1
TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Đề tài: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam”.
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đã chứng
minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, đồng thời
giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho
mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết
tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của
nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà
nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư;
về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng
lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.
Với mảng đề tài này tôi sẽ đi nghiên cứu việc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở
ngước ta hiện nay và còn tìm hiểu thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Và làm
rõ vì sao khi đi lên CNXH thì phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài này của tôi, tôi đi làm rõ hai khía cạnh lớn đó là:
Quan niệm về công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước; sự nhận định và vận
dụng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay như thế nào trong thời kỳ quá
độ đi lên XHCN.
3
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Tìm hiểu sách báo trên thư viện.
2. Truy cập internet.
3. Tổng hợp những lời giảng của thầy giáo trong quá trình học tập.
4. Tự bản thân mình rút ra kết luận.
4
NỘI DUNG CHÍNH
Chương I: Những cơ sở lí luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1. Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cho đến nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc (unid) đã đưa ra định
nghĩa sau đây: công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ
phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu
kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. đặc điểm của cơ cấu kinh tế này
là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu
dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm
đạt tới sự tiến bộ về kinh tế và xã hội.
Hiện đại hoá lá quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ chỗ theo những qui trình công nghệ
phương tiện phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ khoa học
kỹ thuật tạo ra năng xuất lao động hiệu quả và trình độ văn minh kinh tế xã hội cao.
sản xuất phát triển. Muốn đạt được điều đó, phải thực hiện tốt công nghiệp hoá, hiện dại
hoá mới có khả năng thực tế để quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện
nhân tố con người.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế có
phát triển thì mới có đủ điều kiện vật chất cho tăng cường củng cố an ninh quốc phòng,
đủ sức chống thù trong giặc ngoài. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn tác động đến việc
đảm bảo kỹ thuật, giữ gìn bảo quản và từng bước cải tiến vũ khí, trang thiết bị hiện có
cho lực lượng vũ trang.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần tăng nhanh quy mô thị trường. bên cạnh
thị trường hàng hoá, còn xuất hiện các thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường
công nghệ Vì vậy, việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác tăng
mạnh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân công và hợp
tác quốc tế.
Chính vì những tác dụng to lớn, toàn diện đã nờu ở trờn, từ Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta luôn luôn xác định:
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước
6
ta. Đồng thời, qua mỗi lần Đại hội, Đảng ta lại nhận thức sâu thờm và cụ thể thờm
nhiệm vụ này cho thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta trong từng thời kỳ.
3. Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Mục tiêu dài hạn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Xây dựng nước ta thành
một nưíưc công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật
chất và tinh thần cao, quốc phong, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ, văn minh”.
Mục tiêu trung hạn là từng bước thực hiện thành công mục tiêu lâu dài trên. Căn
cứ vào yêu cầu phát triển đất nước và khả năng thực tế của đất nước, mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta là “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trị chủ đạo trong nền kinh tế nước nhà.
Lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững. Tăng trưởng kinh tế gắn với việc cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn
hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sống của con
người và các loại sinh vật khác.
Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kết hợp
công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đậi, tranh thủ đi nhanh và hiện đại các công
trình các khâu quan trọng của đất nước trong công cuộc xây dựng đất nước.
Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm chuẩn cơ bản để xác định phương án phát
triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ cho phù hợp với tình hình của Việt Nam trong
giai đoạn này.
Kết hợp chặt chẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố tăng cường nền
quốc phòng - an ninh của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH hiện nay.
5. Chủ trương của Đảng chuyển đất nước sang thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
Từ cuối năm 1986 đến giữa năm 1960, đất nước Việt Nam đã trải qua 10 năm thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng với hai kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm. Trong 10 năm
đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ nội lực của dân
tộc, kiên trì mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa vì độc lập dân tộc, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã giành được những thành tựu to lớn. Tuy
còn một số mặt yếu kém, chưa vững chắc song nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội. Đất nước đã có điều kiện để chuyển sang thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
8
Trong bối cảnh đó, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được
triệu tập ở Hà Nội từ 22-6 đến 1-7-1996 (kể cả họp nội bộ và họp công khai). Đại hội đã
thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng: Báo cáo chính trị, phương hướng nhiệm
vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000, Điều lệ Đảng (bổ sung và sửa
đổi) và Nghị quyết của Đại hội. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Trung ương Đảng do Đỗ
Mười làm Tổng Bí thư.
thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp".
Trên con đường thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội xác định: "Giai đoạn từ nay
đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kì phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh
thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng
bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu
được đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000; tăng
trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức
xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao
tích lũy từ. nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu
thế kỉ sau.
