Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu về tốc độ tăng trưởng của nhà máy bia phần 3 - Pdf 19

Trang 39

của việc đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn
tổng Công ty. Điều này chứng tỏ quy mô kinh doanh của tổng Công ty đã không
ngừng phát triển.
Năm 1998 tổng chi phí của Công ty là 61.089 triệu đồng. So với năm 1998
tổng chi phí của tổng Công ty năm 1999 tăng 5,43%. Tỷ lệ tăng chi phí nhỏ hơn
tỷ lệ tăng doanh thu (5,43% < 6,31% ). Tổng chi phí năm 2000 là 68.928 triệu
đồng tăng 7,02% so với năm 1999. Tỷ lệ tăng chi phí nhỏ hơn tỷ lệ tăng doanh
thu (7,02% < 8,31%). Nhìn vào các con số ta thấy hoạt động kinh doanh của
Công ty là hợp lý, dẫn đến tỷ suất chi phí năm 1998 là 16,07% giảm xuống còn
15,94% năm 1999 (mức độ giảm 0,13%) và năm 2000 còn là 15,75% (mức độ
giảm 0,19%).
Nhìn chung, tỷ suất chi phí giảm dần nói lên Công ty đã quản lý và sử dụng
chi phí có hiệu quả, năm sau tốt hơn năm trước.
* Tình hình lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách.
Lợi nhuận của Công ty tăng 7,27% năm 1999 so với năm 1998 với số tiền
chênh lệch là 5.823 triệu đồng. Vào năm 2000, tăng 8,59% so với năm 1999 với
số tiền chênh lệch là 7.378 triệu đồng. Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận cũng tăng.
Năm 1998 tỷ suất lợi nhuận là 21,05%. Năm 1999 là 21,24% tăng 0,90%, năm
2000 là 21,29% tăng 0,24% . Lợi nhuận tăng là cơ sở trực tiếp để thúc đẩy việc
mở rộng hoạt động kinh doanh và bổ xung vào nguồn vốn tự có của Công ty.
Công ty bia Hà Nội luôn thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà
nước một cách đầy đủ góp phần xây dựng đất nước, không để xẩy ra tình trạng
trì trệ nộp thuế, chốn thuế. Năm 1998, Công ty nộp 207.206 triệu đồng tiền thuế.
Năm 1999 tổng Công ty nộp 220.718 triệu đồng, vượt 6,52% so với năm 1998
với số tiền chênh lệch là 13.512 triệu đồng. Năm 2000 nộp vượt 11,28% so với
năm 1999 với số tiền chênh lệch là 24.898 triệu đồng.
Qua phân tích cho thấy Công ty bia Hà Nội là một trong những doanh
nghiệp Nhà nước tích cực trong việc nộp ngân sách đối với Nhà nước, hoạt động
kinh doanh có hiệu quả cao và được Nhà nước tuyên dương là một trong những

thuần
Tr.
đồng
196.945 218.828 239.810 111,11

109,58
3.Tổng chi phí Tr.
đồng
61.089 64.407 68.928 105,43

107,02
4.Tỉ suất chi phí (%) 16,07 15,94 15,75 - -
5. Lợi nhuận Tr.
đồng
80.000 85.823 93.201 107,27

108,59
6.Tỉ suất lợi
nhuận
(%) 21,05 21,24 21,29 - -
7. Nộp ngân sách Tr.
đồng
207.206 220.718 245.616 106,52

111,28
8. Thu nhập BQ
ng/th
Đồng 1.600.00
0
1.700.00

Việt Nam bằng cách liên doanh với các Công ty bia của Việt Nam. Hiện nay, có
khoảng 11 Công ty bia liên doanh với tổng công suất là 600 triệu lít/năm. Còn lại
là của các doanh nghiệp Nhà nước và địa phương cung cấp.

