Báo cáo nghiên cứu khoa học: " NHẬN THỨC VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIỮA THUỐC NỘI VÀ THUỐC NGOẠI" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

140
NHẬN THỨC VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIỮA THUỐC NỘI VÀ THUỐC NGOẠI
DANANG CONSUMERS’ PERCEPTION AND CHOICE OF DOMESTIC
AND IMPORTED MEDICAMENTS

Bùi Thanh Huân
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Bùi Thị Thanh Thu
Cựu sinh viên Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều thách thức cho công nghiệp dược Việt Nam.
Trên thị trường nội địa, dược phẩm Việt Nam chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng.
Nghiên cứu này đánh giá sơ lược thực trạng ngành công nghiệp dược Việt Nam, so sánh
tương quan giữa thuốc nội và thuốc ngoại thông qua phỏng vấn trực tiếp người tiêu dùng nhằm
tìm hiểu nh
ận thức và sự lựa chọn thuốc sử dụng của họ. Trên cơ sở nhận ra những điểm
mạnh và điểm yếu của thuốc nội so với thuốc ngoại, một số kiến nghị được đề xuất cho các
doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nhằm từng bước hoàn thiện hoạt động kinh doanh, đáp ứng
mong đợi của người tiêu dùng,
đối phó với những thách thức cạnh tranh toàn cầu và đạt được
các mục tiêu đề ra.
ABSTRACT
International economic integration has posed many challenges to Vietnamese
pharmaceutical industry. On domestic markets, Vietnamese medicaments have not yet gained
the confidence of consumers. This study evaluates the current general situation of
pharmaceutical industry in Vietnam and compares domestic with imported medicaments

xuất có nhiều trùng lắp, gây nên hiện tượng cạnh tranh về giá; 90% dược chất chính là
nhập khẩu; chưa chú trọng đầu tư vào hệ thống kho tàng, dịch vụ vận chuyển. Theo các
chuyên gia Chương trình SIDA, công nghiệp dược Việt Nam được đánh giá ở cấp độ
phát triển từ 2,5 đến 3 theo thang phân loại 4 cấp độ của WHO và UNCTAD [2].
Theo cam kết của Việt Nam trong WTO, kể từ 01/01/2009 các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài được phép trực tiếp
nhập khẩu và phân phối dược phẩm tại Việt Nam với mức thuế trung bình giảm còn
2,5% sau 05 năm kể từ ngày Việt Nam là thành viên chính thức của WTO [2]. Tính đến
đầu năm 2009, đã có 438 doanh nghiệp dược nước ngoài đăng ký hoạt động tại Việt
Nam [3]. Các doanh nghiệp này có tính chuyên nghiệp cao, tham gia vào hầu hết các
khâu phân phối, có ưu thế trong việc đào tạo ra những chuyên viên Marketing giỏi, đủ
sức tiếp cận thị trường nhằm quảng bá sản phẩm Dự báo thị trường dược phẩm Việt
Nam sẽ tiếp tục có sự cạnh tranh gay gắt hơn trong thời gian đến.
Năm 2009, giá trị thuốc sản xuất trong nước đạt 831,25 triệu đô la Mỹ, tăng
16,18% so với năm 2008. Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2009 đạt 19,77 đô la
Mỹ, tăng 3,32 đô la so với năm 2008. Mặc dù vậy, thuốc sản xuất trong nước chỉ đáp
ứng được khoảng 50% trị giá thuốc sử dụng. Tổng giá trị thuốc nhập khẩu năm 2009
gần 1,2 tỉ đô la Mỹ, tăng gần 27% so với năm 2008 [2].
Việt Nam nhập khẩu nhiều dược phẩm có thể không hoàn toàn vì ngành dược
không đ
áp ứng đủ nhu cầu. Sự chấp nhận sử dụng thuốc nội của người tiêu dùng sẽ
quyết định việc thắng hay bại của các doanh nghiệp. Các giải pháp phát triển ngành
dược cần xuất phát từ đặc điểm nhu cầu và hành vi sử dụng thuốc của người tiêu dùng
cũng như từ những tồn tại cơ bản của ngành dược hiện nay chứ không thuần túy bắ
t
nguồn từ sự nhỏ bé về quy mô của ngành. Giải pháp phát triển về quy mô phải đi kèm
với những giải pháp phát triển chiều sâu và các giải pháp đồng bộ khác.
Vì vậy, nghiên cứu nhận thức và hành vi lựa chọn của người tiêu dùng giữa thuốc
nội và thuốc ngoại cho phép nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu thuốc nội so với
thuốc ngoại. Từ đó xác lập chiến lược kinh doanh đúng đắn, cải thiện, phát huy thế mạnh

Kết thúc điều tra, số bảng trả lời thu được có thể sử dụng cho nghiên cứu là 313. Việc
mã hoá, nhập và xử lý dữ liệu được tiến hành trên phần mềm SPSS.
3. Phân tích kết quả
3.1. Tầm quan trọng của các tiêu chí lựa chọn thuốc sử dụng
Tiến hành phân tích nhân tố theo thành phần chính và kiểm tra độ tin cậy (tất cả
Alpha Cronbach đều lớn hơn 0.6), các tiêu chí lựa chọn của người tiêu dùng có thể được
chia thành 06 thành phần và sắp xếp theo thứ tự tầm quan trọng giảm dần như sau:
- Thành phần 1: Chất lượng
- Thành phần 2: Sự tiện lợi sử dụng (liều dùng tiện lợi, dễ sử dụng, dễ bảo quản,
hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng kèm theo)
- Thành phần 3: Kinh nghiệm (kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm từ người
khác, tư vấn của người bán)
- Thành phần 4: Thương hiệu và xuất xứ (nhãn hiệu, danh tiếng công ty sản
xuất, quốc gia sản xuất, khả năng cung ứng, quảng cáo)
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

143
- Thành phần 5: Giá cả
- Thành phần 6: Cảm quan (hình thức của thuốc, bao bì).
Theo kết quả điều tra, đa số ý kiến cho rằng việc lựa chọn cẩn thận thuốc sử
dụng là quan trọng. Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong quyết định thuốc sử
dụng của người tiêu dùng và cũng là lý do chính mà người tiêu dùng chuyển đổi loại
thuốc sử dụng. Vấn đề cảm quan của thuốc xem ra ít quan trọng nhất. Khi tầm quan
trọng của chất lượng tăng thì lợi thế sẽ thuộc về các doanh nghiệp có công nghệ sản
xuất hiện đại, chất lượng cao. Đây là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt
Nam trong bối cảnh cạnh tranh với thuốc ngoại đang được nhập khẩu ngày càng nhiều.
3.2. Nhận thức so sánh giữa thuốc nội và thuốc ngoại
Trong số 17 tiêu chí lựa chọn thuốc sử dụng của người tiêu dùng, 10 tiêu chí đã
được sử dụng để so sánh giữa thuốc nội và thuốc ngoại. Kết quả trung bình đánh giá của
người tiêu dùng cho thấy thuốc nội thua kém thuốc ngoại theo các tiêu chí khảo sát,

sản phẩm, xây dựng đội ngũ các nhà khoa học giỏi để nghiên cứu tìm ra các phương
thuốc mới, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh
3.4. Khả năng phân biệt giữa thuốc nội và thuốc ngoại
Kết quả điều tra cho thấy 45% người tiêu dùng cho rằng việc phân biệt xuất xứ
của thuốc là không dễ dàng do thầy thuốc không hướng dẫn; có nhiều hàng nhái, hàng
giả; ít sử dụng thuốc; thiếu kinh nghiệm; nhãn hiệu, nguồn gốc của thuốc không được
ghi rõ ràng. Họ sử dụng một vài yếu tố để phân biệt như bao bì, hình thức, nhãn hiệu,
ngôn ngữ ghi trên bao bì và trên hướng dẫn sử dụng, giá, nhãn phụ bằng tiếng Việt dán
ngoài bao bì, tem nhập khẩu, quảng cáo, chỉ dẫn của người bán.
3.5. Ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân đến việc sử dụng thuốc nội và thuốc ngoại
Việc mua của người tiêu dùng có thể chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân nên
sự khác biệt trong hành vi tiêu dùng thuốc nội, thuốc ngoại theo các đặc điểm cá nhân là
vấn đề cần xem xét. Sử dụng các kết quả kiểm định thống kê với độ tin cậy 95% về sự
khác biệt trong mức độ sử dụng thuốc nội, thuốc ngoại giữa các nhóm người tiêu dùng
theo các đặc điểm cá nhân và các dữ liệu thống kê của cuộc điều tra cho thấy:
- So với nhóm người tiêu dùng trẻ (dưới 40 tuổi), nhóm người cao tuổi (trên 55
tuổi) sử dụng thuốc ngoại nhiều hơn thuốc nội. Nhóm trung niên (từ 41 đến 55 tuổi) có
khuynh hướng do dự, tỷ lệ sử dụng thuốc ngoại và thuốc nội tương đương nhau. Như
vậy, có thể cho rằng người tiêu dùng thuộc nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ sử dụng thuốc
ngoại càng tăng. Có lẽ càng cao tuổi người ta càng quan tâm đến sức khỏe và không
hoàn toàn yên tâm về chất lượng của thuốc nội. Giới trẻ có khả năng ủng hộ thuốc nội
và có thể là thị trường trọng điểm của các doanh nghiệp dược Việt Nam.
- Nhóm người tiêu dùng có thu nhập gia đình thấp (dưới 6 triệu/tháng) có
khuynh hướng sử dụng thuốc nội nhiều hơn thuốc ngoại, ngược lại so với nhóm có thu
nhập gia đình cao hơn. Như vậy, khi thu nhập càng cao thì người tiêu dùng càng có xu
hướng sử dụng sử dụng thuốc ngoại. Cũng cần lưu ý rằng, người có thu nhập thấp chưa
hẳn đã ủng hộ thuốc nội. Họ dùng thuốc nội vì giá thuốc ngoại cao mà thu nhập lại
khiêm tốn.
- So với các nhóm nghề nghiệp có thu nhập cao và ổn định (kinh doanh, kỹ sư,
bác sĩ, lực lượng vũ trang), nhóm người tiêu dùng có nghề nghiệp thu nhập thấp hoặc

thu trong khi con số này lên đến 15-25% đối với các công ty ở nước ngoài [5].
Song song với việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, các doanh nghiệp
dược cần đầu tư hệ thống nhà kho đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP)
nhằm đảm bảo chất lượng của thuốc khi đưa ra thị trường. Ngoài ra, ngành dược cần
có phương án sắp xếp lại các cơ sở sản xuất thuốc trong nước theo hướng chuyên môn
hóa có tính đến nhu cầu sử dụng thuốc, mô hình bệnh tật của người Việt Nam, năng
lực quản lý, năng lực sản xuất và trình độ kỹ thuật của các doanh nghiệp, đồng thời
tránh sự trùng lắp. Các doanh nghiệp trong nước có thể thực hiện liên kết, sáp nhập để
hình thành những tập đoàn dược phẩm đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài.
4.2. Đảm bảo sự tiện lợi cho người tiêu dùng
Thuốc và việc đóng gói phải tạo sự tiện lợi cho sử dụng và bảo quản của người
tiêu dùng. Trên bao bì phải ghi rõ hạn sử dụng và đặc biệt là nơi sản xuất để người tiêu
dùng dễ dàng phân biệt được xuất xứ của thuốc, giúp họ an tâm hơn khi lựa chọn thuốc
sử dụng. Bên cạnh đó, hình thức của thuốc và mẫu mã bao bì cũng là một yếu tố cần
đầu tư cải tiến nhằm gây ấn tượng và tăng cảm nhận của người tiêu dùng về chất lượng.
Ngoài ra, hướng dẫn sử dụng kèm theo thuốc là yếu tố quan trọng đối với việc lựa chọn
và chuyển đổi thuốc sử dụng của người tiêu dùng. Tài liệu này cần được trình bày rõ
ràng, dễ hiểu để người tiêu dùng sử dụng đúng cách và an toàn.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

146
4.3. Thay đổi nhận thức của người tiêu dùng về thuốc nội
Các doanh nghiệp sản xuất dược Việt Nam đang vấp phải một khó khăn là tâm
lý người kê đơn và người dùng thuốc có xu hướng chuộng hàng ngoại, nghĩ rằng thuốc
ngoại thì tốt hơn thuốc nội, thuốc càng đắt tiền thì càng tốt. Trên thực tế, thuốc nhập từ
các hãng dược lớn Âu - Mỹ thường có chất lượng cao và ổn định, còn thuốc nhập từ các
quốc gia kém tên tuổi trên thị trường dược phẩm chưa hẳn luôn có chất lượng ổn định.
Hơn nữa, đã là thuốc ngoại thì dù là thuốc của các hãng lớn hay của các hãng kém tên
tuổi đều có giá cao vì nhiều lý do khác nhau. Vì vậy, giá cao không phải luôn đi đôi với

sản phẩm, thương hiệu của mình, phải làm cho người dân, bác sĩ, dược sĩ, giới chuyên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

147
môn, bệnh viện và người bán thuốc biết và nhớ đến thương hiệu của mình. Các doanh
nghiệp có thể tăng cường quảng bá thông qua các phương tiện phù hợp và chú ý nhấn
mạnh đến sự cải thiện về chất lượng nhằm tạo dựng niềm tin ở người tiêu dùng trong
nước.
5. Kết luận
Nghiên cứu này đã mô tả một cách khái quát những đánh giá mang tính so sánh
của người tiêu dùng về thuốc nội và thuốc ngoại, xác định các tiêu chí lựa chọn thuốc sử
dụng của họ và đã đề xuất một số kiến nghị giúp các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm
của Việt Nam hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm đối phó với
những thách thức mới trong tương lai. Để nâng cao thương hiệu thuốc Việt thì trước hết
đòi hỏi các doanh nghiệp dược Việt Nam phải không ngừng đầu tư nghiên cứu, đổi mới
công nghệ sản xuất, nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Ngoài
ra, các cơ quan quản lý Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước thông qua
việc cải thiện môi trường để các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, đóng góp vào sự
phát triển của đất nước.
Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên nghiên cứu chỉ mới được thực hiện đối
với các loại thuốc thông dụng mà chưa thể triển khai nghiên cứu đối với những các loại
thuốc đặc trị. Nhiều yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người
tiêu dùng chưa được xem xét đến. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chưa thể tiếp cận hai đối
tượng không kém phần quan trọng là bác sĩ và các dược sĩ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Muray Smith và cộng sự, Economic Integration and Vietnam’s development, Phái
đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam, 2009
[2] Cao Minh Quang, Cơ hội và thách thức của ngành dược Việt Nam trước thềm hội
nhập WTO, 2006


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status