Báo cáo nghiên cứu khoa học " ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN CÁC TÍNH TRẠNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI MÓNG CÁI TẠI HUYỆN HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ " - Pdf 14


ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN CÁC TÍNH TRẠNG
SINH SẢN CỦA LỢN NÁI MÓNG CÁI TẠI HUYỆN HƯƠNG THỦY,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Lê Đình Phùng, Phan Hữu Tuần
Trường Đại Học Nông Lâm, Đại học Huế

TÓM TẮT
Ảnh hưởng của một số yếu tố đến các tính trạng sinh sản của lợn nái Móng
Cái được tiến hành trên 318 lợn nái Móng Cái nuôi tại huyện Hương Thủy, tỉnh
Thừa Thiên Huế. Thông tin thu thập bao gồm giá trị của các tính trạng sinh sản
của lứa đẻ gần nhất và các yếu tố ảnh hưởng: vùng sinh thái, đực giống, lứa đẻ,
mùa vụ, chuồng trại và phương thức nuôi. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến các
tính trạng sinh sản được phân tích bằng mô hình thống kê hỗn hợp. Kết quả cho
thấy lợn nái Móng Cái nuôi ở vùng đồng bằng có năng suất sinh sản cao nhất và
thấp nhất là vùng miền núi. Số con sinh ra/lứa, số con còn sống đến 24 giờ và số
con cai sữa của lợn nái Móng Cái được phối với đực Móng Cái cao hơn so với khi
được phối với đực Landrace hoặc đực Yorkshire. Điều ngược lại đúng cho tính
trạng trọng lượng sơ sinh và trọng lượng cai sữa của lợn con. Lợn nái có năng
suất sinh sản cao nhất từ lứa đẻ thứ 3 đến lứa thứ 6. Bổ sung thức ăn công nghiệp
giàu đạm vào khẩu phần ăn của lợn nái nâng cao trọng lượng lợn con cai sữa. Lợn nái nuôi trong chuồng nuôi đảm bảo nâng cao đáng kể khả năng sinh sản của
lợn nái. Lợn nái sinh con vào mùa Xuân và Thu có số lứa đẻ/năm cao hơn so với
mùa Đông và mùa Hè. Cần tiếp tục nghiên cứu các yếu tố khác có ảnh hưởng đến
các tính trạng sinh sản của lợn nái Móng Cái, đặc biệt yếu tố giống của lợn nái:
địa phương, lai và ngoại.

về sinh sản được phân tích bằng chương trình Genstat (1997). Mô hình phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến tới các tính trạng sinh sản của lợn nái MC như sau:
Y
ijklmn
= µ +V
i
+D
j
+M
k
+P
l
+C
m
+L
n

ijklmn
- Y
ijklmn
: Là giá trị của tính trạng nghiên cứu, bao gồm:
- µ: Trung bình quần thể
- V
i
: Ảnh hưởng của vùng; i = 1, 2, 3; i = 1 = Đồng bằng; i = 2 = Đất cát
nội đồng; i =3 = Gò đồi
- D
j
: Ảnh hưởng của đực giống phối với lợn nái MC; j = 1, 2, 3; j = 1 =
Yorkshire; j = 2 = Landrace; j = 3 = MC

3.1. Ảnh hưởng của vùng sinh thái và phương thức nuôi đến các tính trạng
sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi tại huyện Hương Thuỷ
Giá trị của các tính trạng sinh sản của lợn nái MC nuôi tại các vùng sinh
thái khác nhau được trình bày qua bảng 1 và ảnh hưởng của vùng sinh thái đến các
tính trạng sinh sản được trình bày ở bảng 5. Qua bảng 5 ta thấy rằng vùng sinh thái
có ảnh hưởng sâu sắc đến tuổi đẻ lứa đầu, số con sơ sinh(ss)/lứa, số con còn sống
(cs) đến 24 giờ, trọng lượng sơ sinh/con, số con cai sữa/lứa, thời gian cai sữa,
khoảng cách lứa đẻ và hệ số lứa đẻ (P <0,01).
Bảng 1: Ảnh hưởng của vùng sinh thái và phương thức nuôi đến các tính trạng
sinh sản
của lợn nái Móng Cái nuôi tại huyện Hương Thuỷ (Trung bình

sai số của số
trung bình)
Đực giống Chuồng trại Chỉ tiêu
Landrace
(n=139)
Yorkshi
re
(n=129)
Móng
Cái
(n=50)
Đảm
bảo
(n=214)
Khôn

10,42 ±
0,16
11,60 ±
0,25
10,73 ±
0,15
10,22
± 0,17
Trọng lượng ss/con (kg)
0,58 ±
0,01
0,57 ±
0,01
0,52 ±
0,01
0,56 ±
0,01
0,55 ±
0,01
Số con cai sữa/lứa (con)
9,91 ±
0,16
10,09 ±
0,14
10,72 ±
0,15
10,22 ±
0,12
9,87 ±
0,15

