Tiểu luận xã hội dân sự - Pdf 19

Tiểu luận xã hội dân sự I. LÝ LUẬN
1. Khái niệm Xã hội dân sự
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về xã hội dân sự. Trong khuôn khổ bài thuyết
trình hôm nay, nhóm xin giới thiệu 2 khái niệm về xã hội dân sự như sau:
- Theo Civicus (Liên hội Quốc tế Các Tổ chức Xã hội Dân sự) định nghĩa thì
“xã hội dân sự là lãnh vực, ở bên ngoài gia đình, nhà nước, và thị trường, nơi
người dân kết hợp hoạt động nhằm thăng tiến các lợi ích chung”.
- GS. TS ĐẶNG NGỌC DINH - viện trưởng Viện Những vấn đề phát triển
(VIDS): đó là các tổ chức xã hội nằm ngoài Nhà nước, nằm ngoài các hoạt động
của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình, để liên kết người dân với nhau
trong những hoạt động vì một mục đích chung. Như vậy, thành phần quan trọng
của XHDS là các hội, hiệp hội trong dân chúng, trong làng xóm, mang tính chất
liên kết cộng đồng.
Khái niệm “xã hội dân sự” ra đời từ cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX nhằm phân biệt
giữa xã hội chính trị (tức là nhà nước, vốn có chức năng bao trùm toàn xã hội) với
mạng lưới dày đặc các mối quan hệ cá nhân, nhằm thỏa mãn những nhu cầu cá
nhân cực kỳ phức tạp, đa dạng. Mạng lưới dày đặc đó chính là xã hội dân sự.
Thoạt đầu, ý tưởng về “xã hội dân sự” và “xã hội công dân” gần như đồng nhất,
nhưng dần dần hai khái niệm ấy tách khỏi nhau vì trong tiến trình phát triển, người
ta ngày càng thấy rõ rằng người công dân, đồng thời cũng là con người, với tất cả
những đặc tính phong phú của nó. Cho nên, không thể quy toàn bộ tính phong phú
ấy vào trong khái niệm “công dân”. Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã
hội , vai trò của cá nhân ngày càng được nổi bật, ngày càng được tôn trọng. Theo
đó, vai trò của xã hội dân sự càng được xác lập, đặc biệt là từ thập kỷ 70 của thế
kỷ XX trở đi.
“Xã hội dân sự” ra đời ở phương Tây, sau cách mạng công nghiệp và cách mạng
dân chủ tư sản Pháp, nhằm phân biệt giữa “xã hội chính trị” (tức là “nhà nước”)
với những cái không phải là nhà nước, tức là không thuộc vào “xã hội chính trị”.

Nhà nước.
Đặc điểm Xã hội dân sự
Xã hội dân sự là nơi mà mọi người cùng hành động theo đuổi mục tiêu chung,
không vì động cơ lợi nhuận hay quyền lực chính trị. Hình thức tồn tại của nó bao
gồm các tổ chức hội, hiệp hội, liên hiệp hội, đoàn thể, mạng lưới, các tổ chức xã
hội, các phong trào, v.v., có các đặc điểm cơ bản như sau:
- Tự nguyện: các thành viên có thể tham gia và không tham gia tự nguyện vào tổ
chức, phong trào, trong quá trình đó không có sự ép buộc hay cưỡng bức hành
chính như các qui định luật pháp của nhà nước. Đặc điểm này phân biệt sự khác
nhau giữa các tổ chức xã hội dân sự và nhà nước. Nó mang tính phi chính phủ: tồn
tại độc lập với nhà nước và trên cơ sở tự nguyện của người dân, trong khi nhà
nước sử dụng các biện pháp hành chính và cưỡng chế.
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Trong quá trình hoạt động của mình, các tổ chức
xã hội dân sự hoạt động độc lập với nhà nước, trong khuôn khổ pháp luật, không
chịu sự chi phối và can thiệp của các tổ chức khác kể cả nhà nước, cho dù tổ chức
này có nhận tiền tài trợ của nhà nước hay không.
- Không vì mục tiêu lợi nhuận: các tổ chức này thường có thể thu lợi nhuận
nhưng không chia cho các cá nhân mà đem phần lợi nhuận đó để phục vụ các mục
tiêu xã hội. Phi lợi nhuận khi nó không tham gia vào các hoạt động kinh doanh lợi
nhuận, còn không vì mục tiêu lợi nhuận khi nó có thể tham gia vào kinh doanh để
có lợi nhuận, nhưng lợi nhuận tìm kiếm được không phải để phục vụ cá nhân, mà
phục vụ xã hội. Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt giữa tổ chức xã hội dân sự
và các doanh nghiệp, vì mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận cho các cá
nhân.
- Nguồn tài chính đa dạng từ hỗ trợ của nhà nước, hội phí, hoạt động kinh doanh,
đóng góp cá nhân.
Xã hội dân sự là nơi mà mọi người cùng hành động theo đuổi mục tiêu chung,
không vì động cơ lợi nhuận hay quyền lực chính trị. Hình thức tồn tại của nó bao
gồm các tổ chức hội, hiệp hội, liên hiệp hội, đoàn thể, mạng lưới, các tổ chức xã
hội, các phong trào, v.v., có các đặc điểm cơ bản như sau:

