Những tiền đề và điều kiện hình thành phát triển xã hội dân sự hiện nay ở Việt Nam - Pdf 19

Những tiền đề và điều kiện hình thành phát triển
xã hội dân sự hiện nay ở Việt Nam Đã có những bài viết về quá trình nhận thức xã hội dân sự về mặt lý luận. Bài này
chủ yếu nghiên cứu sự hình thành xã hội dân sự trong thực tiễn về mặt những điều
kiện, tiền đề khách quan và chủ quan. Lĩnh vực này ở còn rất ít bài nghiên cứu,
khảo sát (dù đã có một dự án nghiên cứu điều tra thực trạng về các tổ chức xã hội
dân sự ở VN do phối hợp với tổ chức nghiên cứu nước ngoài mấy năm trước đây).
Bài viết này tập trung làm rõ các khíạ canh ở góc nhìn triết học, như: 1-Bộ ba
trong xã hội hiện đại; 2- Cần hiểu rõ thực chất xã hội dân sự ở VN hiện nay, có số
lượng hoành tráng thiếu thực chất. Vấn đề “tổ chức phi chính quyền do chính
quyền tổ chức”?; 3-Sự hình thành, phát triển; 4-Những tiền đề, điều kiện cần tạo ra
có nhiều nhưng chung quy lại là gì: 5-Đâu là lực cản của các giai đoạn của quá
trình hình thành? Rõ ràng có tiền đề từ xã hội truyền thống và văn hóa truyền
thống.
1-Bộ ba trong xã hội hiện đại
Hiện nay khi nói về xã hội dân sợ vẫn có người sợ. Theo Nguyễn Ngọc Giao hơn
mười năm đã trôi qua, xã hội công dân, rồi xã hội dân sự xuất hiện trên báo chí, có
bài còn nói lên tại sao có người sợ nó… Trên các cuốn sách, bìa 1 vẫn mang tên
Nhà xuất bản, còn tên của “Công ti X” hay “Trung tâm Y” mà ai cũng biết mới
thực là người xuất bản, mới chỉ ở bìa 4 – đôi lần nó leo lên bìa 1 nhưng đã bị huýt
còi ngay (Nguyễn Ngọc Giao, Xã hội dân sự, Trung Quốc và Việt Nam, Tạp chí
Thời đại, Chungta.com). Còn Nguyễn Qaung A thì nhận xét: Hơn hai chục năm
trở về trước ít người dám nói đến cơ chế thị trường, đến khu vực kinh tế tư nhân:
những điều cấm kỵ và đáng sợ. Số ít người dám nói và dám (liều) làm, thì bị loại
bỏ, bị sa cơ lỡ vận. Rồi người ta hiểu dần, chấp nhận và ngày nay chúng không
những không đáng sợ mà còn được coi trọng (Xã hội dân sự đâu có đáng sợ, Lao
Động Cuối tuần).
Xã hội dân sự là một bộ phận cơ bản của đời sống xã hội. Nó cùng với kinh tế thị
trường và nhà nước pháp quyền tạo nên tam giác, bộ ba trong thiết chế cơ bản của

câu hỏi, nhà nước pháp trị là gì, với 4 câu trả lời sẵn sơ đẳng: 1- Nhà nước có
quyền, 2- Đảng có quyền, 3- Công dân quyết định luật pháp và 4- Nhà nước phải
tuân thủ pháp luật. Những ngoại kiều nhìn Nhà nước bằng con mắt của kẻ nô lệ
bao giờ cũng trả lời sai, đánh vào câu số 1, trong khi chỉ mỗi câu số 4 đúng - chính
là dấu hiệu đặc trưng của một nhà nước pháp trị, đòi bất cứ hoạt động nào của bất
kỳ cơ quan nhà Nước nào đều phải viện dẫn chuẩn mực pháp lý của những điều
khoản luật pháp điều chỉnh nó; cũng xuất phát từ đó, mọi vấn đề xã hội nảy sinh,
họ không thể không mổ xẻ văn bản luật liên quan, để cải cách nó. Xã hội họ phát
triển, hoàn thiện liên tục chính là kết quả tổng hợp từ những cải cách luật thường
