55
Cơ sở của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam
Hoàng Thị Minh Hoa
Đại học Huế
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về quan hệ Nhật Bản và Việt
Nam, nhiều tác giả đã đề cập đến các nhân tố khách quan, chủ quan tác
động đến mối quan hệ này, tuy nhiên cũng chỉ đề cập đến từng góc độ, khía
cạnh và từng giai đoạn lịch sử ngắn. Trên cơ sở kế thừa những nguồn tư
liệu và một số nhận xét, đánh giá của các tác giả đi trước chúng tôi sẽ đi sâu
tìm hiểu cơ sở của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam và đưa ra một số nhận
xét tổng quan về vấn đề này. Bài viết tập trung phân tích chủ yếu về cơ sở
vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở kinh tế, tiềm lực vật chất xã hội,
nguồn lực con người và nhu cầu lợi ích của 2 nước.
1. Yếu tố vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên
Nhật Bản nằm ở Đông Bắc á thuộc Châu á là quốc gia nghèo về tài
nguyên thiên nhiên, nhất là dầu lửa vì vậy muốn phát triển đất nước hùng
cường Nhật Bản phải có chiến lược gia tăng quan hệ đối ngoại với các
nước ở Đông Nam á, đặt biệt là với Việt Nam - nước có nguồn dầu lửa rất
lớn và rất giàu các tài nguyên thiên nhiên có thể cung cấp cho Nhật Bản
56
trong chiến lược phát triển nền công nghiệp hiện đại tạo lợi thế nâng cao
hơn nữa địa vị kinh tế lẫn chính trị của Nhật Bản ở khu vực và thế giới.
Nhật Bản là một quần đảo hình cánh cung ôm lấy lục địa Châu á, với
tổng diện tích là 372.815 km
2
, ở vĩ tuyến 30
0
đến 45
57
nhập khẩu nguyên nhiên liệu, nông sản, thực phẩm của mình, Nhật Bản
nhập từ khu vực Châu á - Thái Bình Dương với 25% dầu mỏ, 60% khí đốt
nhiên liệu, 96% đay, 82% quặng sắt, 100% thiếc, 92% than đá, 77% nhôm,
88% gỗ, 69% bông, 65% đường, 88% thịt, 92% dầu mỡ, 95% len, 100% lúa
mì, đỗ tương, cá, các loại hải sản sống khác. Điều này cho thấy khu vực
Châu á - Thái Bình Dương nhất là Đông Nam á rất cần thiết đối với Nhật
Bản cần thị trường cung cấp nguyên vật liệu, lương thực thực phẩm cho
cuộc sống và cho sự phát triển.
Càng thực hiện công nghiệp hóa cao độ, Nhật Bản càng rất cần thiết
đến một khu vực có thể đáp ứng đầu đủ mọi nhu cầu của mình. Khu vực
đầy tiềm năng đó là Châu á - Thái Bình Dương mà cửa ngõ đi vào khu vực
này là Đông Nam á. Trong đó Việt Nam là một đất nước còn "hoang sơ".
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể cung cấp được mọi
thứ cho Nhật Bản - đất nước không có gì ngoài khối óc và đôi bàn tay. Đặc
biệt trong giai đoạn hiện nay Nhật Bản muốn Giữ vững vị trí cường quốc
kinh tế siêu cường tài chính và là một trong những cường quốc đóng vai
trò ngày càng quan trọng trong trật tự chính trị thế giới và trong trật tự thế
giới mới này Nhật Bản là một cực với đầu đủ ý nghĩa của nó.
Trước những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên cho thấy Châu á sẽ là
khu vực duy nhất tạo điều kiện cho Nhật Bản tranh giành ảnh hưởng chủ
đạo với các cường quốc khác. Với Châu á, Nhật Bản không chỉ chú trọng vì
lợi kinh tế mà cả lợi ích chính trị an ninh. Nhật Bản biết rõ ràng không thể
phát huy vai trò toàn cầu nếu không bắt đầu từ khu vực. Đông Nam á và
58
cho rằng: "Việt Nam sẽ là nước đóng vai trò quan trọng về mặt chính trị và
kinh tế trong khu vực Châu á - TBD ở thế kỷ XX này"
Dọc theo bờ biển từ Bắc đến Nam là các bãi biển rất đẹp, đặt biệt là
vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ – động Phong
Nha Kẽ Bàng được công nhận là di sản thế giới và Năm năm 2003 Vịnh
Nha Trang được xem là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới; Việt Nam có
nhiều đảo và quần đảo như: Phú Quốc, Côn Đảo, Bạch Long Vĩ, Hoàng Sa,
Trường Sa, đáp ứng nhu cầu về thích đi du lịch và yêu thiên nhiên giàu
đẹp của người Nhật Bản.