Biểu số 5: Khả năng cung cấp của một số Công ty bia.
STT Tên đơn vị sản xuất Công suất hiện có
(triệu lít/năm)
Công suất dự kiến
năm 2001(triệu lít/năm)
1. Công ty bia Sài gòn 140 150
2. Công ty bia Hà Nội 50 100
3. Công ty bia Việt Nam 50 70
4. Công ty bia Tiền Giang 50 50
5. Công ty bia Khánh Hoà 25 30
6. Công ty bia Huế 30 30
7. Công ty bia Đông Nam á 50 50
Trang 43

8. Công ty bia Đà Nẵng 15 20
9. Nhà máy bia Đồng Nai 10 20
10. Nhà máy bia Hà Tĩnh 10 10
11. Nhà máy bia Quảng Ngãi 5 10
12. Nhà máy bia Hải Phòng 5 10
13. Nhà máy bia Quảng Ninh

5 10
14. Nhà máy bia khác 71 185
15. Tổng 516 750
Ngoài nhứng loại bia trong nước cung cấp, trên thị trường còn xuất hiện
một số loại bia nhập từ nước ngoài như: Miler, Corona (Mêxicô), Budweiser

. Thu nhập bình quân theo đầu người còn thấp, người dân chỉ chú trọng tới những
mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và bình dân, coi việc sử dụng bia là mặt hàng xa xỉ.
. Do thời tiết phân chia thành 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình thấp hơn ở
miền Nam. Việc sử dụng bia chỉ thích hợp khi thời tiết nóng, ấm áp. Vào mùa rét
sức tiêu thụ bia bị giảm hẳn.
Nhưng trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của cả nước, cũng
như các ngành công nghiệp nhẹ khác, công nghiệp bia phía Bắc cũng đã có
những bước phát triển đáng kể về quy mô cũng như độ lớn của thị trường. Mức
tiêu thụ của thị trường phía Bắc còn khá khiêm tốn, dao động ở mức 9
lit/người/năm. Dự bảo trong thời gian tới, thập niên đầu của thế kỷ XXI thị
trường bia ở khu vực phía Bắc sẽ có những biến động mạnh, tốc độ tiêu thụ sẽ
tăng 12-14 lit/người/năm.

2. Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường bia khu vực phía Bắc.
Thị trường bia ngày càng trở nên sôi động với sự tham gia của rất nhiều
hãng sản xuất và kinh doanh bia. Mặc dù, là một "ông lớn" trong nền công
nghiệp bia Việt Nam, cũng như khu vực phía Bắc. Nhưng Công ty bia Hà Nội
đang phải chịu nhiều sức ép từ phía các đối thủ cạnh tranh trong cũng như ngoài
nước. Trước kia trên thị trường bia phía Bắc chỉ có một số nhà máy bia lớn như:
Nhà máy bia Hà Nội và nhà máy bia Hải Phòng và thị trường bia phía Bắc
Trang 45

được coi là thị trường truyền thống, thị trường "bất khả xâm phạm" của Công ty
bia Hà Nội. Thì ngày nay ở mỗi tỉnh, thành lại có ít nhất một nhà máy hoặc cơ sở
sản xuất nhỏ lẻ khác. Hàng năm, các đơn vị này cung cấp cho thị trường hàng
tram triệu lít bia các loại với đủ các nhãn hiệu cũng như chất lượng khác nhau,
dưới nhiều hình thức mẫu mã, phục vụ cho mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tiêu thụ của bia Hà Nội.
Tuy nhiên đối thủ cạnh tranh chính của Công ty bia Hà Nội không phải là
các cơ sở sản xuất bia trong nước mà là các Công ty bia liên doanh. Các Công ty

loại
Nhãn
hiệu
Công suất hiện

(Tr.lít/năm)
Công nghệ
chủ yếu

1.
Công ty bia
Sài Gòn
+Bia hơi
+Bia chai
+Bia lon
. Sài Gòn
. 333
. Sài Gòn

140

Pháp

2.
Công ty bia
Việt Nam
+Bia chai
+Bia lon
.
Heineken

. Vinaguel

25

Pháp

Để chi tiết hơn cho việc xác định cường độ cạnh tranh ta có thể xem xét
các loại sản phẩm được phân chia trên từng đoạn thị trường sau:

