TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008
163
DẠY VĂN HOÁ VÀ DẠY HỌC NGOẠI NGỮ:
MỘT QUÁ TRÌNH THỐNG NHẤT
TEACHING CULTURE IN TEACHING A FOREIGN LANGUAGE
PHAN VĂN HÒA
Đại học Đà Nẵng
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
Học viên cao học khoá 2005-2008
TÓM TẮT
Ngôn ng v văn ho c mi liên h không th t ch ri. V th, không th no hc ting
ni ca mt dân tc no đ m không hc văn ho ca h . Ngưi dy cn quan tâm
đng mc đn cc yu t văn ho ca ngôn ng đang dy . Trưc ht, cn nhn thc
rng văn ho l b phn không th no trnh n đưc khi thc thi qu trnh ging dy .
Điu ny s đng mt vai tr quan trng khi ngưi dy c trch nhim dn dt ngưi
hc vươn ti ci đch cui cng l giao tip t nhiên . Th đn, phi chn la nhng
phương php đng v phi thit k cc hot đng thch hp đ tng bưc gii thiu
ca nn văn ho tim n trong ngôn ng y . Cui cng, khi nhn thc đng , chn la
tt phương hưng tip cn , to ra đưc h thng cc hot đng v cc thao tc nhp
nhàn, ngưi dy cn nghiên cu , đc kt nhng trưng hp c th . Điu đ s gp
phn gii quyt nhng vn đ đang đt ra trong qu trnh dy ngôn ng không th tch
ri văn ho . Bi vit ny , trên c liu c th , s nhn đnh , tm cch pht hin v đ
xut mt s gii php cho vn đ : Lm th no dy cc yu t văn ho trong qu trnh
dy ngoi ng đ lm cho ngưi hc giao ti p hiu qu nht.
ABSTRACT
Language and culture have an inseparable connection. Thus, it is impossible to learn a
khuôn mẫu đánh giá và ngôn ngữ của họ [15]. Thành phần thứ hai của văn hoá là lịch sử
nền văn minh, bao gồm địa lí, lịch sử và các thành tựu khoa học, khoa học xã hội và
nghệ thuật. Theo đ, văn hoá được phân chia thành nhiều yếu tố nhỏ. Cách nhn này
phn ánh một phần thực chất của việc dạy học văn hoá và các vấn đề của dạy học văn
hoá trong dạy học ngoại ngữ mà chúng ta đang đề cập.
2.2. Mối quan h giữa ngôn ngữ và văn hoá
Nếu văn hoá là thứ c thể học, trao đổi và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ
khác thông qua hoạt động của con người và đương nhiên, thông qua giao tiếp bằng ngôn
ngữ th ngôn ngữ tất yếu là một phần của văn hoá [16]. Ngôn ngữ không chỉ là một
phần của văn hoá mà còn là một phương tiện mà thông qua đ, văn hoá được truyền đạt.
Một người sẽ bộc lộ một cách tự nhiên văn hoá của bn thân mnh thông qua ngôn ngữ
mà anh ta sử dụng: Mỗi khi ta sử dụng ngôn ngữ tức là ta thể hiện một hành động văn
hoá [1]. Mặt khác, văn hoá cũng là một phần của ngôn ngữ, v ngôn ngữ là hiện thân
của sn phẩm, thực tiễn, triển vọng, cộng đồng và con người của một nền văn hoá
(Moran, 2001). Như vậy ngôn ngữ và văn hoá c mối tương quan chặt chẽ với nhau:
“… c hai gắn kết nhau trong một quan hệ phức tạp đến mức người ta không thể hoàn
toàn chia rẽ chúng mà không làm mất đi ý nghĩa của văn hoá hay ngôn ngữ” [7, 239].
Emitt and Pollock (2007) cũng cho rằng học một ngôn ngữ tức là học văn hoá
của ngôn ngữ đ: Trên thực tế, người học không thể hoàn toàn lĩnh hội được ngôn ngữ
nếu họ chưa nhận ra và hiểu được ngữ cnh văn hoá mà trong đ ngôn ngữ xuất hiện
(Peterson & Coltrane, 2003). V vậy, trong dạy và học một ngôn ngữ, nhận thức được
mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và văn hoá c một ý nghĩa hết sức quan trọng.