Việt Nam có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát
triển du lịch. Các sân bay Quốc tế các cảng biển lớn, hệ thống đường bộ
tương đối phát triển thông với biển Đông. Việt Nam là cầu nối quan trọng
giữa Đông á - Nam á và các quần đảo khác trong khu vực Thái Bình
Dương. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Việt Nam-Nhật Bản
là một trong những thị trường trọng điểm của nghành du lịch Việt Nam.
Việt Nam có nhiều hội để khai thác triệt để những tiềm năng kinh tế vốn có
của thị trường này.
Nhật Bản được đánh giá là nước có nhu cầu đi du lịch
nước ngoài rất cao và hiện đang có phong trào thích đến Việt Nam.
(2)
Việt
Nam được đánh giá là "vùng vịnh yên tĩnh giữa biển khơi đầy sóng gió" và
hiện nay" Việt Nam hiện đang là điểm đến an ninh – an toàn nhất thế giới"
theo Hãng tin Keuler. (1)
Tạp chí kinh tế Châu Á-TBD, số 4 năm 1999.
(2)
Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Nam á, số 6 tháng
12/2002, trang 60.
Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới có trình độ
khoa học kỹ thuật tiên tiến với thực lực hùng mạnh có dự trữ ngoại tệ khổng
lồ, chủ nợ xuất siêu số một của thế giới; kỹ thuật chế tạo, tỷ trọng đầu tư
cho nghiên cứu phát triển đứng đầu thế giới; dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản
năm 2000 đạt hơn 361,6 tỉ USD bằng 1,3 lần tổng mức dự trữ ngoại tệ của 6
nước phát triển chủ yếu bao gồm cả Mỹ cộng lại (277,8 tỉ USD). Theo số
liệu do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố, đến cuối năm 2000 tổng số tài sản
ở nước ngoài của Nhật Bản là 346.000 tỉ Yên, ước khoảng 3.209, 6 tỉ USD,
chiếm 50 % tài sản thuần ở nước ngoài của toàn cầu. Nhật Bản rất chú trọng
trong đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật hiện đại. Tiềm lực
kinh tế quốc gia hùng mạnh chính được dựa trên cơ sở nền tảng thu nhập
của các công ty và các cá nhân của người Nhật Bản. GDP bình quân đầu
người của Nhật Bản là 40.817 USD, trong khi đó Mỹ 27.7.99 USD so với
năm 1990 tăng 2,7 lần chỉ thua Thụy Sĩ 43.481 USD
(1)
Ngoài ra Nhật Bản lại có nhiều bí quyết kinh nghiệm quản lý và phát
triển kinh tế rất độc đáo và hữu hiệu. Hiện nay, Nhật Bản đã trở thành đối
tác quan trọng số 1 của Việt Nam. Năm 1999, tổ chức hợp tác và phát triển
OECD đã công bố rằng:" Nhật Bản là nước có viện trợ ODA lớn nhất 10,68
(1)
Keizai Koho Center, Japan Institute of Social and
Economic Affairs, Japan International Comparision Tokyo,
1997, p17.