Đại hội cũng đã nêu lên các định hướng phát triển, các lĩnh vực chủ yếu trong thời
kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm còn lại của
thập niên 90 là:
“Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn;
phát triển toàn diện nông thôn, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm,
thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh
tế, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển.
Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp
thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả
cao.
Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ. Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối
ngoại. Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như: chế biến nông, lâm, thủy sản, khai
10
quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Đối với các nước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đã có công
nghiệp, có cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến bộ đến đâu cũng chỉ là
những tiền đề vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, các
nước này phải thực hiện quy luật nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa về quan hệ sản xuất; tiếp thu vận dụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa
học - công nghệ vào sản xuất; hình thành cơ cấu kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có trình độ
cao và tổ chức, sắp xếp lại nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa một cách hợp lý, hiệu
quả hơn.
Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội như
nước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu, từ
không đến có, từ gốc đến ngọn thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
12
Bởi vì, cơ sở vật chất kĩ thuật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên
quan tới sự phát triển về vật chất đối với lực lượng sản xuất năng suất lao động xã hội,
đối với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối với
sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.
2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một tất yếu khách quan
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới.
Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu: "Xã hội công
bằng văn minh, dân giàu nước mạnh". Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là công
cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc với lĩnh vực đời
sống xã hội (kinh tế, chính trị, khoa học của con người…) làm cho xã hội phát triển lên
một trạng thái mới về chất. Sự thành công của quá tình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đòi hỏi ngoài mới trường chính trị ổn định, phải có nguồn lực cần thiết như nguồn lực
con người, vốn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Các nguồn lực này quan
hệ chặt chẽ với nhau. Cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng
mức độ tác động vào vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá không giống nhau, tỏng đó nguồn nhân lực phải đủ về số lượng mạnh về chất
nhân".
Để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, việt nam phải tìm cho mình một con đường đặc
thù, vừa phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội trong nước vừa bảo đảm xu thế
phát triển chung của thế giới. Theo dự thảo báo cáo chính trị của đại hội VII trình lên đại
hội VIII của đảng dự kiến từ nay đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp. Đây là lối thoát duy nhất cho nền kinh tế việt nam song cũng là
một thách thức mới. Tuy nhiên điểm xuất phát công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
hiện nay là tiền công nghiệp với những đặc điểm chủ yếu là nền kinh tế dựa vào các hoạt
động thương mại khai thác tài nguyên lao động, quản lý còn nặng về kinh nghiệm. Mặt
khác nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là bộ phận của kinh tế
nông thôn. kinh tế nông thôn nước ta chủ yếu là kinh tế thuần nông. Nhìn một cách tổng
quát, nếu xét về chỉ tiêu kinh tế như tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là khoa học kĩ thuật và công nghệ, mức sống
của nhân dân thì việt nam vẫn là một nước nghèo nàn, khó khăn và lạc hậu, đang ở
trình độ văn minh nông nghiệp.
Để tiến hành sản xuất lớn, hiện đại, nước ta phải thực hiện quá trình công nghiệp
hoá. Đây là một quá trình nhảy vọt của lực lượng sản xuất và của khoa học kĩ thuật.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá lực lượng sản xuất phát triển một cách
14
mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, chủng loại và quy mô. Lực lượng sản xuất được
tạo ra trong thời kỳ này là cái “cốt” vật chất kĩ thuật rất quan trọng và có ý nghĩa quyết
định đến tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nỉ làm thay đổi cách thức sản
xuất chuyển người lao động từ sử dụng công cụ thủ công sang sử dụng công cụ cơ giới
và nhờ đó làm mà sức lao động của con người được giải phóng, năng xuất lao động xã
hội ngày càng tăng, sản phẩm xã hội được sản xuất ra ngày càng nhiều, càng đa dạng và
phong phú, đáp ứng được ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.
Ở nước ta hiện nay công nghiệp hoá, hiện đại hoá XHCN được coi là nhiệm vụ
trung tâm của thời kỳ quá độ. Đảng ta đã xác định được thực chất của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá XHCN là “quá trình thực hiện sự phân công mới về lao động và là quá trình
tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng tái sản xuất mở rộng, công nghiệp hoá XHCN
nghiệp vẫn là thủ công trong hầu hết các khâu: làm đất, gieo giống, chăm bón và thu
hoach. mấy năm gần đây, do cơ chế mở nhiều vùng nông thôn đã phát triển mạnh nhiều
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ bán cơ khí, song số lao động trong
lĩnh vực công nghiệp bình quân toàn quốc không quá 5% tổng số lao động nông thôn.