Biểu số 7: Phân đoạn thị trường của sản phẩm bia

ST
T
Đoạn thị trường Các loại sản phẩm
1. Thị trường cao cấp Heineken
2. Thị trường trung Tiger, Carlsbeg, Sanmiguel, 333, Halida (lon)
Trang 48

cấp
3. Thị trường bình
dân
Hà nội, Halida (chai), BGI, Special, Kaiser, Huda,
Vina.

Có thể nói, ngoài một số khách hàng uống bia theo sở thích về nhãn mác
phần lớn người tiêu dùng bia thường khí nhận biết, đánh giá về chất lượng sản
phẩm của những loại bia có chất lượng gần tương đối giống nhau, vì vậy có thể
thay thế cho nhau (với những sản phẩm cùng đoạn thị trường ). Nhìn nhận về các
đối thủ cạnh tranh ta thấy, một thời bia BGI về special đã tung hành ở thị trường
phía Bắc song do không hợp lý với thị hiếu và không thể cạnh tranh nổi với các

thắng", vì vậy Công ty bia Hà Nội phải luôn bám sát, nắm chắc đường đi nước
bước của các đối thủ cạnh tranh để từ đó vạch hướng đi cho mình một cách có
lợi nhất nhằm mục tiêu tăng sức cạnh tranh của mình đối với sản phẩm của họ,
mà chỉ có tăng khả năng cạnh tranh thì mới có chỗ đứng vững chắc trên thị
trường. Để củng cố được thị trường của mình đã là một điều khó, còn mở rộng
thị trường của mình lại càng khó hơn. Do đó đòi hỏi sự nỗ lực, nhanh nhạy, năng
động và hiệu quả của đội ngũ cán bộ cũng như của toàn Công ty bia Hà Nội.

IV.Phân tích tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty bia Hà
Nội.

1. Phân tích tình tiêu thụ của Công ty bia Hà Nội.
1.1. Tình hình cung - cầu đối với bia Hà Nội (dựa vào biểu số 8).
* Cầu về bia Hà Nội
Vì hoạt động ở phần thị trường bình dân lên lượng khách hàng có nhu cầu
về bia của Công ty ngày càng lớn. Ngoài việc lựa chọn về giá, khách hàng còn
ưa thích hương vị đặc trưng của bia Hà Nội, uy tín của Công ty ngày càng lớn
khi xu hướng người tiêu dùng đang trở lại với "hàng quốc doanh" và là đối với
hàng công nghệ thực phẩm. Cầu về bia tăng mạnh qua các năm. Từ 44 triệu lít
năm 1996 đến 52 triệu lít năm 2000. Có một điểm đặc biệt đáng lưu ý là cầu về
Trang 50

bia các tháng trong năm lại tương đối ổn định. Hiện tượng này được giải thích
dưới hai góc độ:
+ Về phía Công ty: Do Công ty ký hợp đồng mua bán với các đại lý cấp I
theo năm, nên sản lượng được phân bố theo các tháng. Nếu vào tháng ế ẩm mà
các đại lý vẫn trung thành thì những tháng tiếp sau (tháng khan hiếm) đại lý sẽ
được nhận số hàng căn cứ vào tháng trước đó. Vào những tháng cầu tăng, cung
không đáp ứng kịp. Khi đó giá cả trên thị trường sẽ tăng, các nhà bán sỉ sẽ tăng
thêm lợi nhuận do họ bán được giá cao mà chỉ phải trả giá mua của Công ty như

