công nghiệp bào chế đơn giản với hàm lượng kỹ thuật thấp. Một số nhóm thuốc
quan trọng trong nước chưa sản xuất được. Trong khi đó, thị trường thuốc lại đang
bị các hãng dược nước ngoài thao túng bởi họ biết câu kết độc quyền hoặc tự đoạt
vị trí độc quyền.
Ví dụ 2: Sản xuất máy nông nghiệp còn lệ thuộc linh kiện nhập khẩu, khoảng 30%
máy nông nghiệp do Việt Nam sản xuất, nhưng linh kiện chủ yếu là hàng nhập.
Theo các chuyên gia chế tạo máy, Việt Nam hiện nay có khoảng 550.000 máy
phục vụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là máy nổ và máy phát điện, còn máy cày,
máy gặt đập và các dòng máy chuyên dùng khác không đáng kể… Nhóm máy
phục vụ sản xuất nông nghiệp được phân chia theo tỷ lệ: máy nhập từ Trung Quốc
chiếm khoảng 60%, máy do Việt Nam sản xuất chiếm khoảng 30%, còn lại là
nguồn máy cũ. Nếu phân tích chi tiết hơn, trong 30% thị phần của máy nông
nghiệp Việt, có nhiều dòng sản phẩm là kết quả của liên doanh 2.1.6.3. Đánh giá
về việc xây dựng cơ cấu xuất nhập khẩu cơ bản cân đối - Cơ cấu mặt hàng đa
dạng, phong phú với tỷ lệ các mặt hàng công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm
ưu thế; cơ cấu thị trường quốc tế, đối tác cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá
nhiều vào một vài mục tiêu.
- Nền kinh tế nước ta đang ở trong trạng thái nhập siêu, tình trạng này diễn ra liên
tục trong vài năm gần đây với tỉ lệ cao và chưa thấy được dấu hiệu của việc giảm
tỉ trọng nhập siêu. Điều này làm ảnh hưởng tới an toàn của hệ thống nền kinh tế về
dự trữ ngoại hối, những mặt hàng chúng ta nhập phần lớn là những mặt hàng xa xỉ,
nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa; do vậy, đây là
một trong những điều quan ngại cho tính an toàn và độc lập của nền kinh tế Việt
Nam.
Ví dụ: Năm 2009 nhập siêu 12,25 tỉ USD. Đến hết tháng 11/2010 nhập siêu 10,65
tỉ USD. Bộ Công thương ước tính nhập siêu năm 2010 sẽ khoảng 12 tỉ USD, nằm
xuất trong nước, nhu cầu về vốn tăng cao cộng với năng lực quản trị kém luôn
khiến cho hệ thống ngân hàng VN luôn ở trong tình trạng kém về thanh khoản, lãi
suất tăng cao. Điều này gây áp lực lớn hệ thống doanh nghiệp VN, đặc biệt là hệ
thống doanh nghiệp tư nhân; yếu tố cốt lõi cho sự phát triển nền kinh tế.
- Đầu năm 2010, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF cảnh báo dự trữ ngoại hối của Việt Nam
quá thấp, chỉ bằng 7 tuần nhập khẩu so với tiêu chuẩn quốc tế là 12 tuần. Đến
tháng 06/2010, Ngân hàng Nhà nước công bố số liệu dự trữ ngoại hối của Việt
Nam đạt 09 tuần nhập khẩu. Tuy nhiên con số này vẫn còn quá thấp.