2.3. Cần đưa văn ho vào dạy học ngoại ngữ
Như đã đề cập, văn hoá là một bộ phận không thể thiếu của dạy học ngôn ngữ,
và dạy một ngôn ngữ cũng có nghĩa là ta đang dạy cái văn hoá mà ngôn ngữ đ biểu
hiện. Văn hoá được truyền đạt và tiếp thu một cách tự nhiên thông qua quá trnh dạy và
học ngôn ngữ bởi v, hnh thái và cách dùng một ngôn ngữ nhất định phn ánh các giá
trị văn hoá của xã hội đang sử dụng ngôn ngữ đ (Peterson & Coltrane, 2003). Do đ,
việc giáo viên nhận ra các yếu tố văn hoá nằm ẩn bên dưới các hnh thái và cách dùng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008
Theo Henrichsen (1998), mỗi học viên có thể tự đọc và đưa ra quyết định của
riêng mình, sau đ họ có thể họp lại thành nhóm nhỏ để cùng trao đổi ý kiến.
• Đồng hoá văn hoá (Culture assimilators): Giáo viên đưa ra một số đoạn văn
ngắn mô t những tnh huống văn hoá c thể gây hiểu lầm cho sinh viên. Sinh
viên sau khi đọc xong sẽ chọn một trong 4 đáp án mà họ cho là phù hợp nhất
với từng tình huống, rồi gii thích lựa chọn của mình.
• Đồng hoá văn hoá qua tranh ảnh (Cultoons): Theo Henrichsen (1998),
Cultoons cũng tương tự như hoạt động đồng hoá văn hoá (Culture assimilators)
nhưng c sử dụng tranh nh. Ông mô t: giáo viên chuẩn bị cho người học một
số xêri tranh, mỗi xêri gồm 4 cái miêu t một vấn đề hiểu lầm văn hoá trong giao
tiếp. Học viên đánh giá hành động của các nhân vật, gii thích cho các tnh
huống trong tranh để hiểu tại sao lại c sự hiểu lầm ni trên.
• Phân vai (Role-play): Hoạt động phân vai sử dụng hiệu qu nhất là sau khi sinh
viên được học một bài đàm thoại. Trong hoạt động này, người tham gia tưởng
tượng chính bn thân mnh đang ở trong một tnh huống giao tiếp c liên quan
đến văn hoá thật. Ví dụ sau khi học cách xưng danh và gọi tên người khác, sinh
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008
166
viên có thể đng vai trong một tnh huống xy ra việc gọi tên người khác không
phù hợp. Các sinh viên khác ngồi quan sát và phát hiện ra những điểm sai đ.
• Trình bày về văn hoá ( Culture capsules): Học viên trnh bày (presentation)
một cách ngắn gọn về một hay nhiều điểm khác biệt giữa văn hoá của họ với văn
hoá họ đang tm hiểu (ví dụ như về thức ăn, tập quán cưới hỏi), thường c kèm
tranh minh hoạ và sau đ đưa ra một loạt câu hỏi cho lớp cùng tho luận
(Henrichsen,1998).
• Đóng kịch (Dramas): sinh viên tham gia đng các đoạn kịch ngắn, trong đ xy
ra hiểu lầm về văn hoá. Sau đ, vấn đề được c lớp cùng nhau tho luận, làm
sáng tỏ (Huges, 1984).
cho ai và vào lúc nào" (Saluveer, 2004: 47) để lựa chọn và điều chỉnh các hoạt động c
sẵn, sáng tạo phương pháp dạy văn hoá của riêng mnh, từ đ đưa các yếu tố văn hoá
của ngôn ngữ đ vào giờ học sao cho có hiệu qu nhất.