từ Hà Tĩnh trở ra. Khách hàng theo khu vực địa lý bao gồm các nhà bán buôn và
các đại lý của Công ty. Các đại lý Công ty hiện nay đang tồn tại dưới dạng nửa
bán buôn nửa đại lý, bởi vì họ kông phải chịu quy định của nhà máy về giá cả
(bán đơn giá), họ phải tự đến Công ty lấy hàng như những nhà bán buôn. Các đại
lý cấp II có quan hệ mua bán trực tiếp với các đại lý và nhà bán buôn trên mà họ
không có bất kỳ một sự ràng buộc nào về kinh tế đối với Công ty.
Nhìn bảng dưới ta thấy, bia Hà Nội được tiêu thụ với khối lượng lớn ở các
tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Tây, Nam Định, nơi mà có các nhà
máy bia lớn. ở Hà Nội có nhà máy bia Đông Nam á, ở Hà Tây có chi nhánh của
Công ty bia Việt Nam, ở Nam Định có nhà máy bia Nada. Như vậy có một dấu
hiệu đáng mừng là bia chai Hà Nội đã cạnh tranh thắng lợi trên "sân khách". Có
thể nói thị trường Hà Nội là hậu phương vững chắc cho sự phát triển của Công
ty. Doanh thu bán hàng trên địa bàn này thường đạt 50 - 60% tổng doanh thu.
Trên địa bàn này, do gần nơi sản xuất nên chi phí vận chuyển thấp, dân cư đông,
nhu cầu tiêu dùng bia cao nên sản lượng tiêu thụ đạt nhiều nhất. Đặc biệt đối với
mặt hàng bia hơi, là sản phẩm chỉ dùng trong ngày nên doanh số tiêu thụ tại Hà
Nội đạt 70 - 80% so với doanh thu về bia chai.
Cũng số liệu bảng dưới ta thấy, số đại lý Công ty còn quá lớn, phân bố
chưa hợp lý hơn nữa sự tồn tại của các đại lý này chưa theo đúng nghĩa của nó.
Đây là một vấn đề mà Công ty nên xem xét lại.
Trang 53

Biểu số 9: Số liệu về tiêu thụ của Công ty theo khu vực thị trường năm 2000.

Bia chai(két) Bia lon(két) Bia hơi(lít)
KhuVực
Số ĐL

Hải phòng 5/8 39.246

4/7 4.616

- -
Quảng Ninh 15/16 270.91
9

15/16 26.379

2/2 43.400

Bắc Giang 10/15 115.68
0

9/14 6.574

1/1 196.200

Hà Tây 4/13 104.94
7

4/19 6.031

- -
Phú Thọ 9/20 197.70
0

9/20 7.952



- -
Thái Bình 1/3 27.755

1/3 4.435

- -
Thanh Hoá 3/3 40.115

3/3 1.487

1/1 35.700

Nghệ An 4/5 15.215

3/4 400

- -
Trang 54

Hoà Bình 1/2 10.979

1/2 615

- -
Lạng Sơn 2/2 18.636

2/2 1.684

- -


Vĩnh Phú 4/10 53.064

4/10 3.901

- -
Bắc Cạn 0/3 8.966

0/2 225

- -
Hà Nam 5/10 44.363

5/10 2.890

- -
Xuất nội bộ 48.961
- -
3. Phân tích tình hình thị phần của Công ty.
Bia Hà Nội đang đứng thứ hai sau Công ty bia Sài Gòn với thị phần hiện
có 7,83%. Hiện nay, khi mà cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, ngày càng có
nhiều đối thủ ra nhập thị trường bia, còn các đối thủ hiện tại thì cố gắng bành
trướng thị phần của mình. Điều đó làm cho thị phần của Công ty bai Hà Nội bị
giảm sút qua các năm mặc dù sản lượng tiêu thụ vẫn tăng đáng kể. Theo báo cáo
của Bộ công nghiệp nhẹ và tổng kết kết quả tiêu thụ của Công ty bia Hà Nội, thị
phần bia Hà Nội thể hiện như sau:


tăng sản lượng cả nước là 13,47% so với năm 1998 thì tổng sản lượng của Công
ty năm 1999 so với năm 1998 giảm đi là 4,31%. Sự giảm sút thị phần dẫn đến sự
giảm sút vị thế của Công ty, đây là một vấn đề mà các nhà hoạch định chiến lược
thị trường của Công ty cần phải xem xét.

4. Phân tích kết quả kinh doanh của Công ty.
Mặc dù bị cạnh tranh quyết liệt, nhưng Công ty bia Hà Nội đã gặt hái
được những kết quá đang khích lệ trong việc duy trì, phát triển và mở rông thị
trường: tăng doanh số, giải quyết công ăn việc làm cho gần 700 lao động và hoàn
thành tốt nghĩa vụ nộp ngân sách. Kết quả đó được biểu hiện rõ ràng qua việc
phân tích các mặt sau:
4.1 Phân tích hoạt động bán hàng theo các quý trong năm.
Qua biểu số 11: ta thấy tình hình kết quả bán ra cả năm dần dần tăng lên,
năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 1998 là 380.025 triệu đồng. Năm 1999
kết quả bán hàng cả năm đạt 404.028 triệu đồng, tăng 6,31% so với năm 1998.
Trang 56

Năm 2000 đạt 437.605 triệu đồng, so với năm 1999 vượt 8,31%. Tình hình bán
hàng luôn có sự vượt mức so với năm trước. Tình hình bán ra theo các quý trong
năm của Công ty hầu hết tăng đều qua các năm. Nhìn chung lượng bia bán ra
trong Công ty thường cao nhất vào quý III, chiếm tỷ trong so với các quý khác
trong năm.
Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do thời tiết, khí hậu nóng và thời
gian này trong năm là thời gian đi nghỉ mát của dân do vậy nhu cầu tăng cao. Và
đến quý IV thì mức tiêu thụ lại chững lại, đó cũng là rất hợp lý. Tuy vậy Công ty
vẫn giữ được mức tiêu thụ khá ổn định trong suốt cả năm. Cụ thể là:
- Quý I: Năm 1998 số tiền thu được là 109.109 triệu đồng chiếm tỷ trọng
28% so với cả năm. Vào năm 1999, só tiền thu được là 112.140 triệu đồng chiếm
tỷ trọng 27% trong cả năm, tăng hơn năm 1998 là 2,77% về số tiền chênh lệch là
3.031 triệu đồng. Sang năm 2000, số tiền thu được là 113.471 triệu đồng chiếm
4.2. Phân tích tình hình thực hiện sản lượng và doanh thu theo cơ cấu mặt
hàng.
Qua biểu số 12: do diễn biến bất thường của cơ chế thị trường, có sự cạnh
tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trường, nhưng Công ty cũng thực
hiện tốt việc sản xuất kinh doanh của mình. Tổng sản lượng có phần tăng lên qua
các năm. Năm 1998 tổng sản lượng là 48.580 ng.lít. Năm 1999, tổng sản lượng
là 46.489 ng.lít hơi tụt đi so với năm 1998 chỉ đạt 95,69% của năm 1998. Do ảnh
hưởng của sản lượng bia hơi năm này cũng bị tụt đi, sức tiêu thụ chậm lại.
Nhưng sang đến năm 2000 Công ty lại đạt tổng sản lượng khá cao 51.374 ng.lít,
cao hơn năm 1999 là 10,50%. Do tổng sản lượng tăng nên dẫn đến tổng doanh
thu cũng tăng nên qua các năm. Doanh thu sản phẩm đều tăng hơn so với cùng
kỳ năm trước. Năm 1999 cao hơn năm 1998 tăng 6,31%, năm 2000 so với năm
1999 tăng 8,31%. Đi vào phân tích cụ thể:
* Về sản lượng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status