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam qua các năm (tỉ USD)
2008 2009 2010 (dự báo)
23 15.2 17.5
- Một số vấn đề khác liên quan đến độc lập tự chủ về kinh tế:
+ An ninh lương thực: Chúng ta có thể yên tâm về khoản này do là nước nông
nghiệp, xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Tuy nhiên, vẫn có những mối lo về việc giảm
diện tích đất nông nghiệp do các nguyên nhân: đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử
dụng đất, ngập mặn…
+ Nợ quốc tế: Năm 2010 dự kiến nợ quốc tế vào khoảng 38.8% GDP, vẫn ở mức
an toàn cho phép. Tuy nhiên vẫn có những mối lo ngại về tình hình nợ quốc tế như
sau:
- Nợ quốc tế vẫn tăng hằng năm, và mức độ tăng nhanh hơn mức độ tăng trưởng
GDP
- Cơ cấu nợ: gia tăng các khoản vay có lãi suất cao, đáo hạn sớm. Đây là các
khoản vay của các doanh nghiệp (chỉ có chính phủ có thể vay nợ với lãi suất thấp
và thời hạn trả nợ dài). Đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước dựa vào cam kết
bảo lãnh của chính phủ để đi vay.
- Từ 2009, Việt Nam bắt đầu trả nợ ODA cho Nhật Bản, mỗi năm khoảng 200-250
triệu USD. Con số này sẽ còn tăng trong tương lai.
- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng XHCN trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta. Trong
điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, việc thực hiện chủ trương này đứng trước nhiều
quả kinh tế xã hội không được đảm bảo. Ví dụ như các vấn đề về lạm thác titan,
vàng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về môi trường, tình trạng ô nhiễm do hạ tầng
xử lí chất thải không theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp, do mục tiêu lợi nhuận
dẫn đến việc gây ô nhiễm môi trường sống trầm trọng, điển hình là sự việc bức tử
sông Thị Vải của Vedan.
- Phân phối thu nhập không công bằng, phân hóa giàu nghèo gia tăng. Các chỉ số
thống kê cho thấy chênh lệch giữa nhóm giàu (20% tổng số hộ có thu nhập cao
nhất) và nhóm nghèo (20% tổng số hộ có thu nhập thấp nhất) ở nước ta tăng nhanh
qua các năm: 1990 là 4,1 lần, năm 1991 là 4,2 lần, năm 1993 là 6,2 lần, năm 1994
là 6,5 lần, năm 1995 là 7 lần, năm 1999 là 7,6 lần, năm 2004 là 8,1 lần và 2008 là
9,1 lần. Chênh lệch giàu nghèo ở nước ta cũng cần lưu ý những điểm sau:
Một là, chênh lệch giàu, nghèo ở nước ta tăng là kết quả tất yếu của sự chuyển đổi
cơ chế từ kế hoạch tập trung quan liêu và chế độ bao cấp bình quân hiện vật sang
cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường đã loại bỏ dần tính bình quân bao cấp, khuyến
khích làm giàu bằng việc phát huy các nguồn lực về vốn, trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, sức lao động, kinh nghiệm làm ăn… Theo ý nghĩa này thì chênh lệch
giàu nghèo có tăng lên cũng không có gì đáng sợ, bởi nền kinh tế mà nước ta lựa
chọn là nền kinh tế thị trường.
Hai là, chênh lệch giàu, nghèo tăng tương đối nhanh trong thời gian qua (bình
quân mỗi năm tăng thêm gần 0,4 lần) và có xu hướng còn cao hơn trong thời gian
tới. Đây mới là điều đáng lưu ý, vì nền kinh tế thị trường mà nước ta lựa chọn là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, chênh lệch giàu, nghèo của nước ta tuy còn thấp hơn nhiều nước, nhưng nếu
xét từ xuất phát điểm của một nước vừa mới chuyển đổi từ cơ chế hiện vật mang
tính chất bình quân sang cơ chế thị trường thì không thể không đáng quan tâm.
Nước Mỹ đã trải qua hơn 200 năm phát triển tư bản và hiện đứng hàng đầu thế
giới về kinh tế, nhưng chênh lệch cũng mới chỉ có 9,1 lần; tài sản của tỉ phú Mỹ
chỉ chiếm 6,1% GDP. Nước Nga mới chuyển đổi 15 năm, nhưng tỉ phú Nga đã
chiếm tới 40% GDP. Ở Việt Nam, mới qua 20 năm đổi mới mà chênh lệch đã lên
tới 9,1 lần là điều không thể coi thường.