2.5. Kết quả nghiên cứu bước đầu về vic dạy văn ho trong cc giờ tiếng Anh tại
trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008
167
Kết qu điều tra cho thấy gần 100 % giáo viên tiếng Anh đều cho rằng văn hoá
có vai trò "rất quan trọng" hay "quan trọng" trong dạy học tiếng Anh. 100% trong số họ
đều thừa nhận việc đưa văn hoá của ngôn ngữ đích vào giờ học tiếng Anh mang lại tác
dụng kích thích hứng thú học tập của sinh viên. Tuy nhiên, nhận thức tích cực ấy chưa
thực sự đi vào thực tiễn dạy học một cách hiệu qu . Kết qu điều tra, phỏng vấn giáo
viên, sinh viên và dự giờ quan sát lớp cho thấy: văn hoá chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn
trong các bài học tiếng Anh, thời gian dành cho dạy văn hoá rất ít và trên thực tế, văn
hoá chỉ được xem như một dạng kiến thức nền phục vụ cho việc học ngoại ngữ mà ở
đây là tiếng Anh. Thông thường, các giáo viên chỉ nhắc đến những vấn đề liên quan đến
văn hoá khi chúng xuất hiện trong bài học. C nghĩa là, giáo viên chưa đủ điều kiện tốt
nhất để chủ động truyền đạt kiến thức văn hoá cho sinh viên. Thực tế, chỉ đề cập đến
văn hoá c tính bắt buộc, sơ lược, không đi sâu vào khai thác các khía cạnh văn hoá một
cách hệ thống và hiệu qu. Thậm chí, một số chủ đề văn hoá trong bài học đã bị bỏ qua.
Thực tế điều tra cũng cho thấy cách phổ biến nhất mà các giáo viên sử dụng để
truyền đạt nội dung mang tính văn hoá của ngôn ngữ đích cho sinh viên là Giảng giải
và đọc hiểu. C đến 62,5 % giáo viên cho rằng họ "thường xuyên" và 37,5 % cho rằng
"thỉnh thong" sử dụng cách ging gii và đọc hiểu để ‘dạy văn hoá’. Cách này phổ biến
vì đây là cách đơn gin và nhanh nhất, ít tốn thời gian và giáo viên không cần phi bỏ
công sức chuẩn bị nhiều, nhất là khi giáo viên phi tập trung vào nội dung ngôn ngữ,
nhiệm vụ chính của họ. Thảo luận cũng là hoạt động thường được áp dụng cho dạy văn
hoá trong giờ học với tỉ lệ 37,5% “thường xuyên” và 62,5 % “thỉnh thong” ( kết qu
[1] Bianco, J. L., Liddicoat, A. J. & Crozet, C. (1999). Striving for the Third Place:
Intercultural Competence through Language Education. Language Australia.
[2] Fleet, M. (nd). The Role of Culture in Second or Foreign Language Teaching:
Moving Beyond the Classroom Experience.
/>491716. Truy cập: 05/ 01/ 2008.
[3] Genc, B. & Bada, E. (2005). Culture in Language Learning and Teaching. The
Reading Matrix. 5.1, 73-84.
[4] Henrichsen, L. E. (1998). Understanding Culture and Helping Students Understand
Culture. Truy cập: 14/03/
2008.
[5] Huges, G. M. (1984). An Argument for Cultural Analysis in the Second Language
Classroom. In J. M. Valdes (ed.), Culture Bound. Cambridge University Press.
[6] Idrees, A. (2007). Teaching and Learning Culture of a Second Language.
/>%20Culture%20of%20a%20Second%20Language%20Abdulmahmoud%20Idrees.
pdf. Truy cập: 07/ 01/ 2008.
[7] Jiang, W. (2000). The Relationship between Culture and Language. ELT Journal.
Vol. 54. No. 4, 328-334.
[8] Lessard-Colouston, M. (1997). Towards an Understanding of Culture in L2? FL
Education. The Internet TESL Journal. III. 5.
[9] Truy cập: 02/07/2007
[10] Lê, T. H. P. (2007). Văn hoá mục tiêu (Target Cultures) với việc dạy và học kỹ
năng luyện nói tiếng Anh. Bulletin of Science -Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học
Huế. Số 4, 73-78.
[11] Moran, P. R. (2001). Teaching Culture - perspective in practice. Heinle & Heinle.
Canada.
[12] Nguyễn, T. M. H. (2007). Developing EFL Learners’ Intercultural Communicative
Competence: A Gap to be Fill? Asian EFL Journal. 21. an-efl-
journal.com/pta_july_07_jntmh.php. Truy cập: 16/8/2007.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(29).2008