(2)
Nghión cổùu Nhỏỷt Baớn, sọỳ 4-1999
62
(4)
NXB Thóỳ giồùi,188 nổồùc trón thóỳ giồùi, NXB TG, HN,
2001 trang 559
63
địch. Thiệt hại do chiến tranh gây ra vô cùng lớn: 9000 làng mạc ở phía
Nam đã bị tàn phá, hầu hết các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, đường sá,
cầu cống bị phá hủy, 1600 hệ thống thủy lợi bị tàn phá
(4)
Những khó
khăn trên đã được khắc phục nhanh chóng trong công cuộc xây dựng đất
nước, tuy nhiên do những hạn chế về cơ sở hạ tầng Việt Nam rất cần nguồn
vốn tài trợ lớn của Nhật Bản. Tài trợ và đầu tư vốn của Nhật Bản có ý nghĩa
rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản vào Việt Nam tập trung phần lớn
vào khu vực sản xuất công nghiệp, vào xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển
nông thôn. Riêng lĩnh vực công nghiệp chiếm 64% tổng số vốn FDI của
Nhật. Tính đến 30/09/1999 đầu tư của Nhật Bản đã thực hiện trong 24 tỉnh
thành với một số dự án có qui mô khá lớn và số vốn cao với nhiều tập đoàn
kinh tế hùng mạnh như: Sony, Mitshubishi, Toyota, Honda và Suzuki đã có
mặt ở Việt Nam.
Trên cơ sở những mặt mạnh yếu về cơ sở hạ tầng và tiềm lực kinh tế,
2 bên đang tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác vì lợi ích cao nhất của 2 nước.
Theo điều tra, với bảng trắc nghiệm do ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản
tiến hành thì có 338/652 công ty Nhật Bản xếp Việt Nam vào hàng thứ 4
trong các đối tác quan trọng nhất mà họ sẽ đầu tư trong 3 đến 10 năm đầu
thập kỷ XX sau Trung Quốc, Mỹ và Inđônêxia.
3. Nguồn nhân lực con người và nhu cầu lợi ích của hai nước.
ngoài sự nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên chỉ có khối óc và đôi bàn tay,
vì vậy, muốn xây dựng và phát triển đất nước "Hùng cường" Người Nhật
không có cách gì khác là phải phấn đấu cật lực, phải cần cù chịu khó. Đây
là yếu tố được coi là vốn qúy nhất của xã hội Nhật Bản, quyết định đưa đất
nước đến giàu mạnh.
Để giữ vững và phát triển nguồn lực con người, Chính phủ Nhật Bản
luôn quan tâm chăm sóc, nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Tháng
6/1999 chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc xếp Nhật Bản đứng thứ
4/5 trong 5 quốc gia đứng đầu thế giới về chỉ số HDI (sau Canada, Nauy,
Hoa Kỳ, Nhật Bản) trong tổng số 174 nước
Hiện nay có hơn 90% số gia đình Nhật Bản tự hào là họ có mức sống
trung lưu trở lên, tỷ lệ người thất nghiệp thấp nhất thế giới, không quá 3%
trong suốt nhiều năm.
(1)
Tại thị trường nội địa của Nhật Bản những hàng hoá tiêu dùng hầu
như đã chật ních, vì vậy quan hệ Nhật Bản-Việt Nam nếu được đẩy mạnh
thì Việt Nam sẽ trở thành khu vực tiêu thụ hàng hoá cho Nhật Bản. Tỷ lệ
hàng hoá là máy móc sử dụng trong gia đành Nhật Bản tăng mạnh. Ví dụ
điện thoại: năm 1995 người Nhật sử dụng di động chỉ mới là 4,33 triệu
người, nhưng đến 1998 đã lên đến 40,3 triệu người. Điện thoại cố định 60
triệu người, cứ 1,25 người có 1 điện thoại. Chất lượng sống của người Nhật
Bản đã nâng cao hơn rất nhiều. Tính đến năm 1997, gia đình Nhật Bản đã
(1)
Keizai Kolo Center, Japan Institute of Social and
Economic Affairs, Japan International Comparision Tokyo,
1997, p13.