nguồn tài trợ theo mục tiêu đặt ra.
- Các tổ chức phi chính phủ cũng là loại hình các tổ chức xã hội dân sự chủ yếu
cung cấp dịch vụ công, vận động tài trợ và có thể làm các dịch vụ để có các khoản
thu nhập cho hoạt động của mình.
Mối quan hệ tương tác giữa xã hội dân sự với Nhà nước và Thị trường
- Thị trường: Có thể nói một cách khai quát, Thị trường (về tổng thể) nó như con
ngựa hay nhưng bất kham , trên đó Nhà nước và XHDS cùng cưỡi. Khi cưỡi lên
lưng ngựa rồi, thì mọi người, kể cả các nhà lãnh đạo cao nhất của mỗi nước, sau
khi đi ra khỏi nhiệm sở, rồi cũng đều cùng mọi người cưỡi trên lưng con ngựa
này. Vì vậy, bất kể ai, về mặt nào đó, sẽ đều cùng một số phận như nhau, cùng là
người dân, nghĩa là đều phải cùng nhau hiểu và biết điều khiển cho tốt Con tuấn
mã Thị trường.
Các nhà doanh nghiệp luôn năng động, sáng tạo để đảm bảo thuộc tính Tự chủ
hành động, hiệu quả và lợi nhuận cao nhất, đồng thời luôn thiên về mục tiêu ngắn
hạn và giành phần lợi ích lớn hơn không giới hạn (cho giới chủ, cho nhà tư bản);
Vì các doanh nghiệp hoạt động nhằm mục tiêu ưu tiên là lợi nhuận, do đó thường
chú ý vận dụng phương châm "hái quả ngọt ăn trước", do đó, thậm chí nhiều khi
trà đạp (cố ý hoặc vô ý thức) lên quyền lợi của số đông người lao động và người
tiêu dùng. Mặc dầu các doanh nghiệp thời nay đã nhận thức được các nhiệm vụ
mục tiêu xã hội, song động lực lợi nhuận vẫn luôn luôn chiếm ưu thế. Đó là thuộc
tính và hệ quả của cơ chế thị trường gắn với họ. Vì vậy phải có cơ chế hãm phanh,
đối trọng, cân chỉnh lại hành động tự do bóc lột nhiều khi theo bản chất CON nói
trên của Thị trường.
- Về Nhà nước: Nhà nước lý tưởng là cần phải làm tốt hai chức năng chủ yếu:
Xây dưng luật và quản lý, cưỡng bức thi hành luật, đảm bảo cho quyền lợi và
nghĩa vụ công dân phải được thực thi; hai là điều hoà, điều tiết các hoạt động xã
hội, trong đó quan trọng là điều tiết thu nhập để đảm bảo bình đẳng xã hội. Nhà
nước luôn phải đổi mới để thực thi cho tốt nghĩa vụ, tổ chức tốt xã hội và thị
trường , cầm cân, nảy mực, kiểm tra, kiểm soát thị trường và điều tiết quan hệ
giữa Thị trường và XHDS. Nhà nước phải ngăn chặn xã hội khỏi trạng thái tư do

Thực tiễn và Đánh giá về Xã hội dân sự ở Việt Nam
Theo phương pháp của Liên minh Thế giới về sự Tham gia của người dân
(CIVICUS), đánh giá về xã hội dân sự thường được tiếp cận dưới dạng một mô
hình hình thoi với bốn đỉnh, đó là cấu trúc, môi trường, các giá trị và cuối cùng là
tác động của xã hội dân sự đối với đời sống xã hội.
Hình 1: Hình thoi Xã hội dân sự, Việt Nam

Về cấu trúc, đây là phương diện mô tả về quy mô tổng thể, sức mạnh và mức độ
lan rộng của xã hội dân sự. Bao gồm chiều rộng sự tham gia của người dân trong
các tổ chức xã hội dân sự; chiều sâu của sự tham gia; tính đa dạng của các thành
phần tham gia; trình độ tổ chức; mối quan hệ giữa các đối tượng hoạt động trong
xã hội dân sự; các nguồn lực sẵn có đối với xã hội dân sự.
Sơ đồ 1: Điểm số cho các tiểu mục
thuộc bình diện “Cấu trúc” của Xã hội dân sự

- Chiều rộng sự tham gia của người dân chỉ những hình thức tham gia khác nhau
của người dân trong xã hội dân sự. Ở Việt Nam, việc tham gia này có thể thông
qua các hoạt động như tình nguyện làm việc trong các tổ chức; hành động cộng
đồng như tham gia vào các buổi họp cộng đồng, các sự kiện hoặc các nỗ lực chung
nhằm giải quyết các vấn đề cộng đồng. Tại Việt Nam, kể từ khi có Quy chế dân
chủ ở cơ sở, việc người dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng ngày càng
nhiều và đạt được những hiệu quả tích cực, nhất là việc người dân tham gia giám
sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, tạo những
chuyển biến tích cực trong bài trừ các tệ nạn như tham nhũng, cửa quyền, hách
dịch, nhũng nhiễu Tham gia làm từ thiện cũng là một hoạt động được dùng để
đánh giá chiều rộng của sự tham gia của người dân trong xã hội dân sự. Đây là
hoạt động mang tính nhân đạo và nhân bản sâu sắc, là truyển thống quý báu của
dân tộc Việt Nam tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Hoạt động này thường
xuyên được khởi xướng bởi Hội chữ thập đỏ và các cơ quan báo chí như Báo Lao
động, Tuổi trẻ

tác và thông tin giữa các tổ chức xã hội dân sự với nhau. Ở Việt Nam, việc chia sẻ
thông tin trong các hoạt động không phải là một thói quen trong hoạt động của các
tổ chức này. Vì thông tin gắn với quyền lực và cơ hội. Tuy nhiên trong xu thế phát
triển chung hiện nay, việc chia sẽ thông tin trong hoạt động của các tổ chức đã trở
nên phổ biến nhằm tăng thêm sức mạnh trong các hoạt động vì mục đích chung.
Và cùng với xu thế đó, việc hợp tác giữa các tổ chức xã hội dân sự đã được thiết
lập với nhiều cấp độ khác nhau.
- Các nguồn lực thể hiện mức độ nguồn lực sẵn có để có thể đạt được những mục
tiêu của các tổ chức xã hội dân sự. Bao gồm các nguồn lực về tài chính, nguồn
nhân lực và nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật. Ở Việt Nam, nguồn lực tài chính
của các tổ chức xã hội dân sự phần lớn từ phía Nhà nước, sau đó là các tổ chức
nước ngoài và tư nhân. Các nguồn lực này nhằm thực hiện những mục tiêu mang
tính cộng đồng như xoá đói giảm nghèo, một số vấn đề liên quan đến dân sinh như
nước sạch, môi trường, phát triển kinh tế nông thôn Nguồn nhân lực của các tổ
chức thường rất đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất của tổ chức đó. Ở những tổ chức
quần chúng, hội nghề nghiệp hay các tổ chức thành viên của Mặt trận, trình độ học
vấn của các thành viên thường rất cao, phần lớn là trình độ đại học, thạc sỹ và tiến
sỹ. Các tổ chức còn lại thành phần thường ở trình độ học vấn thấp hơn.
v Về môi trường, bao gồm môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá và pháp
lý đối với xã hội dân sự. Đi sâu vào chi tiết và đánh giá về vấn đề này, môi trường
của xã hội dân sự thường được phân chia làm các tiểu mục nhỏ, cụ thể hơn để
đánh giá, đó là: Bối cảnh chính trị; các quyền tự do cơ bản; bối cảnh kinh tế-xã
hội; bối cảnh văn hoá-xã hội; môi trường pháp lý; mối quan hệ xã hội dân sự và
nhà nước và cuối cùng là mối quan hệ giữa xã hội dân sự với khu vực tư.
[FONT=&quot]
Biểu đồ 2: Điểm của các tiểu mục trong “Môi trường” của Xã hội dân sự

- Bối cảnh chính trị trong phân tích, đánh giá về môi trường của xã hội dân sự
bao gồm quyền chính trị, cạnh tranh chính trị, sự phân cấp quản lý và hiệu quả
quản lý của nhà nước.

trong công tác đấu tranh chống tham nhũng trong khu vực công ở Việt Nam hiện
nay.
- Các quyền tự do cơ bản của công dân được xem xét trên cơ sở các quy định của
luật pháp và việc thực thi các quy định đó. Ở Việt Nam, các quyền này đã được
quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Cụ thể Điều 69
của Hiến pháp 1992 đã quy định Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định
của pháp luật. Các quyền tự do khác cũng được quy định tại Chương V của Hiến
pháp, trong các văn bản pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Bối cảnh kinh tế - xã hội là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
sự phát triển của xã hội dân sự tại các quốc gia. Bối cảnh xã hội được đánh giá dựa
trên các yếu tố như tỷ lệ nghèo đói, nội chiến, xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo,
khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, sự mất cân bằng kinh tế - xã hội, tỷ lệ
mù chữ, thất nghiệp Đánh giá toàn diện về vấn đề này, Việt Nam đã có những
bước tiến quan trọng kể từ sau Đại hội Đảng VI năm 1986 đến nay. Tỷ lệ nghèo
đói đã giảm từ 70% những năm 80 xuống còn 23% vào năm 2004 (Báo cáo phát
triển Việt Nam của UNDP); xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo không phải là một vấn
đề đối với Việt Nam. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo đến đời sống vật
chất, tinh thần của đồng bào vùng sâu, vùng xa, có các chính sách hỗ trợ đời sống
và những chính sách phát triển kinh tế phù hợp nhằm nâng cao đời sống cho người
dân. Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng cũng đã được Hiến pháp 1992 quy định và
cụ thể trong Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo đã được Uỷ ban thường vụ Quốc
hội ban hành; các cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội chưa xuất hiện ở Việt Nam,
tuy nhiên trong cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á năm 1997, Việt Nam
cũng đã bị những ảnh hưởng nhất định. Các cuộc khủng hoảng xã hội từ những
quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng có những tác động bất lợi đối với sự
ổn định của xã hội Việt Nam như đại dịch HIV/AIDS, nội chiến ; Việt Nam cũng
là một trong những quốc gia có tỷ lệ mù chữ thấp nhất thế giới, điều này có được
do các chính sách phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước, Điều 59 của Hiến
pháp cũng đã quy định cơ bản về vấn đề này.

động của bộ máy nhà nước từ những hoạt động này.
- Tình yêu thương con người trong cộng đồng mang tính nhân bản sâu sắc, đây
là một điều khác biệt của xã hội dân sự với nhà nước và thị trường. Ở nhà nước,
pháp luật là tối thượng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, còn đối với thị trường,
trên cơ sở của luật pháp, mục tiêu lợi nhuận là mục đích đầu tiên trong kinh doanh
của các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, sự nhân từ, tình yêu thương con người đã
mang tính truyền thống, được coi là một phần tính cách và văn hoá của con người
Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cùng với nhân dân giúp đỡ,
hỗ trợ tích cực những cá nhân, gia đình chính sách, người tàn tật, người nghiện ma
tuý, người nhiễm HIV/AIDS cùng các đối tượng chính sách khác.
- Bình đẳng giới trong các tổ chức xã hội dân sự cũng là một vấn đề vô cùng quan
trọng trong sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự và ảnh hưởng cả đối với xã
hội. Ở Việt Nam, sự bình đẳng giới đã được xác định trong Hiến pháp và trong các
văn bản pháp luật của Nhà nước. Phụ nữ đã được tạo nhiều điều kiện tham gia vào
các diễn đàn chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và đạt được nhiều thành tựu. Vai trò
của phụ nữ trong đời sống xã hội đã được khẳng định và ngày càng được các tổ
chức phụ nữ và các tổ chức xã hội dân sự thúc đẩy sự phát triển.
- Phát triển bền vững coi trọng công tác bảo vệ môi trường bên cạnh việc phát
triển kinh tế, xã hội. Các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam đã có những tiếp cận
đối với vấn đề này, tuy nhiên đây không phải là lĩnh vực được ưu tiên số một. Tuy
nhiên với những động thái từ phía nhà nước trong nỗ lực bảo vệ môi trường, chính
sách của các tổ chức quần chúng đang hướng tích cực hơn trong vấn đề này, cùng
nhà nước bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam.
v Tác động của xã hội dân sự đến đời sống xã hội của mỗi quốc gia là kết quả
cuối cùng. Tác động này được thể hiện ở những cấp độ khác nhau và được tiếp cận
trên nhiều bình diện như: gây ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước, duy trì
trách nhiệm của nhà nước và thị trường, đáp ứng các mối quan tâm của xã hội,
tăng cường quyền cho người dân và đáp ứng các nhu cầu khác của xã hội.
Sơ đồ 4: Các điểm số của tiểu bình nằm trong bình diện “Tác động”
của Xã hội dân sự