nhật như vậy; thiếu nó, mọi chủ trương, chính sách dù thần kỳ mấy cũng không
thể trở thành hiện thực.…(Xã hội dân sự đâu có đáng sợ, Lao Động Cuối tuần số
15 Ngày 12/04/2009).
Hiện thế giới hiện đại không còn ai bàn cãi về Nhà nước pháp trị, nhưng hệ dẫn
của nó, Nhà nước phải tuân thủ pháp luật, kể cả Thượng viện, một cơ quan lập
pháp tối cao trong thể chế lưỡng viện, cũng phải chịu phán quyết của toà, thì
không phải ai cũng hiểu, chừng nào họ vẫn chưa thay đổi được quan niệm coi Nhà
nước mới có quyền, kể cả ngoại kiều sống trong xã hội đó nếu không hoà nhập đủ.
(Tuần Việt Nam).
Đã có lần chúng tôi nói về quyền lực xã hội dân sự nhưng có người không tán
thành và có vẻ ngạc nhiên. Đó là một nhận thức không đúng. Quyền lực là quyền
lực của dân, tất cả quyền lực là của nhân dân. Một phần lớn quyền lực ấy trở thành
quyền lực nhà nước, nhưng phẩn khác trở thành quyền lực xã hội dân sự thông qua
các tổ chức của nó. Không có quyền đó thì làm sao họ có quyền giám sát xã hội,
phản biện xã hội và ngay nhà nươc có việc cũng phải trưng cầu ý dân. Trưng cầu
dân ý không phải tranh thủ sự đồng tính của dân mà là họ có quyền quyết định.
Cần thấy sự khác nhau về đặc trưng của ba loại hình tổ chức kinh tế, nhà nước và
xã hội dân sự.
Theo Nguyễn Quang A, Trong nhiều đặc trưng của các tổ chức nhà nước, thì đặc
trưng quan trọng mang tính khu biệt là chúng được tổ chức theo kiểu dọc, từ trên
xuống; chúng đòi hỏi sự tuân thủ; chúng có quyền lực ép buộc đối với mọi người

người là thành viên của 2,33 tổ chức, cao hơn nhiều nếu so với những nước trong
khu vực châu Á, như Trung Quốc (0,39) và Singapore (0,86). Theo khảo sát này,
tỷ lệ những người thuộc ít nhất một tổ chức là 73,5%, một tỉ lệ tương đối cao”
Nhưng chất lượng thế nào?
Tất nhiên, các con số không nói lên thực chất vấn đề. Nếu trong thập niên 1980,
sau cuộc đại cải cách 1979 của ông Đặng Tiểu Bình, ở Trung Quốc đã nở rộ
những tổ chức NGO, về kinh tế, xã hội, kể cả những viện nghiên cứu độc lập (dân
biện nghiên cứu sở) – nổi tiếng nhất là trung tâm của Trần Tự Minh (Chen Zimin,
nhà nghiên cứu triết học) – thì sau sự kiện Thiên An Môn (1989), chính quyền ban
hành Quy chế đăng kí và quản lí các đoàn thể xã hội (tháng 10.1989), rồi 10 năm
sau: Quy chế tạm thời về đăng kí và quản lí các đơn vị nhân dân phi thương mại,
theo đó các NGO phải đăng kí tại Bộ dân sự vụ và đặt dưới sự chủ quản của một
cơ quan chính quyền hay tương đương. Cơ quan chủ quản này thường được gọi là
“mẹ chồng”, “mẹ chồng” có quyền và nhiệm vụ coi chừng “con dâu”. Thực chất
mà nói, đó không phải là những NGO mà là GONGO (Government Organized
Non Governmental Organisations): những “tổ chức phi chính quyền do chính
quyền tổ chức”. Theo quy định, mỗi NGO được phép hoạt động trong một lãnh
vực nhất định và trong phạm vi một đơn vị hành chính nhất định, nó không được
phép hoạt động ra khỏi khu vực địa lí đó, và trong phạm vị một đơn vị hành chính
đó, không thể có hai NGO được phép hoạt động trong cùng một lãnh vực. Phí
đăng kí cũng rất “lụa”: 30 000 nhân dân tệ. Nói như nhiều tác giả, “xã hội dân sự”
ở Trung Quốc thực chất vẫn là “xã hội dân sự do Nhà nước lãnh đạo”.