66
kinh tế Nhật Bản”, NXB CTQG-HN, 1996 trang 148. 67
Việt Nam hiện nay có nhiều điểm tương đồng về kinh tế như của Nhật
Bản cách đây 40 năm, việc tìm hiểu và tham khảo những kinh nghiệm của
Nhật Bản trong việc đào tạo nguồn nhân lực là rất bổ ích và cần thiết. Vì
vậy Việt Nam cần, tiếp thu có chọn lọc, biết vận dụng sáng tạo cho phù hợp
với điều kiện Việt Nam
+ Dân số Việt Nam 72 triệu người chiếm 42,5 % dưới 14 tuổi. Lực
lượng lao động khá đông đảo lên tới 37 triệu người. Tổng sản phẩm quốc
dân quá thấp 230 USD/1năm 1 đầu người. Chất lượng sống của lao động
Việt Nam chưa cao, dựa trên 12 tiêu chí cơ bản nhất về tình trạng sức khỏe
của một quốc gia, chúng ta đứng thứ 67
(1)
. Trình độ học vấn của người Việt
Nam hiện nay đã tăng nhiều so với trước và cao hơn nhiều các nước khác
trên thế giới, song đi sâu xem xét ta thấy còn nhiều vấn đề: Phần lớn lực
lượng lao động mới chỉ được đào tạo về giáo dục phổ thông và ít được huấn
luyện về chuyên môn, nghề nghiệp. Lực lượng lao động Việt Nam nhìn
chung trình độ học vấn và khả năng kỹ thuật hiện nay phần lớn chưa đáp
ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường hiện đại. Trong bộ phận
lực lượng lao động ưu tú phải có 50 vạn người phải đào tạo lại nếu như có
điều kiện. Cơ cấu theo trình độ của lực lượng lao động kỹ thuật còn chưa
hợp lý. Tỷ lệ công nhân kỹ thuật / Cán bộ trung cấp / Cán bộ có trình độ đại
học trở lên là 2,3 / 1,7 / 1 thuộc loại thấp so với tỷ lệ hợp lý cần phải theo
kinh nghiệm các nước là 10 / 4 / 1. Lao động trí óc của Việt Nam chỉ chiếm
7,9 % (trong đó thành thị : 30 % nông thôn 4,4 %) lao động cơ bắp chiếm
92,1 %. Điều này thể hiện sự kém phát triển của xã hội. Con người và đất
nước Việt Nam có nhiều nét tương đồng với Nhật Bản: người Việt Nam bản
kinh tế, công nghiệp, khoa học kỹ thuật, 1994-1995, NXB
United Pubbisher trang 237 69
Rút kinh nghiệm trong chiến tranh thế giới II, sau chiến tranh Nhật
Bản đã thực hiện đường lối “ngoại giao” kinh tế trên hết và đã ký với Mỹ
hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật nằm trong ô hạt nhân của Mỹ để an tâm phát
triển kinh tế đảm bảo sự tồn tại, phát triển dân tộc Nhật Bản. Do đó, chỉ tiêu
quân sự hàng năm của Nhật Bản chỉ chiếm 1% GDP trong khi các nước
khác 4 - 5 % GDP.
Trong thời gian này, Nhật Bản đã nhận thức được rằng khu vực Đông
Nam á, Châu á là thị trường truyền thống không thể thiếu được trong sự
phát triển kinh tế Nhật Bản. Đây là lợi ích sống còn cho Nhật Bản trong xây
dựng và phát triển đất nước vì Nhật là một nước nghèo nàn tài nguyên hầu
như điều kiện phát triển kinh tế không có gì.
Sau khi trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 của thế giới và siêu cường
tài chính, Nhật Bản đã muốn dùng khu vực Châu á đặc biệt là Đông Nam á
để vươn lên giành quyền lực chính trị ngang tầm kinh tế của mình. Vì Nhật
Bản hiểu rõ rằng có thế lực chính trị là điều kiện để bảo vệ những lợi ích
kinh tế của mình trên thế giới và khu vực. Từ những năm 90 trở đi trật tự đa
cực đang hình thành, Nhật Bản muốn trở thành 1 cực với đầy đủ quyền lực
về kinh tế và chính trị, tham gia giải quyết các vấn đề lớn của khu vực và
thế giới. Vì vậy Nhật Bản vẫn coi quan hệ Nhật - Mỹ là nền tảng, lấy Châu
á làm trọng điểm trong đó ưu tiên số một là Đông Nam á, phát huy vai trò
chính trị trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Trong chiến lược đối ngoại đó
Nhật Bản rất muốn tạo một khu vực ổn định hòa bình an ninh để phát triển
kinh tế và Việt Nam là một trong những đối tượng đáp ứng được yêu cầu
của Nhật Bản. Tuy nhiên, muốn thực hiện được nhu cầu của cả 2 nước Nhật
Bản phải đẩy mạnh công cuộc cải tổ cơ cấu kinh tế hiện nay, tạo đòn bẩy
Nam á trong đó có Việt Nam là “sân sau” không thể thiếu của Nhật Bản.
Việt Nam phải tận dụng Nhật Bản là một nước rất quan tâm đến phát triển
văn hóa và con người để thu hút vốn, phát triển giáo dục, văn hóa, đào tạo
con người, phát triển du lịch.
Lợi ích cao nhất của Việt Nam về kinh tế, chính trị và an ninh quốc
gia cần phải được đảm bảo khi quan hệ với Nhật Bản. Từ sau chiến tranh
lạnh kết thúc, Việt Nam thực hiện đổi mới chính sách đối ngoại “là bạn với
tất cả các nước” tiếp đó gia nhập ASEAN tháng 7 (1995) tham gia APEC
và nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế khác. Điều này chứng tỏ tình
hình khu vực đang biến chuyển cực kỳ thuận lợi cho Nhật Bản triển khai
chính sách hòa hợp ASEAN - Đông Dương vì Nhật hiểu rõ không có một
Đông Nam á phồn vinh mà thiếu sự tham gia của Việt Nam - một quốc gia
có nhiều tiềm năng và đông dân thứ hai ở Đông Nam á (chỉ sau Inđonêxia).
Cả Việt Nam và Nhật Bản đều có điểm đồng nhất về lợi ích chính trị
là duy trì hòa bình và ổn định để cùng phát triển. Việt Nam cũng có vai trò
chính trị ở Đông Nam á đặc biệt ở Đông Dương có thể đáp ứng yêu cầu
muốn nâng cao vai trò chính trị ở Châu á của Nhật, hơn nữa Việt Nam là
nhân tố quan trọng đối với ổn định của khu vực, Nhật Bản cho rằng: “Việt
Nam sẽ là nước đóng vai trò quan trọng về mặt chính trị và kinh tế trong
khu vực Châu á - Thái Bình Dương ở thế kỷ XX này”.
(1)
Lợi ích cao nhất
(1)
Hipyoki Yushila (Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam):
Chính sách của Nhật Bản ở Đông Nam Á - Tạp chí Quan
hệ quốc tế số 9/1991.
(2)
Nguyễn Mạnh Cầm, trên đường triển khai chính sách
đối ngoại theo định hướng mới. Tạp chí Cộng sản, số
5. 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, TTNC Nhật Bản, HN (1999).
6. Masaya Hirashi. Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam từ 1951-1975, NXB
ST, HN (1993).
7. Hioyoki Yushita (Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam). Chính sách của
Nhật Bản ở Đông Nam á, Tạp chí quan hệ quốc tế số 9 (1991).
8. Keizai Koho Center. Japan Institute of Social and Economic Affairs,
Japan International Comparision Tokyo (1997).
9. NXB Thế giới. 188 nước trên Thế giới, NXB TG, HN (2001).
10. Lưu Ngọc Trịnh. Chiến lược con người trong thời ký kinh tế Nhật
Bản, NXB CTQG HN (1996).
11. Nhật Bản tăng cường hiểu biết và hợp tác văn hóa, kinh tế, công
nghiệp, khoa học kỹ thuật, NXB United Pubbisher (1994 - 1995)
12. Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á số 6 (12/2002).
13. Tạp chí Kinh tế Châu á-Thái Bình Dương, số 4 (1999)
74
14. Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Nam á, số 6 (12/2002).
15. Tin tham khảo hằng ngày, ngày 1/2/1996.
16. The Economic planing Agency-EPA: Cục kế hoạch kinh tế Nhật Bản
- Dẫn theo nghiên cứu Nhật Bản số 4 (1999).
BASIS OF VIETNAM - JAPAN RELATIONSHIP
Hoàng Thị Minh Hoa
Hue University
In the study on the relationship between Vietnam and Japan many
authors have referred to both subjective and objective factors affecting this
relationship, yet on the basis of some specific levels and aspects within
short specific periods of history. By researching into revealed documents
and previous research woks, we have investigated the relationship between