các lĩnh vực như: tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng và thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, hỗ trợ
những người nghèo và người bất hạnh trong nhiều mặt.
- Có sự hợp tác tích cực giữa Xã hội dân sự và Nhà nước, đặc biệt là đối với các tổ
chức quần chúng và các Hiệp hội nghề nghiệp nằm trong Mặt trận Tổ quốc.
b. Điểm yếu:
- Môi trường pháp lý đối với các tổ chức Xã hội dân sự vẫn đang trong giai đoạn
hoàn thiện dần.
- Nhà nước vẫn còn đóng vai trò chủ đạo trong việc lập những quyết sách và các tổ
chức Xã hội dân sự chỉ tác động vào quá trình đó thông qua hợp tác. Điều đó cho
thấy, Xã hội dân sự ở Việt Nam vẫn còn những ràng buộc với Nhà nước.
- Vẫn còn một số cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cũng như người dân chưa
nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và tác dụng của khu vực xã hội dân sự trong
đời sống xã hội; có biểu hiện xem nhẹ vai trò, tác dụng của các đoàn thể nhân dân,
các hội
- Chính các tổ chức Xã hội dân sự cũng chưa phát huy đầy đủ chức năng đại diện
cho lợi ích của quần chúng nhân dân và hội viên của mình. Một số tổ chức đoàn
thể nhân dân, hội còn mang tính hình thức, hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng
được nguyện vọng và lợi ích của đoàn viên, hội viên, hoặc có biểu hiện trông chờ
vào sự tài trợ của nhà nước; “hành chính hoá” về mặt tổ chức và hoạt động. Do đó,
khả năng thu hút quần chúng của các tổ chức này còn hạn chế; việc tham gia cung
cấp dịch vụ công chưa được triển khai đúng với tôn chỉ và mục đích, thậm chí có
trường hợp chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần.
- Nguồn nhân lực và tài lực của các tổ chức Xã hội dân sự vẫn còn hạn chế.
Đánh giá chung về xã hội dân sự ở Việt Nam, chúng ta nhận thấy rằng, tuy là
một khái niệm mới nhưng nội hàm của vấn đề đã tồn tại, phát triển và có những
ảnh hưởng tích cực đối với đời sống chính trị, xã hội nước ta. XHDS Việt Nam có
cấu trúc xã hội rộng nhưng không sâu, môi trường pháp lý để xã hội dân sự phát
triển đã được xác lập nhưng những yếu tố khích lệ, phát huy sự tham gia của xã
hội dân sự đến xã hội còn yếu, tuy nhiên những giá trị mà xã hội dân sự mang lại

động của khu vực xã hội dân sự. Trước hết là khẩn trương ban hành Luật Hội và
các văn bản hướng dẫn việc thi hành Luật để tạo hành lang pháp lý thống nhất,
đồng bộ, có hiệu lực cao về quản lý nhà nước đối với các hội, tổ chức phi chính
phủ; đồng thời, tạo thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của các tổ chức đó.
Thứ tư, Đẩy mạnh xã hội hoá dịch vụ công, xác định rõ những loại việc Nhà nước
cần phải làm và chuyển giao cho khu vực xã hội dân sự những loại việc mà Nhà
nước không nhất thiết phải đảm nhiệm. Đồng thời, hỗ trợ các nguồn lực và tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status