Đổi mới công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta potx - Pdf 19


Đổi mới công tác kế
hoạch trong nền kinh tế
thị trường định hướng
XHCN ở nước ta 
Đổi mới công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta II. Nhà nước phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các
cấp một cách hợp lý.
1. Nguyên tắc quản lý, phân công trách nhiệm
1.1. Tách bạch chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và chức năng sản

bớt khối lượng cho cấp trên khỏi phải trực tiếp giải quyết những việc sự vụ. Việc
phân cấp phải gắn trách nhiệm với quyền hạn rõ ràng và bảo đảm tính thống nhất
từ trung ương đến cơ sở.
- Phân cấp còn được hiểu là việc chuyển giao nhiệm vụ, thẩm quyền từ cơ quan
quản lý nhà nước cấp trên xuống cơ quan quản lý cấp dưới nhằm đạt mục tiêu
chung là nâng cao hiệu quả quản lý.
- Phân định rõ quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà
nước của mỗi cấp chính quyền đối với doanh nghiệp nhà nước tuỳ theo quy mô,
đặc điểm, tính chất và tầm quan trọng của mỗi loại hình doanh nghiệp nhà nước.
- Chính phủ quản lý thống nhất thể chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi và
quyết định hỗ trợ trong những trường hợp cần thiết đối với doanh nghiệp nhà nước
và các tổ chức kinh tế khác. Chính quyền cấp tỉnh quyết định việc sắp xếp lại
doanh nghiệp nhà nước do địa phương trực tiếp quản lý theo đề án tổng thể đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu nhà
nước đối với doanh nghiệp nhà nước trực thuộc.
- Phân cấp quản lý nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp
chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm
quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng,
hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.
2. Nội dung phân cấp quản lý nhà nước:
Quản lý nhà nước đòi hỏi sự phân công lao động để đạt được mục tiêu và hiệu quả
quản lý, cần bám sát và tiến hành các bước sau đây:
- Khảo sát đánh giá thực trạng phân cấp quản lý nhà nước với các nội dung: đánh
giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tế áp dụng các quy định đó trong
việc phân cấp giữa trung ương - địa phương và giữa các cấp địa phương với nhau;
- Phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất cập trong quản lý nhà nước
về lĩnh vực kinh tế cụ thể;
- Đề xuất nội dung phân cấp giữa các chủ thể quản lý theo tinh thần xác định rõ
địa chỉ phân cấp và trách nhiệm của từng chủ thể. Việc đề xuất nội dung phân cấp
có thể liên quan đến việc chuyển giao thẩm quyền từ trung ương cho địa phương,

- Phải có đội ngũ cán bộ quản lý được đào tạo cơ bản và hệ thống theo một
chương trình chuẩn, có năng lực quản lý.
- Trình độ dân trí phát triển. Nếu chính trị không ổn định, tính thống nhất dân tộc
và trình độ giác ngộ của dân chúng không cao thì phân quyền là mầm mống của
chia rẽ, cát cứ.
3. Thực trạng tổ chức quản lý kinh tế Việt Nam hiện nay:
Về mặt tổ chức quản lý doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang có những
tồn tại, bất hợp lý chủ yếu sau đây:
A/ Chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, mỗi cấp hành chính nhà
nước trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, cụ thể là:
- Việc tổ chức quản lý, phân công, phân cấp xây dựng và quản lý chiến lược, quy
hoạch phát triển các loại hình doanh nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ còn nhiều
bất hợp lý, tùy tiện. Hiện nay Bộ kế hoạch và Đầu tư, các Bộ quản lý ngành và các
cấp chính quyền địa phương đều có nhiệm vụ xây dựng và quản lý chiến lược, quy
hoạch nhưng chưa rành mạch, cụ thể, có chỗ trùng chéo, có chỗ bỏ sót, có chổ quả
cụ thể, có chỗ lại quá chung chung. Kết quả là các doanh nghiệp được xây dựng và
phát triển tùy tiện, nhất là các DNNN, không phù hợp với nhu cầu thực tế của thị
trường phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của từng địa phương, từng ngành; dẫn đến
hậu quả tất yếu là sự lãng phí, kém hiệu quả xảy ra tràn lan và rất nghiêm trọng ở
khắp nơi.
Một yếu kém lớn trong công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển doanh
nghiệp hiện nay là chưa tính đến đầy đủ sự kết hợp phát triển giữa 2 khu vực:
DNNN và doanh nghiệp ngoài nhà nước trong từng ngành, từng địa phương, mà
mới chỉ quan tâm đến khu vực DNNN. Do vậy việc phát triển doanh nghiệp đang
được chi phối bởi 2 kênh tách rời nhau: doanh nghiệp ngoài nhà nước thì theo sự
điều tiết của thị trường tự do, còn DNNN thì theo ý muốn chủ quan của bộ máy
nhà nước ở Trung ương và địa phương. Có thể nói công tác quy hoạch chiến lược
hiện nay còn chưa tính đến đầy đủ sự tác động của các quy luật thị trường và còn
coi nhẹ khu vực ngoài nhà nước, do vậy sự phát triển của các doanh nghiệp hiện
còn rất tùy tiện, bất hợp lý, chưa có sự cân đối giữa các ngành, nghề, cũng như với

việc quản lý hoạt động thực tế của doanh nghiệp và việc thực hiện các nghĩa vụ
của doanh nghiệp có phần đang bị bỏ trống vì chưa rõ đây là chức năng, trách
nhiệm chính của cơ quan nào. Do vậy hiện có nhiều doanh nghiệp “ma”, có thành
lập mà không hoạt động, không có trụ sở, không có giao dịch tại ngân hàngv.v
Mặt khác đang có sự không rõ về trách nhiệm quản lý cụ thể của mỗi cấp chính
quyền đối với các doanh nghiệp đang hoạt động.
Trong khi đó, đối với DNNN, thì hiện đang vẫn tiếp tục duy trì chế độ Bộ chủ
quản và cấp hành chính chủ quản, tức là vẫn có doanh nghiệp thuộc Bộ này, bộ
kia, thuộc UBND tỉnh, Thành phố Trên thực tế, các cơ quan nhà nước vẫn còn
can thiệp trực tiếp vào nhiều việc cụ thể của quản lý kinh doanh, vẫn còn thăm hỏi
doanh nghiệp nhiều và có khi không đúng chức năng, nhiệm vụ
Như vậy đang tồn tại hai khuynh hướng trái ngược nhau trong việc thực hiện chức
năng quản lý việc thực thi chính sách luật pháp của các cơ quan nhà nước đối với
doanh nghiệp là : với DNNN thì quá cụ thể, tới mức không cần thiết trong khi với
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác thì lại quá buông lỏng, mới chỉ
chỉ quản lý được đầu vào (khi thành lập doanh nghiệp), còn việc hậu kiểm còn
đang còn nhiều hạn chế .
Một vấn đề nữa đang tồn tại trong quản lý doanh nghiệp là việc tổ chức thực hiện
sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và theo lãnh thổ còn nhiều lúng túng, chồng
chéo mang nguyên nhân chủ yếu là do chưa đủ rõ, đủ cụ thể về nội dung, nhiệm
vụ, phương thức phối hợp mà về mặt lý luận chưa được giải quyết. Điều đó dẫn
đến hậu quả hai mặt : một là có sự tranh chấp nhiệm vụ hoặc đùn đẩy trách nhiệm
giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương và hai là gây khó khăn,
phiền hà cho doanh nghiệp.
- Công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước đối với việc thực thi luật
pháp, chính sách của các doanh nghiệp hiện còn khá rắm rối, chưa rõ ràng, mạch
lạc về nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa các ngành, các cấp; tình trạng
chồng chếo, dẫm đạp lẫn nhau trong khi có những chỗ lại bỏ sót, lỏng lẻo còn tồn
tại khá phổ biến, đang gây nên nhiều phiền toái cho doanh nghiệp và suy giảm
hiệu lực, hiệu quả qủn lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

- Các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương thực hiện quản lý
doanh nghiệp theo chức năng của mình , được pháp luật quy định. Nhưng cần tiếp
tục rà soát lại chức năng thẩm quyền quản lý doanh nghiệp của các Bộ ngành và
UBND các cấp để khắc phục những chồng chéo, hoặc bỏ sót ; phân công, phân
cấp rõ ràng, mạch lạc cho các cấp, các ngành trong việc thực hiện từng nội dung,
nhiêm vụ của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Đổi mới mạnh mẽ chức năng, nhiệm vụ của Ngành Kế hoạch và đầu tư và Ngành
tài chính trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp về
lĩnh vực quy hoạch, chiến lược và tài chính- ngân sách, phù hợp với thể chế kinh
tế thị trường, xoá bỏ cách quản lý kế hoạch và tài chính theo cơ chế cũ, mang nặng
tính chủ quan, gò bó, cứng nhắc, cơ chế xin - cho.Nghiên cứu để sắp xếp lại về
mặt tổ chức sao cho có sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa 2 lĩnh vực hoạt động kế hoạch
và tài chính, vốn có liên quan trực tiếp và chặt chẽ với nhau.
- Điều chỉnh lại chức năng, thẩm quyền quản lý doanh nghiệp của các Bộ quản lý
ngành (Công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, ) theo hướng tập
trung vào việc xây dựng, ban hành các chính sách cơ chế, các tiêu chuẩn định mức
kinh tế - kỹ thuật cần thiết của ngành; thực hiện chức năng dịch vụ, hỗ trợ, tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với
hoạt động của doanh nghiệp.
- Kiên quyết loại bỏ những nhiệm vụ, thẩm quyền của các Bộ theo chế độ Bộ chủ
quản đối với DNNN để xoá bỏ tình trạng con đẻ (DNNN) và con nuôi (doanh
nghiệp ngoài nhà nước) và xoá bỏ sự can thiệp tuỳ tiện vào hoạt động quản lý sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp; đồng thời còn góp phần hạn chế tình trạng
tham nhũng trong bộ máy quản lý nhà nước.
b/ Tổ chức lại cơ quan đăng ký thành lập doanh nghiệp, theo hướng là một cơ
quan độc lập, tổ chức theo ngành dọc, có thể trực thuộc một Bộ nào đó nhưng hoạt
động có tính chất độc lập về chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức nhân sự.
c/ Tăng cường các hoạt động dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp;Tách các tổ chức thực
hiện chức năng cung ứng dịch vụ công cho doanh nghiệp khỏi các cơ quan quản lý
nhà nước để hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự

là vi phạm "luật chơi chung" quy định là không phân biệt đối xử, nhất là đối với
những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ triền miên, đối xử công bằng và bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế, và các doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo
nguyên tắc hạch toán kinh doanh;
2/ Doanh nghiệp nhà nước cũng không thể hội nhập được nếu không được tự chủ
hạch toán kinh doanh và kinh doanh không có hiệu quả, bởi vì hiện nay trong số
5.429 doanh nghiệp nhà nước, tuy 71,1% báo cáo có lãi nhưng chỉ có 40% là có
hiệu quả nếu tính thêm các yếu tố như thời gian kéo dài, lượng lỗ lãi, tỷ lệ khấu
hao;
3/ Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng khó có điều kiện để vươn lên dù làm
ăn có hiệu quả vì bị phân biệt đối xử, đặc biệt trong vấn đề tiếp cận các nguồn vốn,
vay tín dụng, mặt bằng sản xuất kinh doanh
Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục tăng cường cải cách, đổi mới một cách toàn diện
các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính tự chủ, hiệu quả và khả năng
cạnh tranh của những doanh nghiệp này, góp phần thực hiện chủ trương kinh tế
nhà nước đóng vai trò chủ đạo, đồng thời tạo thuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế trong những năm tới. Theo đó, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp
đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo các hướng sau
đây:
Thứ nhất, về số lượng doanh nghiệp, xây dựng lịch trình hằng năm giảm bớt số
lượng doanh nghiệp, lĩnh vực và ngành/nghề hoạt động của các DNNN, trước mắt
phấn đấu chỉ còn các doanh nghiệp công ích, các tổng công ty và các doanh
nghiệp độc lập có ý nghĩa quan trọng. Các DNNN chỉ nên tập trung hoạt động
trong các lĩnh vực, ngành/ nghề then chốt mà Nhà nước cần nắm hoặc tư nhân
không có khả năng làm, như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, một số ngành công
nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng và công nghiệp công nghệ cao.
Thứ hai, về hình thức sắp xếp, thực hiện cổ phần hóa hoặc đa dạng hóa sở hữu ở
các DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo
thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả; mở rộng việc bán cổ
phần cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thực hiện việc bán, khoán, cho thuê

từ tập hợp những cá nhân và tổ chức có lợi ích tương đồng trong từng lĩnh vực,
ngành kinh tế, địa bàn hoạt động. Trong trường hợp lợi ích nhóm hài hòa với lợi
ích dân tộc thì nhóm lợi ích có tác động tích cực đến việc thúc đẩy tăng trưởng và
hiệu quả kinh tế. Ngược lại, bằng nhiều thủ đoạn từ vận động, thuyết phục, gây
sức ép về chính trị, viện cớ bảo vệ lợi ích dân tộc, cho đến mua chuộc bằng tiền
bạc …, nhóm lợi ích tìm cách bảo vệ lợi ích của mình bất chấp hiệu quả kinh tế –
xã hội của quá trình phát triển.
1. Lợi ích kinh tế
1.1. Bản chất, hệ thống và vai trò của lợi ích kinh tế:
+ Bản chất: Lợi ích kinh tế là những quan hệ kinh tế, phản ánh những nhu cầu,
những động cơ khách quan về sự hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các
hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định.
+ Đặc trưng của lợi ích kinh tế:
- Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ kinh tế và quy luật kinh tế.
+ Nó chỉ xuất hiện khi những người SX có mối quan hệ KT với nhau và là hình
thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ kinh tế.
+ Quy luật kinh tế chỉ có thể tác động thông qua sự hoạt động của con người mà
biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích.
-Lợi ích kinh tế vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan.
+ Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế mà quan hệ
kinh tế là khách quan.
+ Biến các tác động khách quan của quy luật kinh tế thành các động cơ hoạt động
của con người.
- Lợi ích kinh tế còn bao hàm trong nó mục đích và sự lựa chọn những phương
thức hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu khách quan của cuộc sống.
- Lợi ích kinh tế có tính lịch sử và tính giai cấp.
1.2. Vai trò của lợi ích kinh tế
- Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy mọi tiến bộ kinh tế.
- Có tác dụng củng cố hoàn thiện quan hệ sở hữu.
-Quan điểm lợi ích trước hết là quan điểm duy vật biện chứng coi cơ sở kinh tế là

kinh tế là đảm bảo cho công băng xã hội được thực hiện, nếu công bằng được đảm
bảo sẽ được một tổng hợp lực lớn nhất để phát triển SX được coi là chính sách
quan trọng nhất, cơ bản nhất.
- Để có chính sách kinh tế tối ưu, phải kết hợp các lợi ích đa dạng tạo thành hợp
lực.
+ Trên thực tế, việc kết hợp các lợi ích có 2 khâu cơ bản:
1. Phát hiện đúng các nhu cầu :
- vật chất
- tinh thần .
- chính trị
- kinh tế
- văn hoá
2. Tổ chức, lãnh đạo, quản lý, điều tiết các hoạt động SX, xã hội để từng bước thỏa
mãn các nhu cầu của các chủ thể trong sự ràng buộc xã hội, đặc biệt là ràng buộc
pháp luật ở những điều kiện cụ thể
" Nói lợi ích mà không nói nhu cầu là không nói gì cả, nói con người mà không
nói lợi ích là không nói gì cả”. Hê ghen
" Lý tưởng mà không gắn với lợi ích, lý tưởng bị bôi nhọ"
Ph.ăngghen
“Chính trị mà không có lợi ích, chính trị bị làm nhục”
Ph.Ăngghen
- Tổng hợp động lực là sự phát triển xã hội, triệt tiêu động lực làm tan rã xã hội.
2.Vai trò cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay.
2.1. Sự phát triển của các nhóm lợi ích: Trong những năm gần đây, ở nước ta đã
nổi lên nhiều vấn đề trong nền kinh tế như tình trạng thiếu điện năng, các tập đoàn
đua nhau mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều ngành nghề, các doanh nghiệp gây
áp lực với chính phủ để kéo dài bảo hộ mậu dịch; một số địa phương “phá rào”,
ban hành nhiều chủ trương vi phạm luật pháp của nhà nước, trái thẩm quyền; một
số Bộ sử dụng quyền và thế của mình vượt quá quy định của nhà nước. Những vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status