+ Trong công nghiệp: công nghiệp cơ khí được áp dụng rộng rãi trong các đơn vị
sản xuất công nghiệp quốc doanh. tuy nhiên, lao động thủ công vẫn cần nhiều trong khâu
vận chuyển nội bộ, bao gói, cung ứng dịch vụ công cộng và sản xuất phụ có tính chất gia
công. Lao động trong các khâu này thường chiếm 40-50% trong tổng số lao động công
16
nghiệp quốc doanh. Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu vẫn sử dụng lao
động thủ công và tay nghề truyền thoóng với công cụ cơ khí nhỏ, bán cơ khí (trừ một số
doanh nghiệp tư nhân quy mô tương đối lớn mới được đầu tư trong những năm gần đây).
+ Trong xây dựng cơ bản, tỷ lệ cơ giới hoá trên các công trường xây dựng lớn
thường cao hơn các công trường xây dựng nhỏ.
Nói tóm lại, cơ khí hoá trong các ngành sản xuất vật chất xã hội còn thấp, phương
tiện cơ khí hoá cũ kỹ, lạc hậu, năng suất lao động chưa cao, chi phí vật chất còn lớn, giá
thành sản phẩm cao, chất lượng nhiều mặt hàng chưa bảo đảm. trong mấy năm gần đây,
do đổi mới cơ chế và có bổ sung nhiều thiết bị mới, công nghệ mới nên đã có tác đông
đên sự tăng trưởng và phát triển sản xuất xã hội, sản phẩm, mẫu mã hàng hoá đa dạng,
chất lượng sản phẩm có tốt hơn trước. nhưng về cơ bản, trình độ cơ khí hoá sản xuất chưa
được cao.
- Về tự động hoá:
+ Trong công nghiệp, việc tự động hoá thường được áp dụng ở mức cao trong các
dây chuyền công nghệ có tính liên hợp quy mô lớn. trừ những nhà máy mới được đầu tư
của các nước kinh tế phát triển, hầu hết dây chuyền tự động của liên xô (cũ), trung quốc
và các nước đông âu đều lạc hậu, nhiều bộ phận bị hư hỏng phải thay thế bằng các thiết
bị nhập ngoại ở các nước kinh tế phát triển.
+ Trong xây dựng cơ bản, tỷ lệ tự động hoá không cao, khoảng 1,5-2% trong công
tác xây dựng cơ bản.
+ Trong sản xuất nông nghiệp, tự động hoá chưa được áp dụng, kể cả các xí
vẫn còn chiếm tỷ trọng chủ yếu; công cụ, thiết bị, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, thiếu đồng
bộ và hiệu quả kinh tế thấp.
2. Trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại còn được thực hiện thông qua
nhận chuyển giao công nghệ mới từ các nước tiên tiến
a. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý bao giờ cũng phải dựa trên tiền đề là phân
công lao động xã hội. Đối với nước ta, đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa thì tất yêú phải có phân công lao động xã
hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong nội
bộ từng ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân.
Việc phân công lại lao động xã hội có tác dụng rất to lớn. Nỉ là đòn bẩy của sự
phát triển công nghệ và năng suất lao động, cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật, nó
góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự phân công lại lao động xã hội
18
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay cần phải tuân theo các
qúa trình có tính quy luật sau:
Thứ nhất, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; tỷ trọng và số
tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên.
Thứ hai, tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động
giản đơn trong tổng lao động xã hội.
Thứ ba, tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng nhanh hơn
tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
Đối với nước ta, phương hướng phân công lao đông xã hội hiện nay cần triển khai
cả hai địa bàn: tại chỗ và nơi khác để phát triển về chiều rộng kết hợp phát triển theo
chiều sâu. Tuy nhiên, cần phải ưu tiên địa bàn tại chỗ, nên cần chuyển sang địa bàn khác
phải có sự chuẩn bị chu đáo. Đi đôi vớ quá trình phân công lại lao động xã hội, một cơ
cấu kinh tế mới cũng dần dần được hình thành.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn liền với quá trình công nghiệp hoá. Đại
hội đảng lần thứ VI đã xác định nhiệm vụ: "Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý
tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay, đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải theo
định hướng dẫn đến phát triển bền vững không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn
thuần mà phải vì mục tiêu phát triển kinh tế mà bao trùm lên cả là vì mục tiêu phát triển
bền vững, trong đó có một cấu thành bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu là bảo vệ
môi trường. Từ đó cho thấy, các nhà lãnh đạo, nhà quản lý cho đến các doanh nghiệp, các
địa phương, cơ sở… cần phải hết sức chú ý thực hiện tốt vấn đề này, tránh tình trạng vì
lợi nhuận kinh tế trước mắt dẫn đến phá huỷ nghiêm trọng môi trường sinh thái tự nhiên
như vừa qua và hiện nay công luận vẫn đang tiếp tục lên án về không ít các trường hợp
doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật bảo vệ môi trường.
