Tài liệu Chuyên đề về tiền tệ và chính sách tiền tệ của nhà nước - Pdf 10

Chuyên đề về
tiền tệ và chính
sách tiền tệ của
nhà nước
1
MỤC LỤC
Chuyên v ti n t và chính sách ti n t c a nhà n cđề ề ề ệ ề ệ ủ ướ 1
M C L CỤ Ụ 2
Phát hành ti n tề ệ 20
Ngân hàng c a các t ch c tín d ngủ ổ ứ ụ 20
Ngân hàng c a Chính phủ ủ 21
LỜI MỠ ĐẦU
I. Khái quát chung
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc
điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung. Kinh tế học vĩ mô và
kinh tế học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học. Trong khi kinh tế học
vi mô chủ yếu nghiên cứu về hành vi của các cá thể đơn lẻ, như công ty và cá nhân
người tiêu dùng, kinh tế học vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như
2
GDP, tỉ lệ thất nghiệp, và các chỉ số giá cả để hiểu cách hoạt động của cả nền kinh
tế.
Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực tổng quát nhưng có hai khu vực nghiên cứu điển
hình:
• Nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập
quốc gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế), và
• Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ
giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát,
tiết kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia, các chính sách ổn
định kinh tế vĩ mô của chính phủ. Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra
được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá

- Các hình thái tiền tệ
- Các chức năng của tiền tệ
- Cung tiền tệ
- Cầu tiền tệ
- Tác động của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế
- Cân bằng trên thị trường tiền tệ
- Tìm hiểu khái quát về ngân hàng
- Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
- Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
- Chính sách tiền tệ năm 2010
1. Tìm hiểu khái quát về tiền tệ
a. Tính chất và nguồn gốc của tiền tệ
 Tính chất của tiền tệ
Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, tiền tệ (hay tiền trong lưu thông)
phải có các tính chất cơ bản sau đây:
• Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ,
người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ
không được coi là tiền nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương
phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm
phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi.
• Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết,
người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Chính vì thế
4
những tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành được in ấn trông
không giống bất cứ một tờ giấy chất lượng cao nào khác.
• Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao
cho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh
toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính
chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng
đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận

nhẹ nhất từ trước đến nay. Chúng được sử dụng trên đảo Santa Cruz. Đá là loại
tiền nặng nhất từ trước đền giờ. Chúng được sử dụng trên đảo Yap ở Thái Bình
Dương. Có hòn nặng trên £500 (1£ = 0,4536 kg). Loại tiền nhỏ nhất từ trước đến
5
nay được phát hiện ở Hy Lạp. Tiền được làm bằng kim loại, nhưng có kích thước
nhỏ hơn hạt táo. Không ai biết chính xác người ta bắt đầu sử dụng tiền dưới những
hình thức đồng tiền kim loại từ khi nào. Các nhà khảo cổ đã phát hiện những
đồng tiền kim loại có từ năm 600 trước công nguyên, vì thế ta biết chúng đã được
lưu hành trong suốt một thời gian dài. Lúc đầu người ta sử dụng những kim loại
quý như vàng và bạc để chế tiền xu. Họ in hình người hoặc (con) thú trên mỗi
đồng tiền để xác định giá trị của nó. Trong những năm 1200, người Trung Quốc
đúc những đồng tiền bằng sắt. Những đồng tiền này giá trị chẳng là bao, cho nên
người dân phải sử dụng một số lượng lớn khi mua hàng. Do đó rất bất tiện khi
phải mang một số lượng lớn những đồng tiền sắt nặng nề nên chính phủ đã cho in
những giấy biên nhận. Người ta mang các biên nhận này đến ngân hàng để đổi ra
tiền xu. Đây là ví dụ đầu tiên ta có được về việc phát hành và sử dụng tiền giấy.
Ngày nay, hầu hết các nước đều sử dụng cả tiền xu lẫn tiền giấy. Ở Mỹ, các loại
tiền giấy đều có cùng kích cỡ và màu sắc như nhau. Chẳng hạn, tờ một đô la có
cùng kích cỡ và màu sắc y như tờ một trăm đô la. Ở nhiều quốc gia khác, tiền giấy
được in dưới nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau. Tờ có kích thước nhỏ hơn thì có
giá trị thấp hơn. Việc này tạo điều kiện cho chúng ta chỉ cần nhìn thoáng qua là có
thể xác định được giá trị của chúng. Tất cả những sự kiện này khiến lịch sử tiền tệ
trở thành một công cuộc nghiên cứu lý thú.
b. Khái niệm tiền tệ
Tiền tệ là bất cứ một phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán
cho việc giai hàng hoặc để thanh toán nợ nần.
Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng
tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một
quốc gia hay nền kinh tế. Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ còn được gọi là "tiền lưu
thông". Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà

Một hàng hóa nào đó giữ vai trò làm vật trung gian trao đổi được gọi là hóa tệ.
Hóa tệ bao gồm: Hóa tệ không kim loại và hóa tệ bằng kim loại
 Hóa tệ không kim loại
Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển. Sự trao đổi không còn
ngẫu nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn. Trao đổi đã vượt khỏi cái
khung nhỏ hẹp một vài hàng hoá, giới hạn trong một vài địa phương. Sự trao đổi
ngày càng nhiều hơn đó giữa các hàng hoá đòi hỏi phải có một hàng hoá có tính
đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận lợi
trong trao đổi, và bảo tồn giá trị. Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng,
nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể ăn. Thổ dân ở các bờ
biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền. Lúa mì và đại
mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines.
Trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền…
Tiền tệ bằng hàng hoá có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục
vụ trao đổi như không được mọi người mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không
đồng nhất … do đó dẫn đến việc sử dụng hoá tệ bằng kim loại.
Hóa tệ bằng kim loại
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển kèm theo sự mở rộng phân công
lao động xã hội, đồng thời với sự xuất hiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế
7
thường xuyên, kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bậc trong vcai trò của vật
ngan giá bởi những thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến, Những đồng tiền bằng
kim loại: đồng, chì, kẽm, thiếc, bạc, vàng…xuất hiện thay thế cho các hóa tệ
không kim loại.
- Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu,
quyết định đến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại quý.
- Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷ XIII
đưa đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi.
- Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cung ứng.
- Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trong thời gian

Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền
giấy. Nhân dân ai cũng phải nộp tiền đồng vào cho Nhà nước, cứ 1 quan tiền đồng
đổi được 2 quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất bại vì nhà
Hồ sớm bị lật đổ, dân chưa quen sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định quan hệ
giữa tiền đồng và tiền giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn).
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các
nước Châu Âu. Từ đầu thế kỷ thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung
cấp cho những thân chủ gởi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm
nhiều tờ nhỏ.Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân
hàng.Trong thanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận.Sau
đó một ngân hàng Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để
cho vay.Từ đó ngân hàng Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự
có.Với nhiều loại tiền giấy được phát hành, lưu thông tiền tệ bị rối loại vì nhiều
nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại cho dân chúng. Do đó, vua chúa các
nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa là vương quyền và mặt khác
việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn. Vương quyền các nước Châu Âu
thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy với những điều kiện
nhất định:
+ Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát
hành.
+ Điều kiện dự trữ vàng là đảm bảo: ban đầu là 100%, sau còn 40%.
+ Điều kiện phải cho Nhà nước vai không tính lãi khi cần thiết.
- Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không
thể đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.
Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:
+ Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng
để đổi cho dân chúng.Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền
giấy bất khả hoán, nước Pháp năm 1936
+ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọi người đua
nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả nợ

đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người.
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn
nhất định:
10
- Được chấp nhận rộng rải: nó phải được con người chấp nhận rộng rải trong
lưa thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng
hóa mới đồng ý đổi hàng lấy tiền;
- Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc trao đổi giữa các hàng hóa
có giá trị khác nhau;
- Dễ vận chuyển;
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;
- Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong
trao đổi;
- Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngan
nhau.
b. Chức năng đơn vị đánh giá
Chức năng thứ hai của tiền là đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm
đơn vị để đo giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Trong chức năng này
giá trị của các hàng hóa được biểu hiện nằmg tiền. Nhờ đó mà việc trao đổi hàng
hóa được diển ra thuận lợi hơn.
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo ra cơ sở thuận lợi cho việc sữ dụng tiền làm
phương tiện trao đổi. Nhưng củng chính trong quá trình trao đổi, sử dụng tiền làm
trung giang, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán tức là ngay từ khi mới
ra đời, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi đã dẩn tới việc dùng tiền làm
đơn vị đánh giá. Đầu tiên những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện
giá trị hàng hóa củng có giá trị như các hàng hóa khác. Cơ sở cho việc tiền biểu
hiện giá trị các hàng hóa khác chính là tiền củng có giá trị sử dụng như các hàng
hóa khác (theo phân tích của C.Mác về sự phát triển của các hình thái biểu hiện
giá trị hàng hóa: giá trị hàng hóa được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hóa
đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy, trong thời đại ngày nay,

Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm
chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại
hình
thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương
tiện
mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của

hội.
Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với
nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và
lưu
thông hàng hoá.
4. Cầu tiền tệ
12
Việc nghiên cứa cầu tiền tệ luôn được nhà kinh tế quan tâm, và nó có thể cho
những gợi ý về hoạch định chính sách của những người chịu trách nhiệm điều
hành nền kinh tế.
a. Các loại tài sản tài chính
-Tài sản giao dịch (thanh khoản) không tạo ra thu nhập, nhưng được dùng để
thanh toán khi mua hàng hóa và dịch vụ…
-Các tài sản tài chính khác tạo ra thu nhập (tín phiếu, cổ phiếu, sổ tiết kiệm…)
nhưng không thể dùng trực tiếp để mua hàng hóa.
Hầu hết các hộ gia đình và doanh nghiệp giữ của cải của họ dưới dạng kết hợp
cà 2 loại tài sản này. Trong phần này, mọi tài sản giao dịch được gọi là tiền và mọi
tài sản khác có thu nhập được gọi chung là trái phiếu.
b. Mức cầu về tiền
Khối lượng tiền cần để chi tiêu thường xuyên, đều đặn cho nhu cầu tiêu dùng
cá nhân và kinh doanh sản xuất…gọi là mức cầu về tiền (giao dịch).
Khi giá cả tăng lên, mức cầu về tiền danh nghĩa cũng tăng theo để đảm bảo
thu mua đủ khối lượng hàng hóa cần thiết đã dự định, như vậy, thực chất của mức

a. Cung ứng tiền của Ngân hàng Trung ương
NHTƯ phát hành tiền mặt chủ yếu dưới hình thức giấy bạc ngân hàng. Quá
trình này được thực hiện khi NHTƯ cho vay đối với các tổ chức tín dụng, cho vay
đối với kho bạc Nhà nước, mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối hoặc mua
chính khoáng trong nghiệp vụ thị trường mở khối lượng tiền phát hành của NHTƯ
được gọi là tiền mặt hay cơ số tiền (M
B
) bao gồm hai bộ phận: tiền mặt trong lưa
hành (C) và tiền dự trữ của các ngân hàng kinh doanh (R) trong đó chỉ có bộ phận
tiền mặt ngoài ngân hàng mới được sữ dụng, đáp ứng cho nhu cầu về tiền.
b. Cung ứng tiền của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác tạo tiền chuyển
khoản (D) theo cơ chế tiền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Khối lượng tiền do
các tổ chức này cung ứng được tạo ra trên cơ sở lượng tiền dự trữ nhận từ NHTƯ
và các hoạt động nhận tiền gửi cho vay và thanh toán không dùng tiền mặt của hệ
thống ngân hàng. Khi NHTƯ phát hành tiền đưa vào hệ thống ngân hàng, các
ngân hàng thương mại sử dụng số tiền dự trữ này để cho vay. Khi các doanh
nghiệp hoặc dân cư vay khoản tiền đó nó được sử dụng để thanh toán chi trả và có
thể một phần hoặc toàn bộ được kí gửi trở vào một ngân hàng với hinh thức tiền
gửi không kì hạn,ngân hàng lại tiếp tục có vốn để cho vay. Như vậy, từ lượng tiền
14
dự trữ ban đầu, hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động của mình có thể làm
hình thành lượng tiền gửi không kì hạn rất lớn. số tiền này được các doanh nghiệp,
dân cư sữ dụng để thanh toán qua ngân hàng, vì vậy nó được tính là một bộ phận
của khối tiền giao dịch trong nền kinh tế, được sữ dụng để đáp ứng nhu cầu về
tiền.
c. Mức cung tiền tệ
Khối lượng tiền giao dịch do NHTƯ và các tổ chức tín dụng cung ứng cho
nền kinh tế đáp ứng cho nhu cầu sữ dụng tiền bao gồm hai bộ phận chính là tiền
mặt trong lưa hành (C) và tiền gửi không kì hạn (D) . Tiền dự trữ của các ngân

E
: Tỉ lệ dự trữ dư thừa của các NHTM
Mặc dù có rất nhiều chủ thể có tác động tới mức cung ứng tiền nhưng NHTƯ
vẩn có thể sữ dụng các công cụ của mình để điều chỉnh mức cung tiền theo ý
muốn chủ quan để thực hiện chính sách tiền tệ.
6. Tác động của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế
15
Sự phân tích cung cầu tiền tệ cho thấy, trong cơ chế thị trường bất kì sự thay
đổi nào của mức cung tiền tệ cũng sẽ được thị trường điều tiết để có sự cân đối
giữa mức cung tiền tệ và mức cầu tiền tệ. Sự điều chỉnh đó không chỉ đơn thuần
gây ra những thay đổi trong mức giá chung mà còn có tác động tới nhiều hoạt
động của nền kinh tế. Để thấy rõ hơn vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế, chúng ta
đi vào xem xét tác động của tiền tệ tới các hoạt động kinh tế.
Theo mô hình tổng cung-tổng cầu (AD - AS), sự thay đổi của AD dẩn đến sự
thay đổi của sản lượng và giá cả. Khi tổng cầu tăng sẽ làm tăng sản lượng và mức
giá cả, ngược lai việc giảm AD có thể dẩn tới sự sụt giảm sản lượng và làm lạm
phát giảm.
Sự tác động của tiền tệ tới hoạt động kinh tế được thể hiện thông qua sự tác
động tới các bộ phận của tổng cầu bao gồm những tác động tới chi tiêu đầu tư, chi
tiêu tiêu dùng và buôn bán quốc tế.
a. Chi tiêu đầu tư
Sự thay đổi của Ms tác động tới I thông qua:
- Chi phí đầu tư.
Việc thu hẹp của mức cung tiền tệ của NHTƯ (Ngân hàng Trung ương) sẽ đẩy
lãi suất tăng lên, chi phí tài trợ cho các hoạt động đầu tư có thể tăng lên dẩn tới
giảm lượng đầu tư, AD suy giảm làm giảm sản lượng và giá cả.
Ngược lại khi NHTƯ mở rộng tiền tệ, lãi suất cân bằng của thị trường giảm
đi, chi phí đầu tư rẻ hơn có thể mở rộng đầu tư, tổng cầu tăng làm tăng sản lượng
và giá cả. Tuy nhiên lãi suất không thể đại diện đầy đủ cho chi phí đầu tư nên
những tác động này có thể không rỏ ràng.