0,88
16,10 ±
0,99
18,19 ±
0,56
20,39
± 0,88
Khoảng cách lứa đẻ
(ngày)
189,98
±0,80
190,67±
0,98
185,42±
1,20
188,31±
0,67
192,07
±1,02
Hệ số lứa đẻ (lứa/năm)
1,93 ±
0,01
1,92 ±
0,01
1,97 ±
0,01
1,94 ±
0,01
1,91 ±
0,01

Đực giống dùng để phối với lợn nái MC có ảnh hưởng lớn đến số con sơ
sinh/lứa, số con còn sống đến 24h và số con cai sữa/lứa của lợn nái MC (P<0,001)
(bảng 2 và 5). Số con sơ sinh, còn sống đến 24 giờ và số con cai sữa của lợn nái
MC khi được phối với đực MC là cao nhất (tương ứng là 12,44, 11,06 và 10,72
con/ lứa) cao hơn rất nhiều so với khi lợn nái MC được phối với đực Yorkshire
(tương ứng là 11,24 10,42 và 10,09 con/ lứa) và được phối với đực Landrace
(tương ứng là 10,97; 10,33 và 9,91 con/ lứa). Kết quả này của chúng tôi là phù hợp
với kết quả nghiên của Nguyễn Văn Nhiệm và cộng sự (2002) khi nghiên cứu ảnh
hưởng của đực giống dùng để phối với lợn nái MC đến khả năng sinh sản của lợn
nái MC nuôi trong điều kiện nông hộ tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bảng 2: Ảnh hưởng của đực giống và chuồng trại đến các tính trạng sinh sản của
lợn nái
Móng Cái nuôi tại huyện Hương Thuỷ (Trung bình

sai số của số trung bình)
Đực giống Chuồng trại
Chỉ tiêu
Landrac
e (n=139)

Yorkshi
re
(n=129)
Móng
Cái
(n=50)

0,21
Số con cs đến 24giờ/lứa
(con)
10,33 ±
0,20
10,42 ±
0,16
11,60 ±
0,25
10,73 ±
0,15
10,22 ±
0,17
Trọng lượng ss/con (kg)

0,58 ±
0,01
0,57 ±
0,01
0,52 ±
0,01
0,56 ±
0,01
0,55 ±
0,01 Số con cai sữa/lứa (con)

9,91 ±

±0,49
54,59
±0,68
Phối lại có kết quả
(ngày)
18,88 ±
0,61
20,04 ±
0,88
16,10 ±
0,99
18,19 ±
0,56
20,39 ±
0,88
Khoảng cách lứa đẻ
(ngày)
189,98
±0,80
190,67±
0,98
185,42±
1,20
188,31
±
0,67
192,07
±1,02
Hệ số lứa đẻ (lứa/năm)
1,93 ±

Ảnh hưởng của số lứa đẻ đến các tính trạng sinh sản của lợn nái MC được
thể hiện ở bảng 3 và 5. Lứa đẻ có ảnh hưởng lớn đến số con sơ sinh, số con còn
sống đến 24 giờ, số con cai sữa/lứa, thời gian từ cai sữa đến phối lại có kết quả,
khoảng cách lứa đẻ và hệ số lứa đẻ (P<0,01). Ảnh hưởng của lứa đẻ đến các tính
trạng sinh sản của lợn nái MC phản ánh đúng quy luật sinh sản của lợn. Lứa đẻ
nhóm I có số con sơ sinh thấp hơn/lứa (9,57 con) so với lứa đẻ nhóm II (12,21
con) và nhóm III (11,33 con). Số con cai sữa của những nái có lứa đẻ nhóm II
(10,64 con) cao hơn so với nái có lứa đẻ nhóm III (10,21 con) và thấp nhất ở
những nái nhóm I là 9,03 con. Nái đẻ nhóm 2 có hệ số lứa đẻ cao nhất, 1,95 so với
1,92 và 1,87 lứa/năm của nhóm I và nhóm III. Không có ảnh hưởng của lứa đẻ đến
thời gian cai sữa. Bảng 3: Ảnh hưởng của số lứa đẻ đến các tính trạng sinh sản của lợn nái Móng
Cái
nuôi tại huyện Hương Thuỷ (Trung bình

sai số của số trung bình)
Nhóm lứa đẻ
Chỉ tiêu Đơn vị
I (n=94)
II
(n=181)
III
(n=43)
Số con sơ sinh/lứa Con
9,57±0,20
12,21±0,1
6
11,33±0,3


24,00±1,4
4
Khoảng cách lứa đẻ Ngày 190,8±0,9
9
187,42±0,
7
195,67±1,
70
Hệ số lứa đẻ Lứa/năm 1,92±0,01 1,95±0,01

1,87±0,02
Ghi chú: Nhóm I = Lứa đẻ 1, 2; nhóm II = Lứa đẻ 3 - 6; nhóm III = Lứa 7 trở đi
3.3. Ảnh hưởng của mùa vụ đến các tính trạng sinh sản của lợn nái Móng
Cái nuôi tại huyện Hương Thuỷ