Nguyễn Ngọc Giao, còn cho rằng, có lẽ về cơ bản, giữa hai “xã hội dân sự” Trung
Quốc và Việt Nam, cũng mặc nhiên có một mối quan hệ “16 chữ vàng”. Ở Việt
Nam, bộ luật về hội đoàn vẫn chưa được thông qua. Dự án vẫn duy trì chế độ “mẹ
chồng con dâu” mà ta gọi là “cơ quan chủ quản”. Đây là vấn đề cốt lõi, vì nó liên
quan tới thực chất quan niệm về tổ chức xã hội dân sự: đó là những tổ chức tự lập
của xã hội dân sự, của công dân, hay chỉ là tổ chức để chính quyền “nắm” từng bộ
phận nhân dân, và nếu vậy, ở thời đại hiện nay, nó chỉ có thể là môt tổ chức có
trên giấy tờ. Chỉ cần nêu ra hai thí dụ: những cuộc gặp gỡ xuân thu nhị kì giữa đại

mức độ khác nhau theo quy luật nhân- quả.
Trước hết cần thấy rằng xã hội dân sự với hệ thống các tổ chức xã hội của nhân
dân ở nước ta đã hình thành và phát huy nhất định vai trò của nó, nhưng, cũng
phải thừa nhận rằng, nó chưa có đầy đủ tính chất, vai trò, chức năng thật sự của xã
hội dân sự đúng nghĩa. Không ít mặt, vai trò của nó còn bị hành chính hóa, nhà
nước hóa, thụ động, chưa thể hiện được đúng thực chất xã hội dân sự. Có thể nói
nó còn sơ khai, méo mó và nhiều mặt cần cải tạo lại, cấu trúc lại, xây dựng lại.
Chúng tôi đã có một số bài viết cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác nói về đặc
trưng chung của xã hội dân sự và đặc đển hệ thống “xã hội dân sự”ở VN hiện nay.
Tất nhiên, nhận thức cho rõ đặc điểm ưu khuyết của xã hội dân sự ở VN và các
yêu cầu khách quan của xã hội dân sự hiện đại, từ đó căn cứ vào thực tế nước ta để
tạo tiền đề, điều kiện thích hợp, thúc đẩy sự hình thành tiếp tục và phát huy, phát
triển xã hội dân sự ở VN là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Tiền đề và điều kiện vừa giống nhau vừa khác nhau. Trong trình bày của chúng tôi
xin sử dụng chung. Chỉ khi thật cần thiết, chúng tôi mới phân biệt.
4-Những tiền đề, điều kiện cần tạo ra có nhiều nhưng chung quy lại như sau:
1)-Kinh tế thị trường cần có xã hội dân sự để khống chế thế lực thị trường và cũng
cần thiết để hộ trợ cho thị trường. Nhưng chính kinh tế thị trường đã chủ thể hình
thành là tiền đề kinh tế của xã hội dân sự. Các quyền và nhu cầu- lợi ích kinh tế xã
hội đa dạng của nhiều chủ thể từ đó hình thành. Nhưng thị trường không thể bao
quát và tay thế đời sống xã hội rộng lới đa dạng nhiều sắc màu của xã hội dân sự.
Lĩnh vực xã hội và lĩnh vực kinh tế dù có đan xen nhau nhưng không phải là một,
chúng là tiền dề cho nhau cùng phát triển trong một mâu thuẫn biện chứng kinh tế
-xã hội Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế dân chủ, tạo nên thể chế kinh tế tư
do kinh doanh và tự chủ tự chịu trách nhiệm theo pháp luật. Nhưng nền kinh tế
này cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội mà bản thân nó không thể tự giải quyết hết
được, phải nhờ dến xã hội dân sự và nhà nước. Và nhờ nhà nước và xã hội dân sự
mới khắc phục được sự lạm quyền của quyền lực thị trường. Không có nền kinh té
thị trường không thể có xã hội dân sự hiện đại và năng động.
2)- Nhà nước pháp quyền là lĩnh vực chính trị- pháp lý. Không c1o tác động, định

phát triển là phải có sự tham gia của cộng đồng, của người dân. Các tổ chức phi
chính phủ đến Việt Nam đều nói rằng nông thôn Việt Nam không có cộng đồng.
Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Ngày xưa, chúng ta đã có cộng đồng làng xã,
thôn xóm đấy thôi, mà đại diện là những lý trưởng, xã trưởng.
Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ - ông bí thư, chủ tịch xã, chủ tịch hợp tác
xã, bà tổ trưởng phụ nữ… Người dân chẳng được tham gia gì cả. Chúng ta cần
phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây
dựng các doanh nghiệp xã hội (social entrepreneur). Nhà nước không thu thuế đối
với họ. Dĩ nhiên, họ cũng có một mức lãi nào đó, nhưng về bản chất, họ là một hệ
thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội
dân sự. Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động
từ thiện, cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không
lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự
tham gia của xã hội, của quần chúng. Tóm lại, điều quan trọng chúng ta cần làm ở
nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự. ( GS. VS. Đào Thế Tuấn “Phải xây
dựng xã hội dân sự ở nông thôn”, TuanVietNam).
5)- Vấn đề đặt ra truớc hết ở VN là đảng cầm quyền có thật sự hiểu dúng và chấp
nhận xã hội dân sự hay không. Thực tế thấy rằng ý kiến còn khác nhau nhiều
người lãnh đạo cìn e ngạu như thờ e ngại kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường,
mặc dù báo chí, các nhà nghiên cứu đã và đang nghiên cúu và đặt ra. Nếu nghị
quyết của Đảng nêu ra và thể chế nhà nước sớm ban hành thì sẽ đẩy nhanh hình
thành xã hội dân sự. Nghĩa là không dừng lại thể cế đoàn thể quần chúng và Mặt
trận Tổ quốc VN mà phải hình thành theo đúng yêu cầu , vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của xả hội dân sự.
Khi nói đến lĩnh vực xã hội, chúng ta không chỉ xem xét cơ cấu xã hội- giai cấp-
tiầng lớp mà còn xem xét nó dưới hình thức thể chế tự quản và làm chủ của nhân
dân ngoài nhà nước, nhưng trong khuôn khổ pháp luật
Đúng là bên cạnh vai trò của nhà nước, rõ ràng là “cần phải có vai trò bổ sung của
xã hội dân sự nhằm phát huy các mặt tích cực của nhà nước, đồng thời bổ sung
cho nhà nước, giám sát và hạn chế các hành vi tư lợi, lạm dụng chức quyền của

8) Nhưng quan trọng nhất và trực tiếp là phải sữa đổi Hiến pháp hiện nay theo
hướng Hiến pháp văn minh tiến bộ thật sự mang ý nghĩa pháp quyền, đảm bảo cho
sự ra đời hợp pháp của xã hội dân sự. “Và cũng chỉ bằng một bản Hiến pháp mà
quyền lực Nhà nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân sự hợp pháp,
phi chính trị, phi lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành”.
Theo Nguyễn Minh Tuấn, gần đây chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có đặt ra
vấn đề sửa đổi Hiến pháp như một nhu cầu cấp bách[1]. Tôi cho rằng, nhu cầu này
là có thật, nhưng thay vì sửa đổi nhỏ lẻ, tại sao chúng ta không tính đến một chiến
lược lâu dài hơn là hoàn thiện một Hiến pháp tích hợp được cả những điểm tiến bộ
của các bản Hiến pháp trước đó của dân tộc, vừa phải tích hợp được những tinh
hoa của nền lập hiến các nước trên thế giới. Hiến pháp bao giờ cũng là văn bản có
hiệu lực pháp lý cao nhất ở mỗi một quốc gia, khi ra đời về nguyên lý để đảm bảo
tính pháp quyền, nó còn được đặt cao hơn cả Nhà nước, để nhằm giới hạn quyền
lực của Nhà nước. Tất cả việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải được đặt
trên cơ sở Hiến pháp. Và cũng chỉ bằng một bản Hiến pháp mà quyền lực Nhà
nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân sự hợp pháp, phi chính trị, phi
lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành. Chính xã hội dân sự đó mới là động lực
phản biện đẩy Nhà nước và xã hội cùng tiến bộ. Hiến pháp bao giờ cũng là văn
bản có hiệu lực pháp lý cao nhất ở mỗi một quốc gia, khi ra đời về nguyên lý để
đảm bảo tính pháp quyền, nó còn được đặt cao hơn cả Nhà nước, để nhằm giới hạn
quyền lực của Nhà nước. Tất cả việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải
được đặt trên cơ sở Hiến pháp. Và cũng chỉ bằng một bản Hiến pháp mà quyền lực
Nhà nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân sự hợp pháp, phi chính trị,
phi lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành. Chính xã hội dân sự đó mới là động lực
phản biện đẩy Nhà nước và xã hội cùng tiến bộ.(Nguyễn Minh Tuấn, Cộng hòa
Liên bang Đức, Lập Hiến hướng đến pháp quyền ở Việt Nam,Tạp chí Tia Sáng)
5- Đâu là lực cản của các giai đoạn của quá trình hình thành?