- Ảnh hưởng tới thị trường cổ phiếu
Chi tiêu tiêu dùng cho hàng hóa lâu bền và dịch vụ của dân cư phụ thuộc rất
lớn vào thu nhập cả đời của họ chứ không phải chỉ là thu nhập hiện tại. Khi giá cổ
phiếu tăng lên, giá trị tài sản tài chính tăng lên làm thu nhập cả đời của người tiêu
dùng và tiêu dùng sẽ tăng lên.
Cơ chế tác động này như sau:
M ↑→ giá cổ phiếu ↑→ thu nhập cả đời ↑→ tiêu dùng ↑→ AD ↑→Y,P ↑
Mặt khác, khi giá cổ phiếu tăng, giá trị tài sản tài chính tăng, người tiêu dùng
có khả năng tài chính đảm bảo hơn sẽ đánh giá những khó khăn tài chính ít xảy ra
hơn. Việc chi tiêu về hàng hóa lâu bền của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi
những khó khăn tài chính có thể xảy ra trong tương lai. Khi những khó khăn này
xảy ra, họ sẽ phải bán các tài sản của mình để tăng thên tiền mặt, việc bán các tài
sản tài chính như cổ phiếu sẽ thuận lợi cho việc bán các hàng hóa tiêu dùng lâu
bền như vật dụng tiêu dùng, phương tiện đi lại, nhà ở…Do vậy, giá cổ phiếu tăng
có thể khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn cho hàng tiêu dùng lâu
bền.
17
Cơ chế tác động sẽ là:
M ↑→ giá cổ phiếu ↑→ giá trị tài sản tài chính ↑→ khả năng khó khăn tài
chính ↓ → chi tiêu nhà ở, hàng tiêu dùng lâu bền ↑→ AD ↑→ Y,P ↑
c. Xuất khẩu ròng
Trong bối cảnh nền kinh tế mở của các quốc gia và việc áp dụng chế độ tỉ giá
thả nổi, sự ảnh hưởng này thông qua tác động vào tỉ giá hối đoái. Khi lãi suất
trong nước giảm (lạm phát chưa thay đổi) tiền gửi bằng nội tệ sẽ hấp dẫn hơn so
với tiền gửi ngoại tệ, kết quả là nhu cầu về ngoại tệ cao hơn so với nội tệ làm cho
giá đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ và làm cho hàng hóa nội địa rẻ hơn so với
hàng ngoại, xuất khẩu ròng tăng lên vì vậy tổng cầu tăng lên.
 Như vậy: Sự thay đổi của mức cung tiền tệ có tác động tới các hoạt động kinh
tế thông qua các tác động tới những bộ phận của tổng cầu như chi tiêu đầu tư, chi
tiêu tiêu dùng, xuất khẩu ròng. Tuy nhiên, sự tác động này mạnh hay yếu còn tùy

.
Sự dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng
của thị trường tiền tệ.
Khi NHTƯ tác động đến mức cung tiền, giả sữ là bán trái phiếu hoặc tăng tỉ lệ
dự trữ bắt buộc dẩn đến lượng cung tiền giảm xuống.
Việc kiểm soát tiền tệ trong thực tế phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô thật
không đơn giản. Có hai cánh kiểm soát, hoặc là kiễm soát mức cung tiền thì lãi
suất thị trường sẽ giãm xuống bởi tác động của cầu, hoặc kiểm soát lãi suất (ổn
định lãi suất) thì buộc phải để lực lượng thị trường quyết định mức cung tiền. Cả
hai cách điều gặp những khó khăn nhất định như kiểm soát lượng tiền cơ sỡ (H)
thì vấp phải vấn đề hạn chế tiền mặt và tín dụng gây khó khăn cho hoạt động
NHTM và các hoạt động giao dịch, khi kiểm soát lãi suất lại gặp khó khăn trong
nhận biết chính xác đường cầu tiền và sự dịch chuyển của nó… Việc lựa chọn
kiểm soát mức cung tiền hay kiểm soát lãi suất tùy thuộc vào chính sách tiền tệ
của mỗi nước.
8. Tìm hiểu khái quát về ngân hàng
Hệ thống ngân hàng nước ta là hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó ngân
hàng nhà nước làm nhiệm vụ của NHTƯ, còn các ngân hàng thương mại và các tổ
chức tín dụng hoạt động như là các ngân hàng trung gian thực hiện chức năng kinh
doanh.
-Ngân hàng Trung ương
-Ngân hàng thương mại
a. Ngân hàng Trung ương
19
Định nghĩa
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách
về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc
gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt
động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền,
kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các

Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến
cả hệ thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ
chức tín dụng đó để cứu nó. Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho
vay cuối cùng (hay người cho vay cứu cánh).
- Ngân hàng của Chính phủ
Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương là người quản lý tiền nong cho chính
phủ. Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung ương.
Tuy nhiên, ở một số nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc
đảm nhiệm.
Ngân hàng trung ương còn làm đại diện cho chinh phủ khi can thiệp vào thị
trường ngoại hối
b. Ngân hàng thương mại (NHTM)
 Định nghĩa
Ngân hàng thương mại là các tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiển gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán.
 Chức năng của ngân hàng thương mại
- Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay
chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân
hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một
cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở
mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an
toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…).
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và
độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết
kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn,
thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán
được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống

Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là
10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến
người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế
họ phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan. Và số tiền đó
đến tay người được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B,
ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới là 900.000. Dự trữ bắt buộc là
10%, số tiền có thể cho vay là 810.000. Số tiền này được cho người cần vay vay,
người cho vay chi trả các khỏan đến người được chi trả, người được chi trả đem số
22
tiền được trả gửi vào ngân hàng C. Lúc này ngân hàng C sẽ có số tiền gửi mới là
810.000. Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng 0. Người
ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là 10.000.000,
lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000. Và do cách
thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp.
- Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng của NHTM, nó có ýa nghĩa quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Thực hiện chức năng này, NHTM đã huy
động nguồn vốn tạm thời nhàn rổi của các tổ chức kinh tế, cơ quan, đoàn thể, tiền
tiết kiệm của dân cư,… và sữ dụng cho vay nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu
vốn của nền kinh tế.
- NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có điều
kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp, nên có
thể thực hiện thêm một số dịch vụ khác kèm theo như: tư vấn tài chính, đầu tư, giữ
hộ giấy tờ, chứng khoán, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh
nghiệp, …để được hưởng hoa hồng, sẽ vừa tiết kiệm được chi phí, vừa đạt hiệu
quả cao.
9. Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
a. Vai trò của NHTƯ trong điều tiết vĩ mô
 Điều tiết khối lượng tiền trong lưa thông cho phù hợp với yêu cầu ổn

hai công cụ chủ yếu: mức cung tiền hoặc lãi suất.
Trừ những tình huống đặc biệt (như đang có lạm phát cao …) việc gia tăng
cung tiền thực tế sẽ làm tăng sản lượng cân bằng và làm giảm lãi suất cân bằng
(chú ý rằng mức cung tiền thực tế vẩn có thể bị suy giảm nhiều ngay cả khi NHTƯ
không có tác động nào đến mức cung tiền danh nghĩa).
Tring quản lý, chính sách tiền tệ thường phải theo dõi chặt chẽ sự chuyển biến
của thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ để xác định những biện pháp, chính
sách phù hợp. Vd, khi thị trường hàng hóa có sự biến động, có thể chọn mục tiêu
ổn định có thể chọn mục tiêu ổn định mức cung tiền là chủ yếu. Lãi suất nhất thời
phải biến độngvà nhờ đó có thể điều chỉnh thị trường hàng hóa, đưa nó về trạng
thái cân bằng. Khi thị trườg hàng hóa phát triển tương đối ổn định nhưng cầu tiền
có sự biến động, có thể tác động xấu đến trạng thái cân bằng sản lượng, thì có thể
lựa chọn mục tiêu ổn định lãi suất v.v
Chính sách tiền tệ của một quốc gia cơ bản có hai loại:
 Chính sách mở rộng tiền tệ
24
Còn được gọi là chính sách nới lỏng tiền tệ. Chính sách này được áp dụng
trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng. Trong tình hình
này, chính sách nới lỏng tiền tệ làm tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, mở
rông đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Chính
sách tiền tệ mở rộng đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống suy thoái.
 Chính sách thắt chặt tiền tệ
Còn được gọi là chính sách đóng băng tiền tệ. Loại chính sách này được áp
dụng khi nền kinh tế có sự phát triển thái quá, đồng thời lạm phát ngày càng gia
tăng. Chính sách thắt chặt tiền tệ đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống lạm
phát.
c. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
- Ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định tỉ giá hối đoái
Thực chất của mục tiêu này là kiểm soát lạm phát để bảo vệ giá đối nội và giá
đối ngoại của đồng tiền quốc gia. Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status