Bảng 4: Ảnh hưởng của mùa vụ đến các tính trạng sinh sản của lợn nái MC
nuôi tại huyện Hương Thuỷ (Trung bình

sai số của số trung bình)
Mùa vụ
Chỉ tiêu Đơn vị
Xuân
(n=35)

(n=107)
Thu
(n=40)
Đông
(n=136)

0,19
Trọng lượng ss/con Kg
0,58 ±
0,01
0,55 ±
0,01
0,58 ±
0,01
0,55 ±
0,01
Số con cai sữa/ lứa Con
10,09 ±
0,31
9,93 ±
0,16
10,22 ±
0,22
10,22 ±
0,15
Trọng lượng cs/con Kg
9,35 ±
0,22
9,49 ±
0,10
8,53 ±
0,23
9,32 ±
0,14
Thời gian cai sữa Ngày
53,97±

0,01
1,92 ±
0,01
1,99 ±
0,01
1,91 ±
0,01
Bảng 5: Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố tới các tính trạng sinh sản
của lợn nái Móng Cái nuôi tại huyện Hương Thuỷ
Chỉ tiêu Vùng
Đực
giống
Mùa
vụ
Lứa
đẻ
Chuồng
trại
Phương
thức
nuôi
Tuổi đẻ lứa đầu
***
NS NS NS
***
NS
Số con sơ sinh/lứa
*** ****
NS
**** *

*** **
NS
Khoảng cách lứa đẻ
*** * *** *** ***
NS
Hệ số lứa đẻ
**** * *** *** ***
NS
Ghi chú: NS: không có ý nghĩa; *: P< 0,1; **: P <0,05; ***: P<0,01;****:
P<0,001
Bảng 4 và bảng 5 trình bày ảnh hưởng của mùa vụ lúc lợn nái MC sinh con
đến một số tính trạng sinh sản của lợn nái MC. Mùa vụ ảnh hưởng tới một số tính
trạng sinh sản như số con cai sữa/lứa, khoảng cách lứa đẻ và hệ số lứa đẻ
(P<0,05). Lợn nái MC sinh con vào mùa Xuân và mùa Thu có khoảng cách lứa đẻ
ngắn hơn và hệ số lứa đẻ cao hơn so với lợn nái sinh con vào mùa Hè và mùa
Đông. Kết quả này khá phù hợp với công bố của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ
Bình (2006).
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Các tính trạng sinh sản của lợn nái MC chịu ảnh hưởng của một số yếu tố
như vùng sinh thái, đực giống, số lứa đẻ, mùa vụ, chuồng trại và chế độ nuôi
dưỡng. Lợn nái MC nuôi ở vùng đồng bằng có năng suất sinh sản cao nhất, ở vùng
gò đồi có năng suất sinh sản thấp nhất. Số con sơ sinh/ lứa, số con còn sống đến 24
giờ và số con cai sữa/lứa của lợn nái MC được phối với đực MC cao hơn khi được
phối với đực Landrace và đực Yorkshire nhưng điều ngược lại xảy ra đối với tính
trạng trọng lượng sơ sinh/ con và trọng lượng cai sữa/ con. Lợn nái MC có khả
năng sản xuất tốt nhất trong giai đoạn từ lứa đẻ thứ 3 đến 6. Bổ sung thức ăn công
nghiệp giàu protein vào khẩu phần cho lợn nái MC trong giai đoạn có chữa và sau
khi sinh nâng cao trọng lượng cai sữa của lợn con. Nuôi lợn nái trong chuồng trại

thuật Nông nghiệp, tập IV (2006)
6. Nguyễn Văn Thiện, Đinh Hồng Luận. Một số đặc điểm di truyền về
năng suất của hai giống lợn nội Ỉ và Móng Cái. Kết quả nghiên cứu
bảo tồn quỹ gene ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội
(1994).
7. Đặng Đình Trung, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Đức và Nguyễn
Thị Viễn. Hiện trạng chăn nuôi lợn tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Báo cáo khoa học năm 2006, phần công nghệ sinh học và các vấn đề
kỹ thuật chăn nuôi, Viện Chăn nuôi Quốc gia, Hà Nội, (2007) 194-200.

EFFECTS OF SOME FACTORS ON REPRODUCTIVE TRAITS OF
MONGCAI SOWS IN HUONGTHUY DISTRICT THUA THIEN HUE
PROVINCE Le Dinh Phung, Phan Huu Tuan
College of Agriculture and Forestry, Hue
University

SUMMARY
A study on the effects of some factors on reproductive traits was done on
318 Mong Cai sows kept in farm household conditions in Huong Thuy district,
Thua Thien Hue province. Data collected included various reproductive traits and
factors of agricultural ecological zones, sires, number of litters, seasons, pig
housing condition and commercial feed rich in protein. Mong Cai sows kept in the
lowland agricultural zone had the highest reproductive performance while the
lowest was found in the upland agricultural zone. Number of piglets/litter, number
of piglets alive until 24 hours after calving, number of weaning piglets of Mong
Cai sows mated with Mong Cai boars were higher than those of Mong Cai sows
mated with Landrace or Yorkshire while the reserved results were found for piglet


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status