Rõ ràng có tiền đề từ xã hội truyền thống và văn hóa truyền thống.
Xã hội VN trong văn hóa làng xã đã hình tành nên tổ chức xã hội nhất định. Rồi
làng nghề xuất hiện. Nên mới có chuyện lệ làng phép nươc. Trong kháng chiến

- Giai đoạn từ khi đổi mới đến nay hình thành các tiền đề xây dựng , phát triển xã
hội dân sự.
- Khi có luật về Hội, về xã hội dân sự với nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp
quyền định hình.
- Thời kỳ phát triển và củng cố xã hội dân sự.
- Thời kỳ xã hội dân sự phát triển cao, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khá hoàn
chỉnh
Các tổ chức thuộc xã hội dân sự Việt Nam đã được hình thành và hoạt động, có
đóng góp thiết thực, như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Hiệp
hội ngành nghề, như Dệt may, Xuất khẩu Thuỷ sản, Hiệp hội các nhà đầu tư tài
chính, v. v… Nhiều tổ chức đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn, vận động thực hiện
các tiêu chuẩn và quy định của trách nhiệm xã hội, nhất là đối với người lao động
và người tiêu dùng. Song, do thiếu cơ sở pháp lý cần thiết, nên sự đóng góp đó còn
hạn chế. Bản thân các hiệp hội đó còn cần phải nâng cao tính chuyên nghiệp và
hiệu quả thiết thực đối với hội viên (Tiến sĩ, Lê Đăng Doanh- Viện Nghiên cứu
phát triển, Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội ở doanh nghiệp Việt Nam, Nguồn:
Tạp chí Triết học).
Nhưng nhìn chung là cò nhiều khó khăn, trở ngại, như do thiếu sự thống nhất về
nhận thức và đặc biệt còn thiếu cơ sở pháp lý nên hoạt động của nhà nước và nhất
là về xả hội dân sự chưa cao, hạn chế còn nhiều và kém hiệu quả. Lê Đăng Doanh,
cho rằng: Về luật pháp chế định các thể chế kinh tế thị trường, Việt Nam đã ban
hành luật Cạnh tranh, nhưng chưa có Luật Kiểm soát độc quyền và việc thực hiện
Luật Cạnh tranh còn có nhiều hạn chế. Các luật pháp về kế toán, kiểm toán, các
chuẩn mực đã được ban hành, nhưng việc thực hiện trong thực tế còn nhiều hạn
chế. Việt Nam đang chuẩn bị Luật về Quyền tiếp cận thông tin, song chưa có luật
về Hiệp hội và chưa chuẩn bị Luật về Vận động hành lanh. Thông tin kinh tế còn
nhiều hạn chế, nhiều số liệu chưa được công bố công khai và kịp thời. Các hoạt
động giám sát đối với ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản
còn sơ khai và cần được nhanh chóng hoàn thiện.(Tiến sĩ, Lê Đăng Doanh - Viện
Nghiên cứu phát triển, Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội ở doanh nghiệp Việt

8-Nguyễn Minh Tuấn, Cộng hòa Liên bang Đức, Lập Hiến hướng đến pháp quyền
ở Việt Nam, Tạp chí Tia Sáng, chungta.com
TS. Hồ Bá Thâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status