Công nghiệp hoá cho phép công nghiệp nông thôn tồn tại và phát triển với tốc độ
tăng trưởng cao: nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số, 72% nguồn lao động xã hội,
nhưng mới tạo ra khỏang 1/3 tổng sản phẩm quốc dân (1996). Do vậy, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông thôn không những là quan trọng, mà còn có ý nghĩa quyết định đối với
quy mô và tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Vấn đề nêu trên không phải
là đặc thù của việt nam mà được rút ra từ thực tế và kinh nghiệm các nước trong khu vực
châu Á. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy hiện đại hóa không nhất thiết phải được khởi
đầu hoặc được duy trì bởi sự phát triển nhanh của công nghiệp nặng ở một số ít trung
20
tâm công nghiệp, tại các đô thị lớn mà có thể được khởi đầu ở nông thôn và phụ thuộc
vào khu vực này.
3. Những nội dung cụ thể và bước đi trong những năm trước mắt
Thời kỳ quá độ lờn CNXH ở nước ta là thời kỳ lịch sử lõu dài, được phát triển qua
các thời kỳ nhất định, do vậy công nghiệp hoá của thời kỳ này cũng phải cú nội dung
tương ứng với một chặn dường nhất định. Trong những năm trước mắt, nhu cầu về vốn
cho cụng nghiệp hoá, hiện đại hoá rất lớn, sonh khả năng đáp ứng cũn rất hạn chế, nhu
cầu việc làm rất bức bách, đời sống nhõn dân cũn nhiều khỉ khăn, tình hình kinh tế - xã
hội chưa thật vững chắc. Do đó, phải coi trọng tính hiệu quả kinh tế - xã hội trong quá
trình cụng nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhấn mạnh “lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu
thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu như cụng
nghiệp chế biến nụng sản, thuỷ sản may mặc, giày da, một số sản phẩm cơ khí, điện tử,
cụng nghệ phần mềm… Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan
trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng.
Khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí, khoáng sản, vật liệu xây dựng. Chú
trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp
lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hoá. Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước và cú khả năng đấu thầu xây
dựng ở nước ngoài.
Đối với các ngành du lịch và dịch vụ
Phát triển mạnh du lịch và nâng cao chất lượng du lịch: hàng không, hàng hải và
các loại hình vận tải khác, bưu chính - viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng, kiểm
toán, bảo hiểm, chuyển giao cụng nghệ, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường… và các
dịch vụ phục vụ đời sống của nhõn dân. Từng bước đưa nước ta thanh trung tâm du lịch,
thương mại dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực.
Đối với kết cấu hạ tầng
Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thồng kết cấu hạ tầng: giao thĩng,
điện lực, thĩng tin, thuỷ lợi… trong đó năng lượng phải đi trước một bước đáp ứng yâu
cầu phát triển kinh tế, xó hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia.
Cung cấp đủ nước cho đô thị, khu cụng nghiệp và cho tren 90% dân cư nụng thĩn.
Giải quyết cơ bản về vấn đề thoát nước và xử lý rát thải đô thị.
Đối với các vùng kinh tế
Phát huy vai trì của các vùng kinh tế trọng điểm cú mưc tăng trưởng cao, tích luỹ
lớn, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của
từng vùng, liên kết các vùng trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá. Quan tâm phát triển
22
kinh-xó hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh ở các vùng miền núi, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây
Nam. Có chính sách hỗ trợ nhiều hơn các vùng khỉ khăn để phát triển kết cấu hạ tầng,
nguồn nhân lực, nõng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo, đưa các vùng này vượt qua tình
mà trong đó lực lượng cán bộ khoa học công nghệ và các công nhân lành nghề giữ vai
trò đặc biệt quan trọng. Đảng ta đặt “con người vào vị trí trung tâm” trong sự nghiệp
phát triển kinh tế. Do đó, trong quá trình phát triển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi
hỏi phải có đầy đủ nguồn nhân lực về số lượng, đảm bảo về chất lượng và có trình độ
cao.
Chính vì vậy, phải coi trọng việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những
hướng đi chính cho đầu tư phát triển; giáo dục, đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách
hàng đầu. Phải có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nguồn nhân
lực, đồng thời phải sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo. Phải phát huy tiềm lực
của mỗi người để góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
24
3. Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ được xác định là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nó quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nói riêng.
Nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển nên tiềm
lực về khoa học công nghệ còn yếu. Do đó, muốn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá thành công với tốc độ nhanh, nhiệm vụ trước mắt cần được giải quyết là:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nắm bắt các công nghệ cao cùng
những thành tựu mới về khoa học của thế giới; hướng mạnh vào việc nâng cao năng suất
lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.
- Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học tiên tiến bao gồm đẩy
mạnh các hình thức đào tạo và sử dụng cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho
các ngành khoa học và công nghệ, có cơ chế chính sách tạo động lực cho sự phát triển
khoa học công nghệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công
nghệ.
4. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng là một tiền đề cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống